MỘT NGÀY NHƯ THỂ BA THU – CHƯƠNG 13.3 (3)

By

·

31–46 phút

MỘT NGÀY NHƯ THỂ BA THU

CHƯƠNG 13: Minh Lượng – 13.3: Lại hai mươi năm sau

Dịch (láo): A Tĩnh

#nhatnhattamthu #motngaynhuthebathu

(3)

Bấm đốt tay tính, Tôn Nhị Hóa đã chết được năm năm rồi. Còn nhớ ba ngày trước khi chết, nó bắt đầu không ăn không uống. Hai mươi năm trước lúc Tôn Nhị Hóa mới đến nhà Minh Lượng thì thích gặm giò heo. Đương nhiên không phải giò heo vừa vớt ra khỏi nồi mà là xương giò heo khách trong tiệm ăn xong nhả ra; sau khi khách đi, quán ăn đóng cửa, Minh Lượng sẽ lấy xương giò heo được khách nhả ra đổ vào bát cơm của Tôn Nhị Hóa.

Sau này Tôn Nhị Hóa không thích ăn xương giò heo nữa. Quán “Thiên Bồng Nguyên Soái” ngoại trừ nấu giò heo ra còn bán mấy món nguội, món chiên và rượu, trong các món nguội có một món là rau chân vịt xào gan gà; sau khi quán ăn đóng cửa, có khi Minh Lượng cũng lấy gan gà khách ăn còn thừa thêm vào xương giò heo đổ một lượt vào bát cơm cho chó. Tôn Nhị Hóa hất xương giò heo đi, chỉ chọn ăn mỗi gan gà.

Minh Lượng bước lên đá nó một cái: “Tôn Nhị Hóa, mày biến chất rồi à?”

Lúc đó, mỗi ngày trời còn chưa sáng Minh Lượng sẽ đến chợ đồ ăn ở ngoại ô thành nam lấy sỉ giò heo, gà vịt và thịt heo cùng các loại rau củ. Mã Tiểu Manh phải ra quán thu xếp bếp lò, trước khi ra quán ăn thu xếp bếp núc thì phải đưa con trai họ là Hồng Chí đến nhà trẻ trước, cả hai chẳng rảnh đâu mà dắt chó đi dạo; nhà Minh Lượng ở một tầng, đằng sau căn hộ có một vườn hoa nhỏ, Minh Lượng bèn lấy cưa đẽo một cái lỗ chó trên cửa sau căn hộ. Sáng chiều mỗi ngày, Tôn Nhị Hóa đều biết bò từ lỗ chó đó ra, tự mình đi đại tiểu tiện. Sáng trời, nó chạy từ nhà ra đến “Thiên Bồng Nguyên Soái”, tối đến, nó tự chạy từ quán về nhà. Có một buổi tối tiệm ăn đóng cửa, Minh Lượng và Mã Tiểu Manh từ quán về nhà, vừa ngồi xuống ăn cơm thì Tôn Nhị Hóa chui từ lỗ chó vào nhà, vừa đến trước bàn cơm thì ngậm ngay ống quần của Minh Lượng dưới bàn, kéo gã ra ngoài.

Minh Lượng đá Tôn Nhị Hóa một cái: “Đang ăn cơm, mày chơi một mình đi.”

Tôn Nhị Hóa vẫn ngậm ống quần Minh Lượng không buông; Minh Lượng không biết nó muốn gì, chỉ đành đứng lên đi theo nó. Ra khỏi cửa, Tôn Nhị Hóa chạy đằng trước, vừa chạy vừa ngoái đầu nhìn Minh Lượng; Minh Lượng đi theo nó, nó dẫn Minh Lượng đến “Thiên Bồng Nguyên Soái”. Đến quán, Minh Lượng phát hiện có nước rỉ từ nơi tiếp giáp cửa quán ra ngoài. Minh Lượng mở cửa, thấy trong phòng ngập nước. Minh Lượng lội nước đi vào phòng bếp, hóa ra là ông Tào rửa giò heo quên tắt ống nước trong bồn; nước chảy róc rách tràn ra khỏi bồn rửa, rỉ ra nền đất. Nếu như cứ rỉ như vậy một đêm, nước trong phòng càng tích càng nhiều, không chừng cả tủ lạnh tủ chén các loại cùng gạo mì dầu muối tích trữ bên trong và mấy trăm cái giò heo, gà vịt thịt cá và các loại rau củ trong quán, còn có phích cắm điện các thứ treo trên tường đều bị úng nước chắc. Minh Lượng vội tắt ống nước đi, lúc này mới biết dụng ý Tôn Nhị Hóa chạy về nhà ngậm ống quần mình. Minh Lượng vỗ vỗ đầu Tôn Nhị Hóa: “Tôn Nhị Hóa, mày biết trông nhà rồi.”

Tôn Nhị Hóa ngẩng đầu nhìn Minh Lượng, hé môi cười rồi xoay đầu chạy mất.

Ngày tiếp theo, Minh Lượng mắng cho ông Tào rửa giò heo một trận: “Ông có não không đó, cả chó cũng không bằng.”

Còn có buổi tối Minh Lượng đi uống rượu với bạn, trộn mấy loại rượu với nhau, uống đến bất tỉnh nhân sự, ngày tiếp theo tỉnh dậy không xuống nổi giường, cứ ngủ mê man trong phòng mãi. Đến mười một giờ sáng, Tôn Nhị Hóa thấy Minh Lượng không đến quán ăn bèn từ quán ăn “bịch bịch” chạy về, chui qua lỗ chó vào nhà, vừa kêu “ăng ẳng” vừa cào cửa phòng Minh Lượng; Minh Lượng vẫn đang mê man nên không đáp lại. Tôn Nhị Hóa với không tới tay nắm cửa bèn chui ra khỏi lỗ chó, chạy như điên về quán ăn, ngậm ống quần Mã Tiểu Manh. Mã Tiểu Manh theo Tôn Nhị Hóa về nhà, mở cửa phòng ngủ ra, Minh Lượng lúc ấy hãy còn mê man ngủ. Mã Tiểu Manh vội điện thoại gọi nhân viên trong quán đưa Minh Lượng đến bệnh viện. Rút máu xét nghiệm xong, bác sĩ nói, nồng độ cồn trong máu Minh Lượng đã lên đến 280. Bác sĩ nhanh chóng truyền dịch vào máu Minh Lượng; bác sĩ nói, may mà đưa đến bệnh viện kịp thời, nếu cứ để anh ta hôn mê bất tỉnh như vậy sẽ mê man đến chết luôn. Sau khi Minh Lượng xuất viện, Mã Tiểu Manh kể chuyện Tôn Nhị Hóa gọi cô về mới kịp thời đưa Minh Lượng đến bệnh viện cho Minh Lượng nghe.

