MỘT NGÀY NHƯ THỂ BA THU
CHƯƠNG 13: Minh Lượng – 13.3: Lại hai mươi năm sau
Dịch (láo): A Tĩnh
#nhatnhattamthu #motngaynhuthebathu
—
(8)
Hai ngày sau, Trần Truyền Khuê trông coi kho dầu về đến Diên Tân. Minh Lượng và những người họ Trần đời sau tiến hành dời hơn hai trăm mộ phần của tiền nhân hai mươi sáu chi hệ họ Trần trong nghĩa trang ra bờ sông Hoàng Hà. Minh Lượng trồng độc mấy cây bách ở bốn gốc xung quanh mộ phần ông nội bà nội, tưới nước lên, lại quỳ xuống trước mộ vái lạy mấy cái, xem như xong chuyện này. Sau khi đến Diên Tân, Minh Lượng vốn còn muốn đến bái tế mộ của Anh Đào mẹ mình hoặc dời luôn mộ của mẹ mình đến một nơi tốt đẹp hơn; nhưng năm đó mẹ treo cổ chết, không được vào mộ tổ mà phải chôn ở bãi tha ma; bãi tha ma vốn nằm ở phía nam huyện thành, sau này huyện thành mở rộng, chỗ vốn dĩ là bãi tha ma đã bị san bằng rồi xây lên mấy tòa cao ốc, Anh Đào đã chết không có chỗ chôn; Minh Lượng muốn bái tế cũng không biết ở đâu mà bái; muốn dời mộ cho mẹ cũng không cách gì dời được; Minh Lượng chỉ đành bỏ cuộc.
Trưa hôm đó, Minh Lượng rời khỏi Diên Tân, ngồi tàu hỏa về Tây An. Đến nhà rồi thì trời cũng đã tối, Mã Tiểu Manh hỏi Minh Lượng rất nhiều chuyện, Minh Lượng đều trả lời cô từng chuyện một. Nói là từng chuyện một nhưng vẫn có chuyện không nói; ví dụ như, không nói chuyện mơ thấy Hoa Nhị Nương. Chẳng qua nói đi cũng phải nói lại, chuyện Mã Tiểu Manh hỏi đều là chuyện ban ngày, không hề hỏi chuyện trong mơ.
Cả đêm không nói thêm gì. Sáng sớm ngày tiếp theo, Minh Lượng vừa đến quán Thiên Bồng Nguyên Soái gốc thì con trai Tôn Nhị Hóa đến, gặp liền hỏi ngay: “Chú ơi, ba cháu bảo chú đến một bận.”
“Có chuyện gì?”
“Ba nghe nói chú vừa đi Diên Tân một chuyến nên muốn hỏi chú chuyện toán mệnh cho mình.”
Minh Lượng ngẩn người: “Sao ổng biết chú mới đi Diên Tân một chuyến?”
“Cháu nói mà. Mấy ngày trước cháu đến ăn giò heo với bạn, người trong tiệm nói cho cháu biết đó.”
Nhưng Minh Lượng có phần do dự không muốn đến gặp Tôn Nhị Hóa. Một là chuyện ông ta đi Diên Tân không phải giả, nhưng ông ta đến Diên Tân thì ông Đổng toán mệnh đã qua đời rồi, hoàn toàn không thể toán mệnh cho Tôn Nhị Hóa; Tôn Nhị Hóa hỏi ông ta chuyện này là chuyện của hơn một tháng trước, lúc ông ta đi Diên Tân lại quên sạch sẽ chuyện này luôn, tóc của Tôn Nhị Hóa đến nay còn ở trong ổ chó của con Tôn Nhị Hóa kìa, chuyện này lần lữa mãi không làm, nói ra thì Minh Lượng cũng có phần trách nhiệm; ngoài ra ông ta vừa mới từ Diên Tân trở về, trong tiệm còn rất nhiều sự vụ cần ông xử lý, bèn nói: “Chú mới về, còn một đống chuyện cần xử lý, hai ngày nữa mới đi được không?”
“Không được. Chú không đi Diên Tân thì thôi nhưng đã đi Diên Tân rồi thì không được, ba cháu sắp điên rồi.”
Minh Lượng chỉ đành đi theo con trai của Tôn Nhị Hóa về nhà. Tôn Nhị Hóa vừa thấy Minh Lượng liền hỏi: “Tứ Hải, mày đến Diên Tân vì chuyện của tao đúng không?”
Minh Lượng đi Diên Tân không hề liên quan gì đến Tôn Nhị Hóa, nhưng chuyện đến nước này, chỉ đành nói xạo: “Đúng là vì chuyện của ông.”
“Mày bảo ông Đổng phát trực tiếp chưa?”
Minh Lượng chỉ đành thuận đó bịa tiếp: “Phát rồi.”
“Ông Đổng ra dấu thế nào, nói kiếp sau tao là người thế nào?”
“Ông Đổng ra dấu, ý chỉ kiếp sau ông sẽ là một người tốt, một đại thiện nhân.”
“Là sao?”
“Cả đời ăn chay niệm phật, hơn hai mươi tuổi đi tu.”
Tôn Nhị Hóa thẩn thờ: “Ông Đổng nói thế thật à?”
“Không thể thật hơn.”
Tôn Nhị Hóa lắc đầu như trống bỏi: “Ông Đổng đoán thế sai rồi.”
“Sao nói vậy?”
“Đó không phải nguyện vọng của tao.”
“Chứ nguyện vọng của ông là gì?”
“Kiếp sau, hoặc làm người có quyền, hoặc làm người có tiền.”
Minh Lượng ‘phụt’ cười thành tiếng, Tôn Nhị Hóa nhìn thì lú, ai ngờ bụng dạ còn chứa dã tâm như này. Minh Lượng: “Ông cần quyền với tiền làm gì?”
“Nguyện vọng xưa nay chứ gì, sống như một con người đó.” Tôn Nhị Hóa run tay nói, “Nói chuyện trước mắt thôi này, nhà này ngoại trừ muỗi biết bay ra chỉ còn thừa lại mỗi mình tao; nếu như tao có tiền có quyền, còn có chuyện không ai đến thăm tao chắc?”
“Chả phải có tôi đến thăm ông à?”
Tôn Nhị Hóa: “Tứ Hải, trên đời có người có lương tâm giống như mày vậy.” Lại nói, “Nếu như tao là người có tiền có quyền, tuyệt đối không bạc đãi mày.”
Minh Lượng lại ‘phụt’ cười thành tiếng. Lúc này nhớ đến cha của Quách Tử Khải là Quách Bảo Thần, kiếp trước làm thủ tướng dân quốc, kiếp này quét đường ở Diên Tân; bèn kể chuyện này cho Tôn Nhị Hóa nghe, rằng: “Không có tiền có quyền cũng tốt, kiếp này có tiền có quyền, kiếp sau phải ra đại lộ quét rác.”
