TRANH NGÔI BÁU
Chương 34: Cảnh ngộ thời thơ ấu
Dịch (láo): A Tĩnh
#tranhngoibau #nguyetlac
—
Tìm người mà không biết danh tính, cầm bằng mò kim đáy bể.
Biết rồi sẽ tra được rất nhanh. Lúc Phủ doãn Kinh Triệu Phủ Lưu Nghiễn trông thấy quyển sổ Lý Sách mở ra, ông ta thấy hơi kinh ngạc. Lưu Nghiễn ngẩng đầu lên khỏi chồng hồ sơ cao ngút, truy hỏi Lý Sách: “Sao Sở vương chắc được người này chính là hài cốt ở dưới lầu Ngọc Quỳnh?”
“Bởi vì người từng ở phòng số một chữ Giáp chỉ có mình ông ta là đạo sĩ. Nếu Lưu phủ doãn không tin có thể bảo nội đình đối chiếu ngư phù.”
Nội đình sớm đã tiến hành đối chiếu ngư phù nhưng kiểu gì cũng tìm không thấy. Bây giờ nếu nghi ngờ người chết là người của tiên Trần vương thì dễ hơn nhiều rồi. Quả nhiên không bao lâu sau, Thiếu doãn Kinh Triệu Phủ được phái đi đã về bẩm báo nội đình tra được rồi, ngư phù này đích thực là vật đeo trên người tiên Trần vương.
Thảo nào tìm mãi không ra.
Người mưu phản bị tru sát, nghĩ ắt vật có liên quan đến người đó đã bị niêm phong cất giữ từ lâu.
Tiên Trần vương Lý Càn chết vào năm Thiên An thứ mười hai. Hoàng đế nhân từ không giết lây bộ hạ cũ của Lý Càn. Ngay cả Trần vương phi cũng chỉ bị phạt đi giữ mộ ở Hoài Thủy. Nghe nói ban đầu là do Lý Lung bình loạn, nhờ bình loạn có công mới được phong làm Túc vương.
“Túc” nghĩa là nghiêm túc, thanh trừ, dù phong hiệu này không được chính thống nhưng lại là chấp niệm những ngày đầu của hoàng đế.
Việc có liên quan đến án mưu phản năm xưa, Lưu Nghiễn không sao bình tĩnh nổi. Ông ta vội đứng lên: “Thứ cho thần phải đi cầu kiến thánh thượng rồi mới bàn tiếp với Sở vương được.”
Lý Sách không đi cùng với Lưu Nghiễn mà lẳng lặng đợi ở Kinh Triệu Phủ, tắm chút nắng, nghe mấy tiếng chim.
Lưu Nghiễn đi rất lâu, khi về mồ hôi thấm ướt cả quan phục, vẻ mặt cũng có đôi phần hoảng hốt. “Thánh thượng lệnh cho chúng ta tra rõ nguyên nhân cái chết của Tư Mã Thừa Ân,” Ông ta hạ thấp giọng, “Hơn nữa còn lệnh cho mười sáu vệ mau thúc ngựa đuổi theo gọi Túc vương Lý Lung về.”
Lý Lung không đi nổi nữa rồi.
Nơi ở của Bách Lý Hi rất đơn sơ. Không có rường cột chạm trổ sơn màu, cũng không có tôi tớ thành bầy nô tỳ xinh đẹp. Y xuất thân khoa cử, gia thế trong sạch, có tiếng liêm khiết, đi từ chức Hiệu Thư Lang lên đến Ngự Sử Trung Thừa, chức quan chính ngũ phẩm.
Ngôn quan nghe tin tấu việc, cho dù không có chứng cớ cũng có thể tố giác quan viên. Nhưng Bách Lý Hi chưa từng khinh suất, y tuân thủ trách nhiệm giữ vững kỷ cương, bao giờ cũng đòi phải có chứng cứ xác thực mới lên tiếng can gián. Thế nên chỉ cần Bách Lý Hi tố cáo ai thì tám chín phần mười quan viên ấy nhất định bị định tội giam giữ. Triều thần xem y như cái gai trong mắt, Bách Lý Hi cũng không lấy làm điều. Bởi thánh thượng xem trọng y, thậm chí cho y làm thầy của nhị hoàng tử.