Minh Lượng nói với Tôn Nhị Hóa: “Tôn Nhị Hóa, mày sợ tao chết rồi đúng không?”

Tôn Nhị Hóa gật đầu, rồi xoay đầu chạy mất.

Bên cạnh “Thiên Bồng Nguyên Soái” có một tiệm làm bạc. Ông chủ tiệm này là ông Cận, mỗi ngày ông Cận và hai người học việc sẽ bỏ sợi bạc lên cái đe, rồi dùng cái búa gõ thành các loại trang sức vòng tay, vòng cổ, khuyên tai, bông tai, nhẫn, rồi dùng khoan điện đục lỗ, đặt lên các món phục sức khác. Có đôi khi ba bốn giờ chiều, khách ăn cơm trưa đã rời quán cả mà khách ăn tối còn chưa vào, Minh Lượng đi bộ rời quán “Thiên Bồng Nguyên Soái” đến ngồi trong tiệm bạc sát bên một hồi, nhìn ông Cận và mấy người học viên đục gõ trang sức. Dưới bàn tay của ông Cận và các học việc, một sợi bạc gõ tới gõ lui sẽ biến thành các loại trang sức.

Minh Lượng: Tay nghề tốt.

Ông Cận: Chút tài hèn mọn, quen tay hay làm thôi.

Minh Lượng: Khác ngành như cách núi, tôi thật nhìn không ra bí quyết bên trong.

Ông Cận: Chính là ở chỗ, người nóng vội không làm nổi nghề này, nghề này không sống vội được.

Minh Lượng: Cũng như nấu giò heo vậy.

Ông Cận: Nói ra thì, vạn vật cùng chung một nguyên lý.

Hai người nói chuyện cũng coi như hòa hợp. Thỉnh thoảng, Tôn Nhị Hóa cũng theo Minh Lượng sang đây, nằm bò bên người Minh Lượng, thè cái lưỡi ra “hư hư” thở dốc. Có một hôm hai người nói chuyện phiếm, ông Cận chỉ vào Tôn Nhị Hóa nói con chó này không còn dã tính, không thấy chạy loạn bao giờ, ngày qua ngày cứ nằm trước cửa “Thiên Bồng Nguyên Soái”. Minh Lượng thuận tiện kể chuyện Tôn Nhị Hóa nhắc nhở gã chuyện cửa tiệm ngập nước cũng từng cứu gã một lần, ông Cận vừa gõ sợi bạc vừa nói: “Không ngờ lại là một con chó nghĩa khí.” Rồi nói, “Chỉ có nghĩa khí thôi vô dụng, còn thông minh nữa; nếu không thông minh, làm sao có thể nghĩ đến chuyện mà con người nghĩ không ra chứ?”

Minh Lượng: “Có biết sao nó thông minh không?”

Ông Cận vừa gõ vừa hỏi: “Tại sao?”

Minh Lượng: “Bởi vì đầu nó to, thuộc giống chó Bắc Kinh bình thường nhưng não khác.” Rồi nói, “Ông Cận, ông sờ đầu nó đi, não chó bình thường không to như vậy, lo cái cổ giữ không nổi đầu nó quá.”

Ông Cận cũng ngừng tay gõ búa, vươn tay sờ đầu Tôn Nhị Hóa: “Đúng vậy, không phải não chó bình thường.”

Tôn Nhị Hóa vẫy vẫy đuôi, cười.

Chớp mắt mười lăm năm qua đi, Tôn Nhị Hóa đã già. Người già chân yếu trước tiên, chó già cũng yếu chân trước, Tôn Nhị Hóa đi đường rõ ràng chân đã bước chậm hơn; sau khi cất bước, người nó cũng lắc lư theo; đi được mấy bước thì dừng lại, há miệng thở dốc “phì phì” “phì phì”; ngoài ra còn có thể thấy tinh thần nó đã suy yếu, buổi tối thấy nó chạy lung tung trong phòng, ban ngày lại nằm bò dưới ánh mặt trời ngoài quán ăn mà ngủ; lúc tỉnh, một mình nó ở đó thẩn thờ. Minh Lượng ôm nó tới bệnh viện thú y, bác sĩ kiểm tra toàn diện cho Tôn Nhị Hóa, xét nghiệm máu thường quy, điện tâm đồ, chụp X-quang ngực, làm CT rồi rút ra kết luận, Tôn Nhị Hóa tuổi tác đã cao, mạch máu tim, mạch máu não đều xơ hóa hết rồi, máu lưu thông hơi đặc, còn mắc bệnh tăng huyết áp.

Minh Lượng: “Sao chữa cho nó đây? Có cần phẫu thuật không?”

Bác sĩ: “Nó mấy tuổi rồi?”

“Mười lăm.”

“Mười lăm tuổi chó tương đương tám chín chục tuổi người, cao tuổi lắm rồi.” Bác sĩ lại nói, “Nhiều tuổi thế này không chịu nổi phẫu thuật đâu, về nhà tịnh dưỡng đi.”

Minh Lượng chỉ đành ôm Tôn Nhị Hóa về nhà. Dần dần, Tôn Nhị Hóa ra ngoài đại tiểu tiện sẽ quên mất đường về, Minh Lượng phải ra phố tìm nó. Minh Lượng biết đầu óc nó cũng có vấn đề rồi, trí nhớ bắt đầu suy giảm. Có một hôm, tối đó Tôn Nhị Hóa không về, Minh Lượng ra phố tìm cũng không tìm được; ngày tiếp theo, Tôn Nhị Hóa vẫn chưa về nhà, Minh Lượng và Mã Tiểu Manh sốt ruột bắt đầu bảo nhân viên đi khắp nơi tìm, cũng không tìm được Tôn Nhị Hóa. Minh Lượng in một tờ thông báo tìm chó lạc, mô tả hình dạng và màu sắc lông của Tôn Nhị Hóa, lạc mất khi nào, ai đưa nó về nhất định hậu tạ, kèm theo ảnh của Tôn Nhị Hóa và số điện thoại của Minh Lượng; in ra mấy trăm tấm dán đầy đường lớn ngõ nhỏ gần tháp Đại Nhạn. Qua một ngày vẫn bặt vô âm tín.