“Kiếp này sống cho thống khoái đủ rồi, cần gì biết kiếp sau?” Tôn Nhị Hóa lại nói, “Sống kiếp này không nói chuyện kiếp sau.”
Minh Lượng muốn nói, bây giờ ông chả phải đang sống kiếp này nói chuyện kiếp sau còn gì? Nhưng ông ta không nói vậy mà nói: “Ổng Đổng tính ra thế, ý trời khó cãi.”
Tôn Nhị Hóa vỗ lên đầu mình, thở dài ngao ngán: “Kiểu gì cũng không ngờ rằng, kiếp sau mình lại là hòa thượng.”
Chập tối hôm đó, Minh Lượng nhận được cuộc gọi từ đồn cảnh sát ngoại ô thành nam, nói con trai ông là Trần Hồng Chí đánh lộn với người ta, làm người ta bị thương, bảo ông mau đến đồn cảnh sát chờ xử lý. Hồi con trai còn nhỏ, Minh Lượng và Mã Tiểu Manh vừa mới mở quán Thiên Bồng Nguyên Soái đầu tiên, tiệm là thuê của người ta, nhà cũng thuê của người ta; chỗ nào cũng không đứng vững được, hai người túng thiếu, chuyện ăn mặc của Trần Hồng Chí đều thua kém rất nhiều đứa trẻ khác trong thành Tây An; đến mùa đông, áo bông và giày bông của Hồng Chí không phải ra tiệm mua về mà là Mã Tiểu Manh may từng đường kim mũi chỉ dưới đèn sau khi quán Thiên Bồng Nguyên Soái đóng cửa. Nhưng bởi vì nhà mở quán ăn, chuyện ăn uống Hồng Chí không phải chịu thiệt, ngày nào cũng ăn thịt. Minh Lượng nhớ hồi mình ba đến sáu tuổi ở kho đầu máy Diên Tân sống với người cha Trần Trường Kiệt ở ký túc xá một người, Trần Trường Kiệt theo xe, lúc đó Minh Lượng chỉ mua được mấy món không có thịt, không mua được món nào có thịt. Lúc Hồng Chí học tiểu học, so bì chuyện ăn mặc với bạn học, Minh Lượng thường đạp vào mông thằng bé: “Đừng kiếm chuyện nữa, con sống tốt hơn ba hồi nhỏ lắm rồi.”
Lúc con trai lên cấp 2 thì bắt đầu ở nội trú. Lúc đó chuyện làm ăn của Thiên Bồng Nguyên Soái tốt lên, mở thêm mấy chi nhánh, chuyện ăn mặc của con trai cũng không khác biệt những đứa trẻ khác trong thành nhiều; thậm chí, ăn mặc còn tốt hơn những đứa trẻ khác trong thành một chút.
Minh Lượng vội lái xe chạy đến đồn cảnh sát. Trong phòng trực của đồn cảnh sát có một chú cảnh sát hơn ba mươi tuổi ngồi sau bàn làm việc; trước mặt chú cảnh sát, một bên là Hồng Chí ngồi trên một cái ghế, trên cái ghế khác là một người đàn ông đã hơn bốn mươi tuổi; thấy Minh Lượng bước vào, người đàn ông hơn bốn mươi tuổi đó hằn học nhìn xoáy Minh Lượng một cái.
Cảnh sát: “Anh là phụ huynh của Trần Hồng Chí à?”
Minh Lượng gật đầu, rồi trỏ vào Hồng Chí: “Nó làm gì vậy?”
Cảnh sát nói, trưa nay, trường học có tổ chức thi đá banh; vì một quả đá phạt, Hồng Chí bắt đầu đánh nhau với đối phương, làm gãy ba cánh răng cửa của người ta; người ta đến bệnh viện kiểm tra, còn chấn thương sọ não nhẹ nữa. Cảnh sát nói với Minh Lượng: “Biết rõ hậu quả chưa, chấn thương nhẹ thôi, nhưng cũng đủ tạm giam rồi.” Lại nói, “Phụ huynh hai nhà đều đến rồi, vậy tôi hòa giải cho hai nhà trước; nếu hòa giải không thành thì chúng ta cứ xử theo pháp luật nhé.”
Minh Lượng đã biết, người đàn ông hơn bốn mươi tuổi vừa nhìn xoáy vào ông ta chính là phụ huynh của em học sinh kia. Minh Lượng vội nói: “Đồng ý hòa giải, đồng ý hòa giải.”
Người đàn ông bốn mươi tuổi đó nói: “Con trai nhà mấy người đánh con nhà chúng tôi, đương nhiên ông phải chịu hòa giải rồi.”
Minh Lượng: “Đánh người quả thực không đúng, nhưng chuyện đã vậy rồi xin ông lượng thứ cho, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức bù đắp.”
“Bù đắp kiểu gì?”
“Con trai nhà ông bị đánh gãy răng, chúng tôi bồi thường, ông đưa con đến bệnh viện nha tốt nhất trồng lại mấy cái răng đã gãy; kĩ thuật trồng răng bây giờ tân tiến lắm; năm ngoái tôi mới trồng một cây, đến giờ vẫn tốt như răng thật; còn về việc chấn thương sọ não nhẹ, chúng tôi cũng sẽ tìm bệnh viện tốt nhất và bác sĩ tốt nhất điều trị cho con ông; toàn bộ viện phí thuốc thang tôi trả hết.”
“Thế là xong rồi à?”
Minh Lượng: “Ông thấy còn cần bồi thường thêm bao nhiêu nữa, cứ nói con số đi.”
Phụ huynh nhà đối phương: “Một trăm nghìn tệ nữa.”
Hồng Chí đứng dậy toan nói gì đó, Minh Lượng lại ấn nó xuống ghế, nói với phụ huynh nhà kia: “Được, hai chúng ta trao đổi WeChat, về rồi tôi chuyển cho ông.”
Phụ huynh nhà đối phương: “Cho dù làm vậy chúng tôi cũng thiệt thòi rất nhiều, ba cái răng không nói, đầu óc không biết có chữa được không.”
Cảnh sát nói với phụ huynh nhà kia: “Ông Lý này, thái độ của người ta như này cũng coi như không tệ rồi, trẻ con học cấp 3 rất dễ bốc đồng, chúng ta đều từng trải qua khoảng thời gian ấy mà, người ta nói bồi thường là bồi thường, ông cũng đừng được nước lấn tới nữa.”
Phụ huynh nhà đối phương lại trợn mắt hằn học nhìn Minh Lượng: “Không phải nói ông mà thằng con ông đó, lo dạy lại nó đi.”