Hôm nay sau khi Bách Lý Hi về nhà, chỉ ăn mỗi một chén cháo mặn rồi liền đến thư phòng làm việc. Không bao lâu sau có người gõ cửa, Bách Lý Hi nghe ra ám hiệu hẹn trước bèn đích thân mở cửa. Bên ngoài là một gã đàn ông tráng kiện, đầu đội nón lá, hành lễ với Bách Lý Hi rồi trình thư lên. “Điện hạ mọi việc ổn thỏa, xin thầy yên tâm.” Người đàn ông cung kính nói.
Bách Lý Hi xoay người ngồi xuống đọc thư, sau đó lập tức viết thư trả lời giao cho người đó. “Đi đi,” Giọng ông ta nhẹ nhõm, “Mọi việc trong kinh đều được như ý.”
“Nếu như mọi việc đều được như ý thì tốt quá rồi.” Diệp phu nhân nghiêng mình tựa ghế, thở dài, “Lúc đó cô mẫu con đang hoài thai, lão phu nhân vui đến nỗi ở nhà may giày con hổ, cuối cùng giày còn chưa may xong thì đã có chuyện xảy ra. Tổ mẫu các con ngã bệnh lìa đời, chỉ thương đứa bé cũng không còn nữa.”
Vì đều là những người mẹ mất con mà Diệp Nhu cảm thông sâu sắc, nước mắt lưng tròng.
Diệp Kiều hừng hực khí thế chạy về hỏi chuyện, lúc này quạt mạnh cái quạt xương bồ nói: “Chuyện này có hiểu lầm gì không? Con nghe nói phủ Trần vương có một vị đạo sĩ tên Tư Mã Thừa Ân, còn là bạn của phụ thân nữa.”
Nhắc đến Tư Mã Thừa Ân, Diệp phu nhân mỉm cười. “Ông ta với phụ thân con xấp xỉ tuổi nhau, tính khí nóng nảy nhưng làm việc cũng coi như thỏa đáng. Ông ta cho rằng người tu tiên phải nhập thế trải nghiệm thế nên liền vào phủ Trần vương. Trần vương tin tưởng ông ta, Tư Mã Thừa Ân mới thường hay đi đi về về giữa Thắng châu với kinh thành giúp Trần vương đưa tin bàn việc. Ông ta quen thuộc đường xá lại không sợ tặc sợ cướp, nhét một cái bánh vào vạt áo là có thể đi được ba trăm dặm. Sau này Trần vương tự sát, cũng không biết ông ta đã đến nơi nào.”
Diệp Kiều bỏ chiếc quạt xương bồ xuống, không nói đến chuyện hài cốt dưới lầu Ngọc Quỳnh. Nàng vốn lo người ấy là phụ thân, biết không phải rồi thì nhẹ nhõm, bây giờ nghe mẫu thân kể về Tư Mã Thừa Ân lại bất giác cảm thấy tiếc thương. Một đạo trưởng tiêu dao tự tại thuở đầu, bây giờ mình khoác áo lông mà chưa thành tiên được, hơn nữa còn bị chôn dưới nền đất lầu Ngọc Quỳnh, mười năm mới thấy ánh mặt trời. Nàng trông thấy hài cốt của Tư Mã Thừa Ân trong phòng nghiệm thi, hài cốt ngã màu xám xịt nhưng không làm nàng cảm thấy u ám đáng sợ mà chỉ thấy buồn bã thê lương.
Rốt cuộc, đạo pháp chưa thành, không thể thành tiên.
Lý trí nói cho Diệp Kiều biết không nên lo đến mấy chuyện này. Người đã chết, tra ra thì có tác dụng gì. Lỡ đâu bất lợi cho phủ Quốc Công thì sao? Đến tình cảm ảm đảm như bây giờ e rằng cũng không duy trì được.
Nhưng vì tình cảm mà nàng phải rời khỏi nhà, nói tin này cho Lý Sách nghe. “Tư Mã Thừa Ân,” Diệp Kiều nói, “Là người phụ trách đưa thư.”
Lý Sách đang lật giở hồ sơ vụ án, nghe thế gật đầu nói: “Vậy thì có thể hiểu được tại sao trên eo ông ta có đeo ngư phù của tiên Trần vương.”
Ngư phù là bằng chứng có thể ra vào cung cấm, người đeo ngư phù càng dễ xin gặp hoàng đế. Nhưng Tư Mã Thừa Ân không gặp được hoàng đế.
Tại sao ông ta lại đến lầu Ngọc Quỳnh?