Minh Lượng: “Tôn Nhị Hóa, mày đừng chết ngoài đường đó.”

Sáng ngày thứ ba có người gọi điện cho Minh Lượng nói trông thấy một con chó giông giống con chó miêu tả trong thông báo tìm chó lạc ở dưới gầm cầu công viên ngoại ô thành nam. Minh Lượng chạy đến công viên ngoại ô thành nam, quả nhiên thấy Tôn Nhị Hóa đang nằm dưới một góc gầm cầu trong công viên, nửa tỉnh nửa mê.

Minh Lượng: “Tôn Nhị Hóa, mày hù chết tao rồi.”

Tôn Nhị Hóa mặt mày ủ rủ, cũng không đứng lên; Minh Lượng vội ôm nó về nhà. Lại thêm nửa tháng nữa qua đi, Tôn Nhị Hóa bắt đầu không ăn không uống. Minh Lượng chuẩn bị riêng cho nó nửa cái gan gà, nó ngửi ngửi một cái lại cúi đầu bò toài ra đất. Minh Lượng ôm nó đến bệnh viện thú y, nói với bác sĩ: “Ba ngày không ăn uống gì rồi, không phải đang chờ chết chứ?”

Bác sĩ cầm ống nghe đặt lên mình Tôn Nhị Hóa thăm dò một lượt, rồi nói: “Nó sắp chết rồi. Nội tạng đều suy yếu sạch, sống cũng như chịu tội thôi.”

“Sao nó còn chưa chết.”

“Có nhiều loại chó. Có con tình nguyện chết ở nhà; cũng có con không muốn chết ở nhà. Ban đầu tôi cũng không biết, về sau tiếp xúc với chó nhiều mới hiểu ra đạo lý này.”

Minh Lượng chợt hiểu ra nguyên nhân lần trước Tôn Nhị Hóa đến công viên ngoại ô thành nam, một mình nằm dưới gầm cầu. Lại hỏi: “Chó không muốn chết ở nhà thì muốn chết ở đâu nhất?”

“Nơi không ai thấy nó. Có con lúc sắp chết cũng cần có tôn nghiêm.”

Minh Lượng gật đầu hiểu ý. Rời khỏi bệnh viện thú y, Minh Lượng đặt Tôn Nhị Hóa lên xe nhưng không về nhà mà chạy đến ngoại ô xa xôi. Minh Lượng vừa chạy xe vừa nói: “Tôn Nhị Hóa, nếu như sống là chịu tội thì cứ chết thôi.”

Tôn Nhị Hóa gật đầu.

Minh Lượng lại nói, “Tôn Nhị Hóa, nếu mày muốn chết xa một chút, chúng ta cứ đi xa hết cỡ.”

Tôn Nhị Hóa gật đầu.

Minh Lượng lại nói, “Tôn Nhị Hóa, nếu lúc chết mày không muốn gặp ai, chúng ta cứ tránh người triệt để.”

Tôn Nhị Hóa bò từ ghế phụ lái chui vào lòng Minh Lượng, Minh Lượng ôm nó mà chạy xe. Rời khỏi thành Tây An đến một thôn làng, Minh Lượng tiếp tục chạy vào trong núi; trên đường núi chẳng có lấy một chiếc xe, cũng không có lấy một bóng người. Đến trước một dốc núi, nơi đó là một ruộng ngô. Minh Lượng dừng xe, ôm Tôn Nhị Hóa xuống xe, đi về phía ruộng ngô đó. Đến nơi sâu nhất của ruộng ngô, nhìn trái ngó phải không thấy một ai, Minh Lượng mới đặt Tôn Nhị Hóa xuống đất rồi nói với Tôn Nhị Hóa: “Tôn Nhị Hóa, mày thấy chỗ này được không?”

Tôn Nhị Hóa gật đầu, sau đó chân thấp chân cao đi về phía trước. Nó cứ đi xa dần mà đầu không ngoảnh lại.

Minh Lượng từ ngoại ô xa xôi về nhà, cả đêm mất ngủ. Sáng sớm ngày thứ hai, Minh Lượng lại chạy xe ra khu ngoại ô, đến ruộng ngô đó xem Tôn Nhị Hóa ở đâu. Chẳng biết Tôn Nhị Hóa đã chết được hay chưa; nếu chết rồi, tìm được xác nó, đào cái hố chôn, cũng yên tâm được rồi. Ai biết tìm khắp cả ruộng ngô nửa ngày cũng không tìm được Tôn Nhị Hóa hay xác của nó. Lúc này Minh Lượng bật khóc: “Tôn Nhị Hóa, mày đi đâu rồi?” Lại khóc, “Tôn Nhị Hóa, tao nhớ mày quá.”

Thắm thoắt năm năm trôi qua. Hôm nay, Minh Lượng đến phòng tắm công cộng tắm rửa, nghe ông Cung cọ lưng nói mới biết thì ra Tôn Nhị Hóa làm quản lý ở chợ đồ ăn Đạo Bắc đã bị lú lẩn rồi. Trước khi ông Cung làm nghề cọ lưng tắm rửa cũng từng buôn bán ở chợ đồ ăn Đạo Bắc mấy năm. Không nhắc đến cái tên Tôn Nhị Hóa thì hai mươi năm trôi qua, Minh Lượng cũng quên mất hắn rồi; nghe ông Cung Nói thì Minh Lượng lại nhớ ra. Đồng thời nhớ đến con chó tên Tôn Nhị Hóa ấy đã đi được năm năm rồi. Năm đó ông ta bỏ nó trong ruộng ngô ở ngoại ô xa xôi, cũng không biết nó đã đi đến nơi nào. Chó chẳng biết đã mất tự bao giờ mà người cũng bất giác già đi. Hai mươi năm trước, chó nhà Minh Lượng được đặt cho cái tên này là vì gã Tôn Nhị Hóa ở chợ đồ ăn; vì muốn đánh hắn mới đặt nó tên Tôn Nhị Hóa; bây giờ vì muốn tưởng niệm con chó Tôn Nhị Hóa ấy, Minh Lượng mới nghĩ đến chuyện đi thăm cái người tên Tôn Nhị Hóa này. Minh Lượng hỏi thăm ông Cung về chỗ ở của Tôn Nhị Hóa, sáng ngày tiếp theo thì mua hai bình rượu, bốn bao thuốc lá và mấy món đồ giống hệt như năm đó mua cho Tôn Nhị Hóa trong lần gặp mặt đầu tiên ở chợ đồ ăn Đạo Bắc, bỏ vào túi nilon mang theo đến nhà Tôn Nhị Hóa. Gõ cửa, người mở cửa là một thằng nhóc nhuộm tóc vàng: “Tìm ai?”