Minh Lượng vội nói: “Sẽ dạy, sẽ dạy.”
Đối phương ký vào biên bản hòa giải, Minh Lượng và nhà ấy trao đổi WeChat với nhau, Minh Lượng đưa Hồng Chí rời khỏi đồn cảnh sát, Hồng Chí sốt ruột nói với Minh Lượng: “Sao ba nói đưa ông ta một trăm nghìn tệ là đưa một trăm nghìn tệ liền vậy? Có khác gì tống tiền đâu?”
Minh Lượng: “Tống tiền thì tống tiền, chứ con muốn bị tạm giam trong đồn thật à? Một lần bị tạm giam sẽ để lại vết nhơ trên người, cả đời tẩy không sạch đâu.” Rồi nói, “Không phải nói con chứ, đánh nhau thì đánh nhau, sao lại ra tay ác vậy?”
“Con không đánh nó.”
“Thế ba cái răng cửa của người ta là tự gãy hay gì? Chấn thương sọ não cũng là tự đụng hả?”
“Con chỉ cụng đầu nó một cái.”
Cụng đầu một cái mà có thể làm đối phương gẫy hết ba cái răng cửa, làm đối phương chấn thương sọ não, Minh Lượng thừ người: “Đầu con bằng sắt à?”
“Không ngờ, nó chịu không nổi cú đó.”
“Rồi tại sao con lại lấy đầu cụng người ta?”
Đội tụi nó bị bỏ sau ba trái, nó sốt ruột đỏ mắt, con lùa banh xông vào vùng cấm, nó liền duỗi chân làm con ngã sóng soài; con bị đá phạt, nó bước qua nhoài người lên mặt con nói: Mẹ mày ngày xưa làm gà.
Minh Lượng thừ người. Mã Tiểu Manh từng làm gà là chuyện của hơn hai mươi năm trước rồi, chính vì chuyện này mà bọn họ mới từ Diên Tân đến Tây An; hai mươi năm qua rồi, bọn họ tưởng rằng chuyện này đã trở thành quá khứ, Minh Lượng và Mã Tiểu Manh mới khôi phục liên lạc với người dân quê nhà; không ngờ qua hơn hai mươi năm rồi mà chuyện này lại bị khơi ra, từ Diên Tân truyền đến Tây An, giờ truyền đến trường trung học của con trai luôn rồi. Minh Lượng căm phẫn nói: “Thằng khốn này, không chỉ phải cụng nó mà còn phải xé toác miệng nó luôn.”
Lúc này Hồng Chí hỏi: “Ba ơi, hồi trẻ mẹ từng làm gà thật không?”
Minh Lượng vội nói: “Hồi mẹ con mười chín tuổi đã nấu giò heo ở quán Thiên Bồng Nguyên Soái với ba ở Diên Tân, làm gà chỗ nào?”
Hồng Chí: “Lần sau nó mà nói nữa, con xé rách miệng nó.”
Minh Lượng: “Đúng.” Sau đó lại nói, “Nếu nó nói nữa thì đánh thêm trận nữa là được, đừng xé rách miệng nó thật, làm vậy ngồi tù chắc luôn đó.”
Chuyện Mã Tiểu Manh làm gà bị khơi ra khiến Minh Lượng có phần lo lắng; nhưng Minh Lượng lại nghĩ, cho dù có bị khơi ra cũng không giống như hồi hai mươi năm trước xảy ra chuyện này nữa rồi; năm đó là sự thật, còn hơn hai mươi năm sau chỉ là lời đồn; năm đó có tờ quảng cáo ở Bắc Kinh làm chứng, bây giờ chỉ nói miệng thôi; năm đó Tôn Nhị Hóa giáp mặt đòi ép Mã Tiểu Manh, bây giờ không còn ai dám giáp mặt nói chuyện này nữa, chẳng qua cũng chỉ nhại lại tin đồn sau lưng thôi; chờ đến khi bọn họ nhai tới nhai lui chán rồi, tự khắc không nhai nữa. Thế nên cũng nhẹ nhõm hơn một chút, bèn nói với Hồng Chí: “Chuyện này đừng nói cho mẹ con biết đấy.”
Hồng Chí: “Con biết.”
Tối đó, ăn cơm tối xong, Minh Lượng ngồi trên ghế sofa xem TV một hồi, lại xem điện thoại một hồi, cảm thấy buồn ngủ bèn trở về phòng mình, cởi y phục ra nằm xuống, chuẩn bị tắt đèn thì Mã Tiểu Manh còn chưa thay đồ ngủ bất chợt xông vào: “Xảy ra chuyện lớn rồi.”
Minh Lượng tưởng đâu là chuyện hồi đó của Mã Tiểu Manh truyền đến Tây An đã bị Mã Tiểu Manh nghe thấy, thế nên giả vờ trấn định hỏi: “Mặc kệ là chuyện gì, cứ binh đến tướng đỡ, nước nổi thì đắp đê, có gì từ từ nói.”
“Ông còn nhớ Hương Tú không?”
Minh Lượng thở phào, hóa ra chuyện Mã Tiểu Manh nói không phải chuyện của mình mà là chuyện của người khác; cái cô Hương Tú này, đương nhiên Minh Lượng nhớ, chính là người rải tờ quảng cáo Mã Tiểu Manh làm gà ở Bắc Kinh hơn hai mươi năm trước. Trước đó không lâu, cô ta còn muốn dẫn theo một người bạn hỏng mặt đến nhà Minh Lượng; bởi vì e ngại người bạn bị hỏng mặt này, bọn họ đã từ chối; bèn nói: “Cô ta sao?”
“Cô ta chết rồi.”
Minh Lượng vô cùng kinh ngạc, ngồi bật dậy: “Chết rồi à? Sao chết?”
Mã Tiểu Manh toàn thân run rẩy: “Ba tháng trước, cô ta gọi điện thoại nói muốn dẫn một người bạn bị hỏng mặt đến nhà chúng ta, tôi không cho cô ta vào, ông còn nhớ chứ?”
“Nhớ, chuyện này bà có bàn với tôi mà.”
“Hôm nay tôi mới biết, người bạn bị hỏng mặt cô ta nói chính là cô ta; lúc đó cô ta chỉ dò ý tôi, xem tôi có cho một người bị hỏng mặt như cô ta vào nhà không thôi.”
Minh Lượng vỗ đầu, cũng hiểu ra dụng ý ban đầu của Hương Tú, hỏi: “Nói vậy là bây giờ cô ta chết rồi, là do bệnh phát tác à?”