Lý Sách ngẩng đầu nhìn vòm trời giăng kín mây mù, từ tốn nói: “Ông ta đi gặp người khác, một người mà trước đây có thể dẫn ông ta vào cung.” Nhưng lần ấy, người đó giết chết ông ta ở lầu Ngọc Quỳnh, ngay cả hài cốt cũng bị niêm phong dưới nền đất, che giấu vết tích ông ta từng đến kinh thành.
“Là ai?” Diệp Kiều hỏi.
Lý Sách nhìn nàng, chần chờ không đáp.
Diệp Kiều đến rất gấp gáp, ngay cả trà mà chàng rót cho cũng chưa kịp uống. Gò má trắng nõn của nàng tựa như một cánh hoa đào, với màu hồng được phớt không đều nhau, kiều diễm hoạt bát, cũng có phần lúng túng lo âu.
Nhất định Diệp Kiều rất lo chuyện này có liên quan đến phủ An Quốc Công.
Nàng vốn nên sống một cuộc sống vô lo vô nghĩ hiên ngang tự tại, cũng tại bị chàng liên lụy nên mới vất vả thế này.
Nghĩ đến đây, Lý Sách cố tình tỏ ra nhẹ nhõm nói: “Kiều Kiều yên tâm, không liên quan đến phủ Quốc Công đâu. Nếu chuyện này tra được rõ ràng, có khi lại có lợi nữa.”
Diệp Kiều cười nhăn nhó lắc đầu, ngồi đối diện Lý Sách. “Rốt cuộc,” Nàng hỏi, “Sao Tư Tư biết lắm chuyện thế này?”
Mười hai năm trước, Lý Sách cũng chỉ mới tám tuổi thôi mà. Một đứa bé tám tuổi có thể nhớ được gì chứ.
“Năm đó, ta đổ bệnh.”
Lý Sách lại đưa trà cho Diệp Kiều, kể lại chuyện khi ấy cho Diệp Kiều nghe.
Đứa bé tám tuổi đó đã đổ bệnh một năm rồi.
Năm bảy tuổi, Lý Sách rơi xuống hang trộm mộ, kẹt lại trong cổ mộ tròn trĩnh chín ngày mới có thể thoát ra. Trong chín ngày ấy, Lý Sách vì để sống tiếp mà ăn không biết bao nhiêu là vật. Nào dây leo trên vách động, nước rượu để cúng tế, trùng kiến rớt xuống hang động… Lý Sách bất chấp tất cả để được sống, những tên trộm mộ càng muốn sống. Có một tên trộm mộ ngất đi hai ngày rồi tỉnh, toan giết Lý Sách mổ bụng. Hắn rút một thanh chủy thủ trên người xác chết ra đâm cho Lý Sách một đao. Trên đao có độc, sau đó thái y nói, đó là độc xác chết rất khó giải. Nghe nói người trúng phải độc xác chết da thịt sẽ thối rửa, người cứng đờ đi cho đến khi mất sạch lý trí, phát điên mà chết. Nhưng tình hình của Lý Sách tốt hơn một tí. Chàng chỉ bị yếu người, phải thường xuyên tắm nắng, ho khan mất sức, khó thể đứng lên.
Chịu được đến năm tám tuổi, phu tử của Lý Sách nghe nói có một đạo sĩ ở núi Chung Nam luyện được một loại đan dược dùng “ngũ kim bát thạch” [1] phối với chu sa, có thể xua hàn trị được độc xác chết, có khi giúp bệnh tình Lý Sách chuyển biến khá hơn.
Tư Mã Thừa Ân chính là đạo sĩ núi Chung Nam nhập thế.
Người chăm sóc Lý Sách ở hoàng lăng rất ít, thế nên chỉ đành phái một nội thị đi tìm. Nội thị đến Thắng châu trước, sau mới biết Tư Mã Thừa Ân vừa mới xuất phát đến kinh thành, rồi lại ngày đêm không nghỉ đuổi đến kinh thành, cuối cùng gặp được ông ta ở chợ tây. Tư Mã Thừa Ân đang vội vã đến lầu Ngọc Quỳnh bèn bảo nội thị chờ ở ngoài lầu, bảo xong việc cần làm rồi sẽ dẫn nội thị đi lấy đan dược. Nhưng nội thị chờ đến giờ giới nghiêm mà cũng không thấy Tư Mã Thừa Ân ra ngoài. Khi trở về, nội thị như chực khóc tới nơi.