“Cháu là người nhà của quản lý Tôn à?”

“Chú là ai?”

Minh Lượng móc tờ danh thiếp ra đưa cho thằng nhỏ; thằng nhỏ nhìn tờ danh thiếp: “Ồ, chú là ông chủ quán “Thiên Bồng Nguyên Soái” à, cháu với bạn bè cũng hay đến tiệm chú ăn giò heo lắm, mùi vị cũng khá. Sao chú quen ba cháu vậy?”

Hóa ra là con trai của Tôn Nhị Hóa. Minh Lượng: “Trước kia chú từng buôn bán ở chợ đồ ăn Đạo Bắc, từng được ba cháu trông nom. Nghe ông ta bệnh nên đến thăm hỏi.” Rồi nói, “Ba cháu là người Diên Tân, chú cũng là người Diên Tân.”

Con trai Tôn Nhị Hóa nhận lấy rượu với thuốc lá Minh Lượng mang theo rồi dẫn Minh Lượng vào nhà, sau đó dẫn ông ta đến phòng trong. Minh Lượng trông thấy một ông già đang ngồi trên sofa, tóc bạc hoa râm, xõa tứ tung, đầu cứ lắc qua lắc lại. Hai mươi năm không gặp, không ngờ rằng Tôn Nhị Hóa năm xưa oai phong lẫm liệt, tè lên mặt ông ta bây giờ lại biến thành bộ dạng thế này.

Thấy có người đến, Tôn Nhị Hóa ngoẹo đầu lớn tiếng hỏi: “Mày là thằng nào?”

Minh Lượng: “Tôi là Minh Lượng đây.”

Tôn Nhị Hóa: “Mày là Tứ Hải mà.”

Con trai Tôn Nhị Hóa giải thích với Minh Lượng: “Tứ Hải là một người bạn của ba cháu, năm ngoái chết rồi, ba cháu gặp ai cũng gọi người ta là Tứ Hải.”

Minh Lượng: “Tôi không phải Tứ Hải, tôi là Minh Lượng.”

Tôn Nhị Hóa vẫn nói: “Tứ Hải đó à, mày tới rồi à.”

Minh Lượng dở khóc dở cười. Ông ta vì Tôn Nhị Hóa – con chó mà mình từng nuôi – mới đến tìm Tôn Nhị Hóa, vậy mà Tôn Nhị Hóa lại tưởng ông ta là Tứ Hải. Lúc này Minh Lượng phát hiện sự khác nhau giữa Tôn Nhị Hóa trước mặt và Tôn Nhị Hóa đã mất năm năm trước: Tôn Nhị Hóa đi mất có cái đầu to, hình dạng như trái bí đao; còn đầu của Tôn Nhị Hóa trước mặt nhỏ, hệt như trái lê vịt. Con trai Tôn Nhị Hóa tưởng hai người thực sự là bạn thân, nhưng mục đích của Minh Lượng lại là đến xem Tôn Nhị Hóa bao giờ thì chết.

Lúc sắp ra khỏi cửa, con trai Tôn Nhị Hóa nói: “Chú ơi, ba con không nhận ra chú rồi, sau này đừng tới nữa, mất công phí thời gian.”

Minh Lượng: “Cháu ơi, ông ta không nhận ra chú nhưng chú nhận ra ông ấy.”

Về sau, mỗi lần Minh Lượng nhớ đến Tôn Nhị Hóa kia thì sẽ đến thăm Tôn Nhị Hóa này. Đó là sự tưởng niệm Tôn Nhị Hóa kia, đồng thời nhìn Tôn Nhị Hóa ngu si này rửa hận. Trong một lần đến thăm Tôn Nhị Hóa, thấy con trai Tôn Nhị Hóa sang một phòng khác chơi điện tử, trong phòng này chỉ còn thừa lại mỗi Minh Lượng và Tôn Nhị Hóa, Minh Lượng nhân dịp đó hỏi: “Ông Tôn, hai mươi năm trước ông làm quản lý ở chợ đồ ăn Đạo Bắc đã từng ức hiếp hai vợ chồng Minh Lượng, ép người ta đi, ông còn nhớ chuyện này không?”

Tôn Nhị Hóa lại hỏi: “Minh Lượng là ai?”

Minh Lượng: “Ông mặc kệ Minh Lượng là ài, ông chỉ cần nói ức hiếp người ta là đúng hay sai?”

Không ngờ Tôn Nhị Hóa lại hưng phấn hẳn ra: “Thế tụi nó đã phạm lỗi gì? Tao chỉnh tụi nó đều có lý do cả đấy.”

Nguyên nhân lúc ấy, Minh Lượng không có cách nào kể lại thêm lần nữa cho một gã ngốc nghe; Minh Lượng hỏi câu này là để báo thù, bây giờ báo thù cũng phí công, xem ra thù này không có cách gì báo được rồi. Minh Lượng thở dài, cũng đứng dậy bỏ đi.