“Bệnh thì không phát, nhưng cô ta treo cổ chết ở trại bò sữa Ulanqab rồi.” Mã Tiểu Manh lại nói, “Phàm là người treo cổ đều là người tuyệt vọng về cuộc sống của mình, năm xưa chẳng phải tôi cũng treo cổ à? Nếu như lúc đó tôi đồng ý cho cô ta đến nhà mình, để cổ ở lại nhà ta mấy ngày, chúng tôi nói chuyện hàn huyên, không chừng tâm trạng của cổ nhẹ nhõm hơn, cũng không đến nổi thắt cổ.”
Minh Lượng không có gì để nói bởi vì ông ta cảm thấy Mã Tiểu Manh nói cũng có lý; năm xưa khi Mã Tiểu Manh treo cổ may mà Minh Lượng cứu kịp rồi đưa Mã Tiểu Manh đến Tây An.
Mã Tiểu Manh: “Vừa rồi người cô ở Diên Tân gọi điện cho tôi báo tôi biết tin này, phản ứng đầu tiên của tôi chính là Hương Tú bị tôi hại chết.” Vừa nói vừa khóc, “Chúng tôi từng có thù với nhau, cô ta còn gọi điện cho tôi, nói muốn đến nhà ta, ông nghĩ xem, cô ta sống trên đời đã bất lực thế nào.” Rồi nói, “Lúc đó, sao tôi không nghĩ đến chuyện này cơ chứ?” Lại nói, “Minh Lượng, có thể nói Hương Tú bị tôi giết chết không?”
Minh Lượng hồi lâu không nói, bởi vì năm đó người mẹ Anh Đào của ông ta treo cổ, ông ta cũng luôn tự trách mình rằng cái chết của mẹ có liên quan đến việc hôm đó ông ta ra ngoài uống nước ngọt; trong vườn hoa bệnh viện cho viên chức kho đầu máy Vũ Hán, Trần Trường Kiệt cũng cảm thấy là ông ta giết chết Anh Đào; nếu như nói cái chết của Hương Tú có liên quan đến Mã Tiểu Manh, lúc đó Hương Tú muốn đến nhà bọn họ, Mã Tiểu Manh có bàn với Minh Lượng, là bọn họ cùng từ chối Hương Tú, nói ra thì Minh Lượng cũng có phần trách nhiệm; còn nhớ hơn hai mươi năm trước sau cái ngày Hương Tú rải tờ quảng cáo của Mã Tiểu Manh khắp Diên Tân, Minh Lượng từng đến nhà Hương Tú tìm cô ta nhưng Hương Tú đã rời khỏi Diên Tân rồi, ông ta trông thấy bức ảnh Hương Tú được lồng kính treo trên tường, Hương Tú mặt tròn, mắt to, nhìn vào ống kính cười, lúc cười, có thể thấy hai lúm đồng tiền trên má. Nhưng Minh Lượng lại an ủi Mã Tiểu Manh: “Chuyện đến nước này, hờn giận bản thân cũng vô dụng, ai bảo lúc đó cô ta không nói rõ ra.”
Mã Tiểu Manh vừa khóc vừa nói: “Tôi thấy lòng buồn bực quá, hôm nay tôi ngủ chỗ ông nhé.”
Minh Lượng: “Ngủ thôi, không nghĩ chuyện khác nhé.” Lại nói, “Cũng tại tôi, lúc đó không nghĩ nhiều như vậy, không bảo bà hỏi rõ ràng.”
Sau khi Mã Tiểu Manh nằm sau lưng Minh Lượng ngủ rồi, Minh Lượng vẫn còn mở mắt suy tư, chuyện đời khó đoán, rồi lại thở dài một tiếng.
Thoắt chốc đã hai tháng qua đi. Hơn ba giờ trưa hôm ấy, sau khi khách đến ăn trưa lục tục rời khỏi quán Thiên Bồng Nguyên Soái, khách đến ăn tối đại đa số đều hơn năm giờ mới vào. Nhân khoảng thời gian hai tiếng đồng hồ rảnh rỗi, đầu bếp và phục vụ trong quán đều chạy đến các cửa hàng gần tháp Đại Nhạn dạo loanh quanh. Còn nhớ khi xưa Minh Lượng và Mã Tiểu Manh còn làm công tại quán Thiên Bồng Nguyên Soái ở Diên Tân, Minh Lượng rất thích ra bờ sông sau quán thổi sáo nhân lúc nghỉ giải lao. Trong tiệm vắng hoe, thấy bên ngoài mặt trời còn sáng rỡ, Minh Lượng pha một ấm trà ra ngồi ở chiếc bàn ngoài cửa tiệm, vừa uống trà vừa tắm nắng, vừa ngắm người qua kẻ lại trên đường. Dần dần, Minh Lượng thấy hơi buồn ngủ, bèn dựa lưng vào ghế muốn đánh một giấc, chính ngay lúc này trông thấy một người vai khiêng một cái túi dệt, sải bước vào trong. Minh Lượng tưởng rằng đây là một người nhà quê vừa lên thành thị làm công, cũng không để ý, ai ngờ này người nhìn quanh tứ phía, tìm đến trước cửa quán của Minh Lượng, trông thấy tấm bảng hiệu Thiên Bồng Nguyên Soái thì đặt cái túi dệt trên vai xuống, lau mồ hôi tự mình lẩm bẩm: “Chính là chỗ này.” Thấy Minh Lượng đang ngồi trước cửa, người đó hỏi: “Cho hỏi tiệm này là của sếp Trần Minh Lượng người Hà Nam mở đúng không?”
Minh Lượng tỉnh cả người, cũng nhận ra giọng người đó nói, là khẩu âm Hà Nam, bèn nói: “Đúng vậy? Cậu có chuyện gì không?”
“Tôi muốn gặp sếp Trần.”
“Cậu tìm ông ta làm gì?”
“Có chuyện lớn.”
Minh Lượng không khỏi ‘phụt’ cười: “Chuyện lớn gì, nói với tôi được rồi.”
“Không nói ông nghe được, phải nói sếp Trần nghe.”
“Tôi là Trần Minh Lượng đây.”
“Ông đừng lừa tôi đấy.”
Minh Lượng đổi lại khẩu âm Hà Nam: “Nghe giọng tôi có phải người Hà Nam, khẩu âm Diên Tân không?”
Người này nghiêng tai lắng nghe, rồi cười: “Hóa ra đúng là sếp Trần.”
Tiếp đó thì mở túi dệt, lôi một vật từ trong đó ra; vật này được bọc bằng vải bông; tấm vải bông mở ra, xuất hiện một tấm bảng vừa dày vừa rộng; nhìn mức độ cũ nát của vật này đoán chắc cũng được mấy năm rồi; trên tấm bảng có bốn chữ được khắc chạm rỗng: Một ngày ba thu.