Tư Mã Thừa Ân mất tích, Trần vương tạo phản, triều đình loạn cào cào lên, thái y cũng không chịu đến. Hi vọng bị dập tắt, hoàng lăng nơi Lý Sách sinh sống thoắt chốc nặng nề mùi vị chết chóc.
Chuyện đã qua lâu vậy rồi mà Lý Sách còn nhớ được dáng vẻ tâm như tro tàn của mình lúc đó. Thế nên Tư Mã Thừa Ân phải mất tích ở lầu Ngọc Quỳnh, mất tích trước thời điểm Trần vương tạo phản.
Sau khi quật được hài cốt lên, nhìn thấy đạo bào còn chưa mục rữa hết, Lý Sách rất dễ đoán ra thân phận của người chết.
“Cho nên,” Nói nhiều như vậy, Lý Sách cảm thấy môi mình đã hơi khô, chàng thoải mái cười nói, “Lúc nhỏ ta thê thảm như vậy, Kiều Kiều có muốn bù đắp lại chút nào cho ta không?”
Từ khi Lý Sách kể chuyện mình phải ăn sâu kiến, sắc mặt Diệp Kiều đã rất khó coi. Đến khi nói tới độc xác chết, nàng cứ cọ tới cọ lui mũi hài dưới đất. Nhắc đến chuyện Tư Mã Thừa Ân mất tích, Diệp Kiều mặt ủ mày chau, sắp rớt nước mắt tới nơi rồi.
Thế nên Lý Sách trêu nàng không có tác dụng.
Diệp Kiều bĩu môi nhìn chàng, đôi mắt hiện rõ xót xa. “Tư Tư,” Nàng híp đôi mắt hoa đào, gắng gượng cười nói, “Đói không, bù cho anh một bữa ăn ngon nhé.”
“Có rượu không?” Lý Sách hỏi.
“Có rượu, có thịt, có ca múa nữa,” Diệp Kiều đứng dậy, “Nếu Tư Tư muốn xem vũ cơ để bụng trần múa, em có thể vung thêm tí tiền bảo họ lộ eo nhiều hơn bình thường một tí. Nếu gặp được cô nàng nào hào phóng chút thì bảo nàng ta ngồi lên đùi anh luôn.” Tóm lại, phải bù đắp hết những gì Lý Sách còn thiếu, chưa được hưởng thụ qua bao giờ.
Không biết từ lúc nào, Lý Cảnh đã rảo bước vào. Chắc chắn gã đã nghe thấy lời Diệp Kiều nói nên lúc này gã mới nhìn Lý Sách, tỏ ra vô cùng hâm mộ. “Anh cũng đi, dẫn anh đi với, dẫn anh đi với.”
Lý Cảnh kích động xoay mình, nhất định đòi đi theo. Rồi lại lớn tiếng nói với Lý Sách: “Chú đã cho nàng ta uống bùa mê thuốc lú gì? Cho anh một ít, chị dâu chú sẽ cần.”
Người phụ nữ chủ động bảo vũ cơ ngồi lên đùi tình lang, hiếm thấy tới cỡ nào.
Diệp Kiều rảo bước ra ngoài, lúc băng qua người Lý Cảnh thì đẩy gã một cái. “Tránh ra!” Nàng hung hăng nói, “Anh ăn sâu kiến bao giờ chưa?”
Lý Cảnh giật mình trốn xa hai trượng, mặt mũi trắng bệch.
Liên quan gì đến sâu kiến hả?
Còn Lý Sách ngoan ngoãn đi theo Diệp Kiều, nháy nháy mắt với Lý Cảnh.
Diệp Kiều cúi đầu đi về phía trước, hai mắt rưng rưng.
Đúng là quá đáng thương mà, tức chết người ta.
—
[1] Ngũ kim bát thạch: Đề cập đến lý thuyết trong thuật luyện kim của Đạo giáo; dùng các kim loại và đá tương ứng với ngũ hành bát quái. Năm kim loại bao gồm vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc. Bát thạch là chu sa, hùng hoàng, thạch anh, lưu huỳnh, thư hoàng, vân mẫu (hay mica), không thanh (các loại khoáng sản chứa đồng), nhung diêm (khoáng sản kết tinh các halogen), tiêu thạch (tức kali nitrat). Thực ra kiến thức này mấy chương sau có nhắc.