Ở nhà, Minh Lượng và Mã Tiểu Manh đã chia phòng ra ngủ. Mã Tiểu Manh trách Minh Lượng đêm ngủ là ngáy, Minh Lượng trách Mã Tiểu Manh ngủ hay trở mình, đi vệ sinh; bắt đầu từ năm kia, hai người đã chia phòng ra ngủ. Nhưng Minh Lượng biết, ngáy hay trở mình không phải lý do chính làm bọn họ chia phòng mà ngủ, lý do chủ yếu chính là chỗ cần cứng trên người Minh Lượng đã mềm, còn chỗ nên mềm trên người Mã Tiểu Manh thì đã cứng. Minh Lượng còn phát hiện ra, hồi Mã Tiểu Manh còn trẻ có lưỡi dài, nhưng bây giờ cũng đã thành ngắn. Tuy rằng hai người không có thân mật thân thể, nhưng ở với nhau quen rồi, gặp phải chuyện gì mà có đối phương bên cạnh, tâm trạng cũng dịu đi phần nào. Có lần Minh Lượng mắc bệnh sỏi mật dẫn đến viêm ống mật cấp cần phải phẫu thuật lấy sỏi mật ra; lúc người ta sắp đẩy xe phẫu thuật vào phòng phẫu thuật, Mã Tiểu Manh còn đi vệ sinh chưa về; Minh Lượng nói, chờ chút, tôi cần nói câu này với bà xã tôi. Bác sĩ: Không đợi được, còn phải sắp xếp đội phẫu thuật lấy sỏi ra nữa. Minh Lượng: Thế tôi không lấy sỏi ra nữa. Bác sĩ gọi điều dưỡng mau chóng vào nhà vệ sinh gọi vợ ông ta về đây. Mã Tiểu Manh tới, bác sĩ nói: Có gì nói nhanh đi. Minh Lượng cũng không nói gì mà cho người đẩy ông ta vào phòng phẫu thuật; sau đó, bác sĩ gây mê tiến hành gây mê toàn thân cho ông ta. Minh Lượng phẫu thuật xong tỉnh dậy thì trách Mã Tiểu Manh, chuyện gì thế này, tôi sắp phẫu thuật rồi mà bà còn đi vệ sinh. Mã Tiểu Manh: Sợ quá, cứ muốn đi tiểu.

Tối đó ăn cơm tối xong, Minh Lượng ngồi trên sofa xem TV một hồi, lại xem điện thoại một hồi, rồi thấy buồn ngủ nên về phòng mình, cởi áo ra chuẩn bị ngủ; lúc này Mã Tiểu Manh mặc đồ ngủ bước vào.

Minh Lượng bất giác hỏi: “Bà muốn gì?”

“Đừng nghĩ bậy, muốn nói với ông chuyện này thôi.”

“Chuyện gì?”

Mã Tiểu Manh ngồi xuống giường: “Ông còn nhớ Hương Tú ở phố tây Diên Tân không?”

Minh Lượng nhớ ra, Hương Tú này chính là người đã phát tờ quảng cáo Mã Tiểu Manh làm gà ở Bắc Kinh khắp Diên Tân vào hai mươi năm trước; chính cô ta đã ép Minh Lượng và Mã Tiểu Manh đến Tây An.

Minh Lượng: “Nhắc ả làm gì?”

Mã Tiểu Manh: “Hôm nay cô ta gọi điện cho tôi.”

Minh Lượng ngạc nhiên: “Sao thế được?”

“Cô ta nghe ngóng được số điện thoại của tôi chỗ cô tôi ở quê đó.”

“Cô ta muốn làm gì nữa?”

“Cô ta nói muốn đến nhà chúng ta một chuyến.”

Minh Lượng dở khóc dở cười: “Hai người không phải có thù với nhau à?”

Mã Tiểu Manh: “Cô ta nói, hai mươi năm sau, cô ta hối hận về chuyện mình làm năm đó nên muốn giáp mặt xin lỗi tôi.” Rồi nói, “Cô ta nói, cô ta hại cả nhà mình phải bỏ xứ ra đi, nếu không giáp mặt xin lỗi, cô ta chết cũng không an lòng được.” Lại nói, “Cô ta bảo, đời này nếu không giáp mặt xin lỗi tôi, kiếp sau làm trâu làm ngựa cũng không an lòng.” Sau đó nói, “Ông xem, nói tới bước này rồi.”

Lý do Hương Tú đến nhà họ lại nằm ngoài dự liệu của Minh Lượng. Minh Lượng nghĩ, bọn họ cũng có thù với Tôn Nhị Hóa ở chợ đồ ăn Đạo Bắc, nếu như Tôn Nhị Hóa không bị khờ, còn nói muốn xin lỗi ông ta, ông ta có chấp nhận được không? Sau đó lại nghĩ, xem tình huống của mỗi người hai chục năm sau, nếu hai chục năm sau ông ta lăn lộn ở đời không bằng Tôn Nhị Hóa, ông ta sẽ không chấp nhận; nhưng lăn lộn hơn cả Tôn Nhị Hóa thì xem ra cũng chấp nhận nổi; cũng như nói, người ở chỗ cao mới có thể không chấp nhặt người khác. Nhưng vẫn không yên tâm: “Không phải có âm mưu gì chứ?”

Mã Tiểu Manh: “Hai mươi năm qua rồi, mỗi người lưu lạc một phương, bây giờ đều thành hoa tàn ít bướm, cô ta còn bày kế hại tôi gì nữa?”

Minh Lượng nghĩ ngợi, nói vậy cũng đúng, lại hỏi: “Bây giờ cô ta ở đâu?”

Mã Tiểu Manh: “Trong điện thoại cô ta nói mình đang làm công nhân vắt sữa cho một trại bò ở Ulaan Chab.”

Minh Lượng hiểu ra tình cảnh của Hương Tú, bèn nói: “Cũng là chuyện đã qua rồi, đánh kẻ chạy đi không đánh người chạy lại; cô ta muốn đến thì cho cổ đến đi.”

Mã Tiểu Manh: “Tôi cũng nghĩ vậy. Vấn đề là, trong điện thoại cô ta nói không chỉ đến một mình mà muốn dẫn theo một người nữa.”

“Người này là nam hay nữ?”

“Nữ.”

“Nhà mình cũng không sợ thêm một người thì đè sập chỗ nào, bọn họ muốn đến chung thì đến chung đi.”

“Trong điện thoại cô ta nói người bạn nữ này hơi đặc biệt.”

“Đặc biệt kiểu gì?”

“Bị hủy nửa gương mặt rồi.”

Minh Lượng thừ người, chuyện này thì ông ta không ngờ tới: “Người này là ai?”

“Hương Tú nói là bạn thân của cô ta, trước đây cũng làm nghề đó, sau bị mắc một chứng bệnh nhưng không được khám đàng hoàng, bây giờ đang ở với cô ta.”