Minh Lượng thấy bức hoành này thì đứng bật ra khỏi ghế. Ba tháng trước, ông ta đi Diên Tân Hà Nam dời mộ cho ông bà nội, nghe nói cây táo lớn trong nhà đã bị ông Phạm ở Tháp Phô lấy làm thành bàn ghế; ông ta đến Tháp Phô tìm ông Phạm, bàn ghế này đều bị con trai con gái ông Phạm chẻ thành củi đốt cả rồi; sau đó nghe ông Phạm nói mới biết lõi của cây táo này đã được ông Cảnh ở Thang Âm mua mất, ông Cảnh sai người khắc nó thành một bức hoành phi treo ở trên đầu cửa trước nhà; Minh Lượng đến Thang Âm, ai ngờ ông Cảnh lại bán ngôi nhà vườn của mình cho ông Châu, ông Châu dở mất nhà ông Cảnh xây lên một ngôi nhà kiểu Âu; ông lão trông nhà giùm ông Châu nói cho Minh Lượng biết, trên bức hoành phi khi ấy có khắc bốn chữ “một ngày ba thu”; cũng không biết bức hoành này bị ông Cảnh vứt đi nơi nào; Minh Lượng dặn dò ông lão canh cửa, nếu có ai tìm được bức hoành phi năm đó và đem bức hoành phi đến cho ông ta, ông ta sẽ trả một trăm nghìn tệ; đồng thời để lại địa chỉ và số điện thoại của mình ở Tây An cho ông lão. Không ngờ rằng ba tháng sau lại có người đưa bức hoành phi này đến thật.
Minh Lượng: “Cậu tìm thấy bức hoành phi này ở đâu đấy?”
“Giày sắt đã mòn tìm chẳng thấy, bỗng dưng có được chẳng phí công.”
“Là sao?”
“Nhà tôi ở xóm dưới Thang Âm, năm đó lúc ông Châu dở nhà, ông nội tôi đi theo người ta giành đất vụn, giành được bức hoành phi này. Mấy ngày trước, nghe ông lão trông nhà giùm ông Châu nói ông thấy bức hoành này quý giá, chịu trả tiền mua lại, tôi xin ông lão địa chỉ của ông ở Tây An rồi đem nó tới cho ông.” Rồi lại chỉ bức hoành phi, “Ông áng thử đi, gỗ táo, nặng đúng không. Tôi khiêng nó từ Hà Nam đến đây không dễ đâu.”
Minh Lượng áng thử, quả nhiên rất nặng.
“Ông từng nói ai tìm được bức hoành này rồi đem đến cho ông, ông sẽ cho một trăm nghìn tệ, giờ thế này, ông không được nuốt lời đó.”
Minh Lượng nhìn bức hoành phi này, hồi tưởng lại cây táo kia trong nhà bà nội và tình cảnh lúc bà nội hái táo dưới gốc cây này, bèn nói: “Yên tâm, chỉ cần bức hoành này là thật, tôi nói được làm được.”
Người kia sốt ruột nói: “Tôi từ Hà Nam xa xôi cõng nó tới đây, sao là giả được?”
“Tôi còn để lại số điện thoại cho ông lão ở Thang Âm, trước khi cậu đến Tây An sao không gọi cho tôi trước?”
“Món này là hiện vật, gọi điện sao nói rõ được chứ, tục ngữ nói rất hay, tai nghe là hư, mắt thấy mới là thật.”
Minh Lượng cảm thấy gã này nói cũng có lý, bèn nói: “Cậu họ gì?”
“Họ Thái bình thường thôi, ông cứ gọi tôi là thằng Thái được rồi.”
Minh Lượng vừa mời thằng Thái ngồi xuống uống trà vừa đánh giá tỉ mỉ bức hoành phi đó. Nhìn trái ngó phải, xem sơ sẽ thấy là đồ cũ, nhưng xem kỹ lại thấy màu sơn hơi mới; không phải ý nói màu sơn này mới mà là có thể thấy được vết tích một vệt sơn chảy từ trên xuống dưới bị ai đó lau đi. Minh Lượng cầm bức hoành đưa lên mũi ngửi, quả nhiên ngửi ra mùi sơn mới. Minh Lượng cảm thấy chuyện này hình như không đúng lắm bèn đứng dậy bước sang tiệm bạc của ông Cận kế bên mượn chiếc khoan điện, quay về khoan vào một gốc bức hoành này.
Thằng Thái ngớ người: “Chú ơi, chú làm gì vậy?” Rồi vội đến cản lại, “Chú ơi đừng làm hỏng văn vật mà.”
Mũi khoan đã kịp khoan một lỗ bên một góc bức hoành. Từ cái lỗ này có thể nhìn ra đây là bào gỗ mới. Minh Lượng rút mũi khoan điện ra, trỏ vào bào gỗ mới này hỏi thằng Thái: “Tự cậu xem đi, cái này mà là văn vật gì? Cái này giống bức hoành từ mười năm trước sao? Gỗ này có thể là gỗ của cây hơn hai trăm tuổi à?”
Thằng Thái thừ người tại chỗ, hồi lau sau, cười khan hai tiếng, nói: “Chú ơi, chú giỏi thật, bị chú nhìn ra rồi.”
Minh Lượng: “Tôi nấu giò heo, giò heo nấu ra chỉ cần dùng đũa chọt một cái là biết nó chín đến độ nào rồi, này cũng chỉ là chọt một thanh gỗ thôi. Chọt một cái thấy ngay chứ gì?” Lại nói, “Rốt cuộc là sao, cậu nói đi.”
Thằng Thái lại cười khan hai tiếng: “Nếu đã bị chú nhìn ra rồi, thế cháu nói thật với chú vậy.” Gã tự vả miệng mình hai cái, “Thật không dám giấu, ông lão trông nhà giúp ông Châu là cậu ba của cháu. Tháng trước, cháu đến Thang Âm tìm bạn chơi đi ngang qua nhà cậu ba, nghe cậu ba nói chuyện này, cảm thấy vụ này làm ăn được bèn tìm đến nhà ông Tấn ở Lâm Châu bảo ông Tấn tìm một tấm gỗ táo khác, trộm long tráo phụng khắc ra tấm này; ai ngờ ông Tấn là người cứng nhắc, nói gì mà không làm, sợ phá hỏng thanh danh của ông ta; nhưng ổng không làm chứ con ổng là thằng Tấn thì làm. Cháu với thằng Tấn cùng nhau đến sơn thôn Lâm Châu mua một tấm gỗ táo. Thằng Tấn phơi khô tấm gỗ rồi khắc lên. Hai chúng cháu làm chung, lại tìm người làm nó cũ lại.” Rồi nói, “Đây chính là lý do không gọi điện cho chú mà đem thẳng đến Tây An, sợ gọi điện chú sẽ có phòng bị, gặp trực tiếp một tay giao tiền một tay giao hàng, sau đó chú phát hiện ra cũng đã trễ rồi, không ngờ vẫn bị chú nhìn ra.”