Hai tay Minh Lượng chụp lên sau đầu, dựa vào giường không nói.

Mã Tiểu Manh: “Không chỉ mỗi ông do dự, vừa nghe nói còn có người bị hủy nửa gương mặt tới đây, tôi cũng do dự.” Lại lưỡng lự nói, “Chi bằng thôi đi?” Rồi nói, “Chúng ta không sao, nhưng còn con nữa.”

Minh Lượng: “Cũng phải.”

Mã Tiểu Manh: “Ngày mai tôi sẽ gọi lại cho cô ta, nếu cô ta đến một mình thì cho cô ta đến, nếu như còn dẫn thêm người bạn đó, vậy thì thôi đi.”

Minh Lượng: “Cũng được.”

Mã Tiểu Manh đứng dậy rời khỏi phòng Minh Lượng.

Hôm đó, Phàn Hữu Chí từng chạy xe buýt Đạo Bắc gọi điện cho Minh Lượng nói, ngày mùng tám tháng này, con gái ông ta là Phù Dung lấy chồng, mời Minh Lượng đến dự đám cưới. Sau đó còn gửi thêm một tin trên wechat: “Mùng tám tháng năm, bãi cỏ phía tây công viên Trung Sơn, Đạo Bắc, trước mười giờ, nhất định phải đến, việc khác nói sau, vân vân.”

Gặp dịp lễ tết, Minh Lượng cũng thường đến Đạo Bắc thăm Phàn Hữu Chí. Hai mươi năm trước, ông ta và Mã Tiểu Manh đến Tây An lần đầu tiên cũng nhờ Phàn Hữu Chí giúp đỡ. Hai mươi năm sau, Phàn Hữu Chí mắc bệnh hoại tử xương đầu gối phải ngồi xe lăn, không thể chạy xe buýt được nữa mà ngồi nhà ăn cơm bảo hiểm.

Chín giờ rưỡi sáng ngày tám tháng năm, Minh Lượng đến bãi cỏ phía tây công viên Trung Sơn Đạo Bắc. Đám cưới của Phù Dung được cử hành trên bãi cỏ này. Minh Lượng đã nghe ngóng trước, biết nhà chồng của Phù Dung là chủ một công ty phát triển bất động sản ở Tây An, họ Kim. Căn hộ nhà Minh Lượng đang ở cũng do bọn họ xây dựng. Sân khấu dựng trên bãi cỏ, cổng cưới dựng bằng hoa tươi, thảm đỏ trải dài từ cổng cưới lên sân khấu; trên bãi cỏ bày trăm bàn tiệc, bàn trải khăn trắng, ghế ngồi xung quanh đều thắt ruy băng lụa đỏ; trên bãi cỏ đông người nhốn nháo, sôi nổi ồn ào; một ban nhạc chơi kèn đồng đang biểu diễn trên sân khấu. Minh Lượng đến trước bàn tiếp khách bỏ hai phong bì trước rồi nhận một đóa hoa cài lên vạt áo trước, chen tới chen lui trong đám người, cuối cùng cũng tìm thấy Phàn Hữu Chí ở một bàn ngoài rìa. Chiếc bàn này được bày dưới một tán cây anh đào trên bãi cỏ. Phàn Hữu Chí mặc Âu phục, thắt cà vạt đỏ, ngồi trên xe lăn.

Minh Lượng bước đến nắm tay Phàn Hữu Chí: “Anh Hữu Chí, cảnh tượng hoành tráng thật, mừng thay cho Phù Dung lấy được nhà chồng tốt.”

Phàn Hữu Chí cười nói: “Chung vui, chung vui nào.” Ông ta kéo Minh Lượng ra ngồi sau lưng mình rồi mới nhỏ tiếng nói, “Nó lấy được người tốt mà lại khổ thân anh.”

Minh Lượng thừ người: “Sao thế?”

“Chê anh bị què, mấy ngày trước còn bảo anh giả bệnh ở nhà, không cho anh đến tham gia hôn lễ, anh tức nghẹn họng, hôm nay phải đến đây bằng được.”

“Nói kiểu gì thế? Cái này nhà thông gia không đúng rồi.”

“Không phải nhà thông gia ý kiến mà là Phù Dung ý kiến, nói nhà thông gia mời khách đều là người có máu mặt, sợ anh làm mất mặt nó.”

Minh Lượng lại thừ người.

Phàn Hữu Chí nói: “Thấy anh tới thì đẩy anh đến chỗ này, không cho anh ngồi bàn chủ nhà ăn cơm.”

Minh Lượng thấy chiếc bàn dưới táng cây anh đào này cách sân khấu đến mười mấy bàn; Minh Lượng khuyên nhủ: “Anh Hữu Chí, ngồi ở đâu cũng vậy, bàn nào đồ ăn bưng lên cũng như nhau thôi.”

Phàn Hữu Chí lại lẳng lặng nói với Minh Lượng: “Trông thì có tiền, nhưng thực tế, nghe ngóng nhà đó không hay đâu.”

“Là sao nhỉ?”

“Cha nó, ngày xưa là du côn ở Đạo Bắc.”

“Anh Hữu Chí ơi, anh hùng không hỏi xuất thân mà.”