Minh Lượng cảm thấy tuy rằng thằng Thái lừa ông nhưng nghe thằng Thái nói, thấy nó cũng là người thành thật. Minh Lượng cười: “Nếu lừa được, cậu lấy được tiền của tôi rồi chia với thằng Tấn thế nào?”
Thằng Thái: “Đã nói với nhau trước rồi, mỗi người một nửa.” Lại nói, “Chú ơi, vì chuyện này mà cháu từ Thang Âm đến Lâm Châu, chạy vòng vòng mất hơn một tháng, công khắc chữ vẽ hoa không nói, tìm người làm cũ nó đi cũng không phải chuyện một hai phút là xong, lại khó khăn lắm cháu mới chạy đến được Tây An, nếu chú đã nhìn ra rồi, vậy thì không lấy giá ban đầu, chú gửi cháu tiền công với tiền đi lại đi.”
“Cậu muốn lấy bao nhiêu tiền công chạy việc?”
“Nói gì chú cũng phải đưa hai chục nghìn tệ, cháu với thằng Tấn mỗi đứa mười nghìn.” Thằng Thái lại nói, “Làm vậy chứ sau khi cháu về có khi thằng Tấn còn hờn mát cháu, nói cháu ngốc nữa.”
Minh Lượng nhìn chữ trên bức hoành, tay nghề khắc chữ tuy rằng không được mười phần công phu nhưng chữ được chạm rỗng và hoa văn bên ngoài nhìn sơ qua coi cũng được; còn về trình độ giả cổ, nếu không nghiên cứu kĩ càng chắc cũng nhìn không ra Tý Sửu Dần Mão gì đâu. Nhưng nói: “Cậu làm đồ giả tới đây gạt tôi, tôi không tống cậu đến đồn công an đã may lắm rồi, cậu còn không biết xấu hổ đòi tiền tôi nữa à.” Rồi chỉ vào ấm trà với chén trà trên bàn, “Uống trà đi, uống xong rồi thì xách đồ đi theo người.”
Thằng Tấn nhìn Minh Lượng: “Mười lăm nghìn.”
Minh Lượng tựa ghế chẳng buồn để mắt.
“Mười nghìn.”
Minh Lượng ngó lơ.
“Tám nghìn.”
Minh Lượng chẳng màng.
“Năm nghìn.”
Minh Lượng mặc kệ.
“Ba nghìn.”
Minh Lượng ngồi thẳng dậy: “Để lại đi.”
Thằng Thái: “Chú ơi, chú chặt chém cũng ác đấy, ba nghìn tệ, còn không đủ công làm với lộ phí nữa.” Rồi thở dài: “Ai bảo hàng đã chất xuống đất cả rồi, ba nghìn thì ba nghìn, còn đỡ hơn vứt đi.”
Minh Lượng quét WeChat trên điện thoại của thằng Thái, chuyển cho nó ba nghìn tệ qua điện thoại. Thằng Thái nhét lại điện thoại vào, xì xì xầm xầm bước đi.
Sau khi thằng Thái đi, Minh Lượng sang tiệm bạc trả lại mũi khoan, ông Cận hỏi: “Vừa rồi ông om sòm gì với người ta trên phố đó?”
Minh Lượng bèn kể tiền nhân hậu quả của bức hoành này cho ông Cận nghe, rồi nói: “Tuy rằng bức hoành là giả, nhưng chữ khắc cũng được, tôi chỉ lo tấm gỗ này không phải gỗ tốt thôi.”
Ông Cận: “Đem bức hoành qua tôi xem.” Rồi nói, “Không giấu gì ông, trước khi làm nghề bạc, tôi từng học nghề mộc mấy năm với dượng hai tôi đó, làm ăn kiếm sống ra sao không biết nhưng chất gỗ cũng hiểu được một phần.”
Minh Lượng bèn về trước cửa Thiên Bồng Nguyên Soái lấy tấm biển qua đưa cho ông Cận. Ông Cận lấy tay gõ lên tấm biển, lật qua lật lại xem rồi lại ghé mắt đến gần cái lỗ Minh Lượng vừa rồi mới khoan lên tấm biển. Xem xong nói: “Tấm gỗ táo này không biết từ đâu ra nhưng chất lượng gỗ táo khá đấy; đáng lý, gỗ táo bình thường không cứng vậy đâu, mà nó cứng ngang gỗ đàn hương rồi; là gỗ táo mà cứng ngang đàn hương, hai tên lừa đảo vung tiền mua gỗ táo vậy mà mua được chất lượng tương đương gỗ đàn, cũng xem như vớ bở.” Rồi nói, “Tấm biển này từ chất gỗ xem ra, muốn giữ nó dăm ba trăm năm cũng không thành vấn đề.” Lại nói, “Đương nhiên, không phải gỗ của cây táo hồi ở với bà nội, chất lượng có tốt hơn cũng là hàng nhái, không đáng là bao.”
Minh Lượng: “Tuy đúng là hàng nhái, nhưng vòng tới vòng lui lại giống như con chó Tôn Nhị Hóa kia vậy, tự tìm đến trước cửa, xem như cũng là duyên phận.”
Ông Cận gật đầu: “Thế cũng phải.”
Hơn bốn giờ chiều hôm đó, nhân viên trong quán dạo phố lục tục quay về. Minh Lượng bảo nhân viên chùi tấm biển “Một ngày ba thu” này cho sạch sẽ rồi treo chính giữa bức tường trụ sở Thiên Bồng Nguyên Soái. Khách đến ăn tối, có khách quen thấy trong tiệm có thêm bức hoành phi bèn trỏ vào chữ trên bức hoành hỏi Minh Lượng: “Nghĩa là gì?”
“Lời răn của quán Thiên Bồng Nguyên Soái.”
“Răn gì?”
“Nấu giò heo cho ngon, để một ngày không ăn ba năm nhớ mãi.”