Trong lúc nói chuyện, ban nhạc đã chơi đến bài Hành Khúc Đám cưới [1], hôn lễ đã bắt đầu rồi. Trên tấm thảm trải từ cổng cưới lên sân khấu, xuất hiện đầu tiên là hai phù dâu tay treo lẳng hoa, rải hoa mở đường; chú rể cô dâu xuất hiện với hai đôi phù dâu phù rể vây quanh; chiếc váy cưới dài chấm đất của cô dâu được hai đứa bé trai mặc Âu phục phía sau nâng lên; đôi tân nhân bước lên sân khấu, người dẫn chương trình tuyên bố lễ cưới bắt đầu, trước tiên là hỏi quá trình yêu đương của đôi vợ chồng trẻ, khó tránh có người gây rối dưới đài, trên đài dưới đài đều cười rộn lên; tiếp đó người dẫn chương trình lại mời chủ hôn lên sân khấu phát biểu đôi lời; rồi mời hai người chứng hôn lên đài phát biểu; sau đó mời hai tân khách lên đài, xin bọn họ phát biểu mấy câu; bất kể là người chủ hôn hay là người chứng hôn hay là tân khách, bọn họ vừa lên sân khấu là Minh Lượng có thể nhận ra ngay bởi vì đó đều là những gương mặt mà Minh Lượng thường thấy trên truyền hình, những người này đều là người giàu có số một số hai ở Tây An; hoặc là nhà phát triển bất động sản, hoặc là người làm việc trong lĩnh vực tài chính, có người xây dựng mạng xã hội, có người khai thác mỏ vàng, có người khai thác mỏ than; trên sân khấu bọn họ nói cười vui vẻ, tung hứng vui đùa, người dưới đài cũng bật cười từng cơn thích thú, làm vang lên từng trận tiếng vỗ tay; những người ấy phát biểu xong, người dẫn chương trình yêu cầu đôi tân nhân đọc lời thề hôn nhân với đối phương, bảo bọn họ đeo nhẫn cho nhau; sau đó tuyên bố hai người đã thuộc về nhau, bảo bọn họ hôn nhau. Những tiết mục này kéo dài hơn một tiếng đồng hồ, sau đó người dẫn chương trình tuyên bố, nghi thức hôn lễ đến đây kết thúc, bắt đầu khai tiệc.

Minh Lượng biết, trong hôn lễ bình thường hay có tiết mục trưởng bối của hai bên gia đình lên phát biểu, đôi tân nhân sẽ dâng trà cho trưởng bối hai nhà, nhưng hôn lễ hôm nay đã lược bỏ những tiết mục đó; Minh Lượng hiểu nguyên nhân bên trong, cũng biết vừa rồi lời Phàn Hữu Chí nói không phải bịa. Lúc này nhìn Phàn Hữu Chí thấy người ông ta đã đổ đầy mồ hôi, nói thầm với Minh Lượng: “Phù Dung làm vậy cũng đúng, may mà không cho chúng ta lên sân khấu, người nhà họ lên sân khấu đều là nhân vật lớn, nói chuyện thu hút, nếu như bảo anh lên, không bêu xấu mới lạ.”

Minh Lượng trông bộ dạng của Phàn Hữu Chí, cảm thấy ông ta nói vậy cũng không sai, người dưới sân khấu đã sợ đến đổ mồ hôi, trên sâu khấu làm gì không run cầm cập? Ngoại trừ mất mặt cũng chỉ toàn mất mặt, nhưng lại khuyên: “Anh Hữu Chí ơi, đều là người nhà cả, không nên so đo mấy chuyện này.”

Đến khi người phục vụ bắt đầu lên món, người dẫn chương trình lại lên sân khấu nói: “Vừa rồi nghi thức hôn lễ được cử hành vừa trang trọng lại náo nhiệt, sau đây mời mọi người ăn uống no say. Nhân lúc mọi người ăn uống, sếp Kim có mời đến đây một đoàn ca kịch trợ hứng cho mọi người. Có rất nhiều tân khách ở đây đều là người Đạo Bắc, đời sau của người Hà Nam, nghe ca kịch cho thêm phần thân thiết.”

Sau đó là chiêng trống vang lên, tiếng tơ đàn cất lên mở màn cho vở kịch. Diễn viên lên sân khấu, hóa ra là diễn trích đoạn <Đoạn Kiều> trong vở <Bạch Xà Truyện>. Hứa Tiên và Bạch Xà lần đầu gặp nhau ở Tây Hồ, bởi vì trời mưa, bởi vì một cây dù, hai người đưa qua tặng lại bên hồ. Ban đầu Minh Lượng cũng không để ý, cứ nghe rồi nhìn, bất chợt cảm thấy nữ diễn viên diễn vai Bạch Xà trên sân khấu cực kỳ giống với Anh Đào mẹ ông ta; không chỉ tướng mạo giống mà giọng nói hay giọng hát cũng giống; bốn mươi năm trước, Minh Lượng vứt tấm ảnh của Anh Đào xuống Trường Giang xong vẫn mãi không biết bà đã trôi về phương nào; sau này ông ta đưa đạo bà Mã từ Vũ Hán đến Tần Lĩnh có hỏi đạo bà Mã biết mẹ mình xuôi theo Trường Giang trôi dạt đến đâu không, đạo bà Mã nói không biết; Minh Lượng lại hỏi đạo bà Mã sắp đến nơi nào, đạo bà Mã nói đến từ nơi nào thì về nơi đó; lúc ấy Minh Lượng không ngộ ra nơi từ đó đến là nơi nào, bây giờ mới thấy giật mình; giật mình không phải vì ngộ ra nơi đạo bà Mã đến là nơi nào, mà là bất chợt ngộ ra nơi người mẹ Anh Đào của mình từ đó đến, đó chính là ca kịch; trong nhân thế, bà là Anh Đào, nhưng trong kịch bà là một con rắn; hóa ra, khi mẹ không phải người mà nương nhờ một con rắn, bà đã sống lại, giúp Minh Lượng trông thấy bà; nhưng ông ta cũng biết, kịch và con rắn trong kịch là giả; hóa ra mẹ lợi dụng vở kịch để sống lại; đạo bà Mã không biết Anh Đào đi đâu, bây giờ mượn lời đạo bà Mã, Minh Lượng đã ngộ ra nơi mẹ đi đến, chính là ‘không nơi nào cả’. Nghe Bạch Xà hát mãi hát mãi trên sân khấu, Minh Lượng bất giác rơi lệ.

Phàn Hữu Chí: “Sao chú em lại khóc?”

Minh Lượng: “Anh ơi, dù sao cũng là chuyện mừng, em vui quá.”

[1] Bài Wedding March

A Tĩnh:

Có quá nhiều thứ đáng bàn trong chương này.

Đầu tiên là việc khi một người vượt trội so với kẻ thù xưa của mình, người đó sẽ bao dung với kẻ thù hơn. Đó là tâm thế của kẻ chiến thắng. Con người ta, đứng càng cao mới nhìn thế giới càng xa rộng. Khi một người đã trải qua rất nhiều khó khăn rồi nhìn lại sẽ thấy khó khăn hôm qua không đáng là gì, thấy kẻ thù mình cũng chỉ là hòn đá kê chân để mình trở nên mạnh mẽ hơn. Thông điệp này lặp lại trong truyện không chỉ một lần. Chương trước tôi còn chưa kịp bàn đến câu ‘Thứ sạch sẽ đều đến từ thứ không sạch sẽ. Vạn vật cùng chung nguyên lý này’, giờ bàn luôn. Thực ra tôi khá ứa gan khi Minh Lượng chê tiền của Mã Tiểu Manh bẩn, trong khi nhờ có 100k tệ đó ông ta mới mở được quán ăn, từ từ ăn nên làm ra được đến ngày nay mà vẻ vang với mẹ kế hay chê cười Tôn Nhị Hóa. Thế mà ông ta lại hiềm tiền này không sạch, có ý khinh khi công cụ vớt mình lên từ vũng bùn. Nhưng nghĩ lại nếu ai dúi cho tôi tiền bất nghĩa, cỡ tiền trộm cướp mà tôi lỡ xài số đó, chắc tâm trạng tôi cũng ngóc đầu không nổi y như Minh Lượng vậy. Mà điểm này cũng có một cái tốt, đó là khiến người ta không mang tâm lý tự cao tự đại mà luôn khiêm cung cúi mình, vì thứ mình có ngày nay cũng chả vẻ vang gì lắm mà khoe.

Điều này nổi bật lên một góc tương phản cho câu chuyện cuối chương – đám cưới của Phù Dung. Nhà họ Kim là nhà giàu xổi, quen với toàn tai to mặt lớn, trớ trêu thay ông cụ nhà đó từng làm du côn, còn nhà mẹ đẻ Phù Dung thì bần hàn, ba chỉ làm lái xe. Cũng là một kiểu “thứ sạch sẽ bắt nguồn từ thứ không sạch sẽ”. Nhưng xét một khía cạnh nào đó, cả đôi này đều tự ti về xuất thân của mình, luôn nhớ về nguồn gốc “không sạch sẽ” và tìm cách che giấu không cho ai biết, chỉ muốn show ra mặt “sạch sẽ” của mình. Tại sao Minh Lượng rũ bỏ quá khứ không sạch sẽ, đối diện với với Tôn Nhị Hóa bằng tâm thế rất bình thản tự tin, còn vợ chồng Phù Dung thì tự ti đến vậy? Vì Minh Lượng dùng thân phận người lắm tiền hơn, sống tốt hơn nhìn xuống một kẻ không tiền không quyền còn bị lú; trong khi đó vợ chồng Phù Dung phải bấu víu vào tài vật hiện có để mới đủ tư cách chơi với những người quyền thế giàu sang tai to mặt lớn, chỉ cần một vết nhơ, chẳng hạn xuất thân của một trong hai bên gia đình, là đủ xé rách lốt vỏ bọc “sạch sẽ” giàu sang phú quý rồi. Nên Minh Lượng so với nhà họ Kim không giàu, mà tâm lý vững hơn, vì ông ta không chơi với người đẳng cấp cao hơn mình, không sợ bị vạch trần cái “không sạch sẽ”. Y như chương trước ông ta nói, tự biết mình ở tầm nào. Chỉ khi tự lực đứng được ở tầm cao hơn người khác mà không cần phải mượn vỏ bọc nào mới có tâm lý vững vàng được.

Anh hùng không hỏi xuất thân, ờm anh hùng không hỏi xuất thân chớ chẳng có mấy anh hùng dám dõng dạc công khai xuất thân của mình, mà che che giấu giấu chôn luôn càng tốt giống như cô dâu chú rể trong chương này. Sự xấu hổ về dòng dõi nếu bản thân không đủ tự tin về giá trị của mình thì thường chả ai dám nhìn nhận.

Tiếp nữa là đoạn đến từ nơi nào về nơi đó của Anh Đào. Có đứa (bên nhà hàng xóm) comment nói mình tuổi nhỏ không hiểu chỗ này. Với kiến thức nông cạn của mình, tôi chỉ dám nói mình hiểu như nào chứ chẳng dám nói là mình hiểu đúng ý tác giả. Có lẽ ý tác giả khi nói nơi một người từ đó đến chính là nơi định hình hình tượng hay cái mà họ cho là người ngoài định hình nên họ. Bạn quen biết một người thế nào, có đặc điểm gì thì khi gặp những người hay vật có những đặc điểm tương tự, bạn thường được gợi nhắc đến người đó. Miễn là những đặc tính ấy còn, nghĩa là sự gợi nhắc về người đó luôn còn, tức là người đó hiện diện mãi trong tâm trí của người nhớ đến, mà theo cách nói của Minh Lượng chính là ‘sống lại’. Điểm này cũng chính là cái gọi là ‘truyền thừa’ trong văn hóa Á Đông. Khi một người mất, họ để lại cho hậu thế cái gì? Ai sẽ là người tiếp nối những đặc điểm gợi nhắc họ? Khi đặc điểm ấy lan rộng ra một cộng đồng, câu chuyện sẽ thành cộng đồng đó mở rộng đến đâu? Cộng đồng đó càng mở rộng, những người trong cộng đồng đó có thể sống mãi – bằng những đặc tính truyền lại cho hậu thế và gợi nhắc người khác về sự hiện diện của mình hay cộng đồng mình.

Minh Lượng nói Anh Đào không trôi về đâu cả, vì với Minh Lượng, Anh Đào đã sống lại, Anh Đào sẽ sống qua mỗi vai diễn bạch xà trong vở Bạch Xà Truyện. Tương tự như câu chuyện về người cha của bà nội Minh Lượng. Con da vàng nói bà sẽ sớm gặp được ba của mình thêm lần nữa, chính là nhìn thấy bóng lưng của một người rất giống ba của bà. Chỉ cần hình ảnh đó còn trong tâm trí bà ngày nào thì bà còn bắt gặp ba của mình hiện diện trên đời ngày đó. Ý nghĩa của sự tồn tại vĩnh viễn, hay sống mãi, chính là ở chỗ mình có gì đáng để người người nhớ đến, lưu truyền hậu thế không. Chẹp, tư tưởng đậm chất Á Đông chứ đùa.

Ờm, còn thực tế với bối cảnh trong truyện thì không biết Anh Đào đã trả nợ xong 45 câu chuyện cười còn lại cho Diêm La với Chung Quỳ để còn đi đầu thai chưa =)).

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

MỤC LỤC

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x