Tối đêm đó, Minh Lượng mơ thấy bức hoành phi này lại biến thành một cây táo, còn có vườn nhà bà nội và cây táo hơn hai trăm năm tuổi trong vườn; chẳng qua nó không mọc ở nhà bà nội mà mọc ở bến đò Diên Tân. Cây táo vẫn sum suê cành lá, gió thổi qua, lá cây kêu xào xạc. Một đám người ngồi dưới cây này tán dóc. Có bà nội, ông nội, có ông Đổng toán mệnh, có con da vàng và con trâu lì trong câu chuyện của bà nội, còn có con chó Tôn Nhị Hóa mà Minh Lượng từng nuôi, rồi còn con khỉ trung niên mà Minh Lượng từng gặp qua ở bến đò Diên Tân nữa. Ngày thường, Minh Lượng vẫn luôn nhớ đến những con người và con vật này, ngoài đời không sao gặp lại nữa, giờ lại tụ họp cả ở đây. Ông Đổng lúc sống bị mù, giờ không còn mù nữa; con chó Bắc Kinh Tôn Nhị Hóa trước giờ chưa từng đến Diên Tân, giờ lại đến Diên Tân; vết máu trên người con khỉ trung niên cũng đã kết vảy. Chẳng qua không phải người đang tán dóc mà kẻ tán dóc lại là con da vàng, trâu lì, Tôn Nhị Hóa và con khỉ trung niên, tán về người và việc mà chúng đã gặp phải trong đời. Con này nói một phần, con kia nói một đoạn, lâu lâu cả bầy lại cười lớn ha ha, thỉnh thoảng lại rưng rưng khóe mắt. Trông thấy tình này cảnh này, Minh Lượng chợt muốn lấy sáo ra thổi một bài; nhiều năm rồi không thổi sáo, không ngờ cây sáo đã xuất hiện trong tay; ông ta bắt đầu thổi tùy hứng; trước đây ông ta từng tùy hứng thổi ra cảnh mẹ mình nhảy múa trên Trường GIang, cây táo nhà bà nội không biết đi nơi nào, thổi ra cảm giác xa lạ của mình với Diên Tân; bây giờ muốn thổi một bài ‘một ngày ba thu’, một ngày ba thu ở nơi nào? Hóa ra chính là trong mộng, có con da vàng, trâu, chó, khỉ cùng nhau tán dóc.
Cầm sáo lên định thổi âm đầu tiên thì chợt nghe thấy có người sau lưng nói: “Đừng thổi, giả cả mà.”
Minh Lượng ngoái đầu, ra là Hoa Nhị Nương, cánh tay còn treo cái giỏ, trong giỏ đầy những quả hồng như quả đèn lồng; Minh Lượng hơi bị không vui: “Nhị Nương, cái nào cũng là cảm xúc chân thành, sao nói là giả được?”
Hoa Nhị Nương: “Cây là giả, cái cây đến từ ‘một ngày ba thu’, tấm biển ‘một ngày ba thu’ cũng là giả, cái tán dốc này sao mà thật được? Ông muốn thổi ra thứ hư tình giả ý à?”
Minh Lượng: “Nhị Nương, bà nghe tôi nói lý lẽ chút đi, mơ là giả, chuyện trong mơ cũng là giả, nhưng trừ trừ thành cộng, tình ý bên trong không phải là thật à? Người trong mơ thường khóc ướt gối, bà nói cái khóc đó không phải thật ư? Người trong mơ thường bật cười thành tiếng, bà nói cái cười đó không phải thật ư, còn thật hơn cả khóc cười ngoài đời thật nữa.”
Hoa Nhị Nương bần thần như đã bị lý lẽ của Minh Lượng làm cho nghẹn họng; rồi đột nhiên trở mặt: “Tôi hi vọng ông cũng hiểu cho đạo lý này, tôi ra ngoài là tìm chuyện để cười, không phải nghe đạo lý.”
Minh Lượng cũng chợt tỉnh cả muộn phiền, nhưng nói: “Nhị Nương, bà ra ngoài tìm chuyện cười không sai, nhưng lần này thật sự không nên tìm đến tôi.”
“Lại giống như lần trước nói mình là người Tây An à?”
“Lần trước tôi đang ở Diên Tân, tuy là người Tây An nhưng có một nửa là người Diên Tân, lần này tôi về Tây An rồi, chỉ mơ thấy mình về Diên Tân thôi. Diên Tân với tôi là giả, bà không nên lấy giả thành thật bắt tôi kể chuyện cười cho bà nghe chứ, bà nói xem có phải đạo lý này không?”
“Tuy rằng người ông không về nhưng ông lại mơ về Diên Tân, chẳng khác gì như xuất hồn về Diên Tân vậy; nếu như ông làm tôi bực mình, tôi sẽ đè hồn phách ông dưới núi để ông hồn lìa khỏi xác, xem ông sống ở Tây An thế nào.”
Hoa Nhị Nương lại nói, “Giả có cách của giả.”
Minh Lượng lại không khỏi thở dài trong bụng, lần trước rời khỏi Diên Tân đã thề là không về Diên Tân nữa, không ngờ rằng lại mơ về; nhưng ai mà quản được hồn phách của mình chứ? Nói ra thì chính là cái họa ‘một ngày ba thu’ gây ra.
Hoa Nhị Nương đắc ý nói: “Không còn gì để nói chứ gì? Đừng ai hòng lừa tôi, lừa tôi chẳng khác gì lừa bản thân mình đâu.”
Cây sáo trong tay Minh Lượng thoắt chốc biến đi, cây sáo cũng không thổi ra chuyện cười cho Hoa Nhị Nương nghe được; cũng là vào lúc đại họa lâm đầu mà cái khó lại ló cái khôn, Minh Lượng vội nói: “Nhị Nương, nhắc tới đạo lý, tôi lại có câu chuyện cười này.”
“Chuyện cười gì?”
“Đương nhiên đạo lý không qua mắt được bà, nhưng đạo lý có thể qua mắt rất nhiều người khác. Trong cuộc sống, có nhiều đạo lý là giả, nhưng hằng ngày vẫn có người đem ra nói y như thật, thời gian lâu dần giả cũng thành thật. Ai nấy rõ ràng đều biết đạo lý đó là giả, thế mà làm việc vẫn căn cứ theo đạo lý giả mà làm, vờ đến như thật; bà có thấy mắc cười không? Còn chả thật như trong mộng.”
Vậy mà Hoa Nhị Nương hiểu được đạo lý này, ‘phụt’ cười thành tiếng: “Ông còn dắt được đến đây.” Rồi nói, “Xem như ông kể một câu chuyện cười đá xoáy vậy.” Rồi nói, “Biến đạo lý thành chuyện cười, nhìn kiểu gì cũng hơi mệt mỏi, không vui bằng cái chuyện cười màu vàng lần trước ông kể tôi nghe.”
Nhưng chuyện cười vàng lần trước kể đến từ vết thương cả đời của Minh Lượng; chuyện cười kiểu đó nếu mà nhiều quá, Minh Lượng đã sống không nổi nữalâu rồi; lại thấy chuyện cười kể xong mà Hoa Nhị Nương không có ý thưởng quả hồng cho mình, bèn nói: “Nhị Nương ơi, tôi biết mình ăn nói vụng về, kể bà nghe chuyện cười này hơi miễn cưỡng, về sau xin nghe lời dạy của bà, không mơ về Diên Tân nữa.”
Hoa Nhị Nương: “Nếu ông không về Diên Tân hẳn, chúng ta cũng xem như dứt hẳn liên quan.” Lại nói, “Diên Tân có hơn năm trăm nghìn người, thêm một người bớt một người, không làm khó được tôi.”
Minh Lượng: “Chuyện đó đương nhiên.”
Minh Lượng xoay người bỏ đi, đi được hai bước thì dừng lại nói, “Nhị Nương, lúc sắp đi, tôi muốn hỏi chuyện này.”
“Chuyện gì?”
“Chỉ là tôi nghĩ linh tinh thôi, bà đừng để ý.”
“Biết ắt sẽ nói, nói đi, không để ý đâu.”
“Bà ở Diên Tân đã hơn ba nghìn năm, ngày nào cũng kiếm chuyện cười, chuyện cười ở Diên Tân chẳng phải giống như cá trong ao, sớm muộn cũng bị bà bắt sạch à?”
“Bà ở mãi Diên Tân hơn ba nghìn năm rồi, có người Diên Tân nào kể bà nghe chuyện cười đặc biệt thú vị chưa?”
Hoa Nhị Nương: “Thỉnh thoảng cũng có, chỉ một câu đã chọc được tôi cười rồi.” Lại nói, “Nhưng không phải hôm nào cũng có, phải chờ mới có được.” Rồi nói, “Nói ra thì, ấy phải cảm ơn hai loại người.”
“Hai loại người nào?”
“Một loại là người nói đến không đến, ví như nói đến Hoa Nhị Lang, tôi vẫn luôn ở Diên Tân đợi chàng, chàng không đến, tôi không dám đi, thế là giúp tôi có thời gian đợi một câu chuyện cười thú vị; loại còn lại, là người đi rồi không về, ví như mẹ ông là Anh Đào vậy, tôi còn nghĩ, lỡ như có ngày nào đó cô ta quay lại, không biết từ ngoài kia sẽ mang về lại câu chuyện hay ho gì.”
“Nhị Nương, này là bà không đúng rồi, ngoại trừ cảm ơn người nói tới không tới, đi rồi không về ra, bà không biết là còn phải cảm ơn những người Diên Tân cả ngày kể chuyện cười cho bà nghe à, tuy rằng chuyện cười họ kể có hơi nhạt; nhưng những người Diên Tân không biết kể chuyện cười bị bà đè chết có ít đâu; từ ngày bà đến Diên Tân, ai nấy đều thất kinh hồn vía.”
“Nói ra thì tôi cũng vạn phần bất đắc dĩ mà. Trước khi đến Diên Tân, tôi là người thích kể chuyện cười, không cần ai kể chuyện cười cho tôi nghe; sau khi đến Diên Tân lại biến thành ăn mày, ăn mày khác đòi cơm, tôi đòi chuyện cười; không có chuyện cười để ăn thì sống không nổi nữa; ông tưởng rằng cứ đến tối là tôi bắt buộc phải vào giấc mộng của người ta tìm chuyện cười à? Sai rồi, không phải tôi, mà là một người dựa vào cơ thể tôi, dựa một lần là ba nghìn năm hơn rồi.” Lại nói, “Chính là người đó, cứ phải sống cuộc đời như một trò đùa.” Rồi nói, “Tôi muốn rời khỏi Diên Tân, nhưng đã biến thành ngọn núi rồi.”
Minh Lượng kinh ngạc: “Người này sao xấu xa thế, hại bà ít thảm thật.”
Hoa Nhị Nương: “Đối với tôi cũng là chuyện tốt.”
“Sao nói vậy?”
“Ở với người đó, ngày nào cũng được ăn chuyện cười, hơn ba nghìn năm qua, tôi mới có thể trẻ mãi không già, ông xem, có phải dáng dấp tôi như một con bé mười bảy mười tám tuổi không?”
Minh Lượng ngẩn người: “Hóa ra là vậy.” Lại nói, “Người đó là ai?”
Hoa Nhị Nương: “Thiên cơ không thể tiết lộ.” Rồi nói, “Tiết lộ rồi, ông ta chết, chẳng phải tôi cũng chết theo à?” Lại nói, “Ông ta cũng biết, bởi căn bệnh khi xưa ông ta để lại không dùng chuyện cười thì không chữa được mới cho tôi theo ông ấy chơi hơn ba nghìn năm, để người Diên Tân chơi với ông ấy hơn ba nghìn năm nhưng bây giờ bệnh tình cũng chẳng chuyển biến tốt hơn, ông ta cũng thấy áy náy, nhưng ông ta nói, ông ta cũng không làm chủ được.” Cuối cùng nói, “Ông nói xem, chính bản thân chuyện này có phải cũng là chuyện cười không?”
Minh Lượng nghĩ ngợi, rồi cười.
Hoa Nhị Nương: “Ông muốn cắt đứt quan hệ với Diên Tân nên tôi mới nói ông biết, chứ còn người Diên Tân thì tôi không dám nói thế đâu.” Rồi trỏ vào Minh Lượng, “Đánh chết cũng không được nói ra nhé, bằng không, cũng giống như ông mơ thấy về Diên Tân, tôi cũng mơ đến Tây An cho ông húp súp cay đấy.”
Minh Lượng giật mình tỉnh giấc, nhìn ra ngoài cửa, ánh trăng trong veo. Lại nghĩ đến lời Hoa Nhị Nương nói trong mộng, tuy rằng không biết người dựa Hoa Nhị Nương là ai nhưng chợt hiểu ra ông ta mắc chứng bệnh gì, sợ đến đổ đầy mồ hôi lạnh.
—
A Tĩnh:
Bắt người ta toán mệnh nhưng lại đòi đoán theo nguyện vọng của mình =))). Lại khịa nữa rồi. Ờm, phần đông người ta đi xem bói đều thế, vốn chỉ muốn nghe vận mệnh an bài cái gì đó hợp với ý mình. Rồi lỡ nghe thứ không hợp với ý mình thì sao? Giống Tôn Nhị Hóa, bảo thầy đoán sai rồi chứ sao =)). OK =)))
Nếu kiếp này sống tốt thì ai lại nghĩ tới chuyện kiếp sau. Người ta nghĩ chuyện kiếp sau toàn vì kiếp này sống không tốt, muốn reset thôi mà =)). Thay vì mong muốn kiếp sau có một cuộc đời tốt đẹp hơn kiếp này, vẫn nên cố gắng biết cuộc đời kiếp này thành cuộc đời đáng sống và không hối tiếc, hiu hiu

Bởi vì cuộc sống là động, cũng như dòng nước trôi mãi không ngừng, mà mỗi một ngày trôi qua đều sẽ có những câu chuyện mới, thế nên truyện cười cũng sinh ra mãi không ngừng