MỘT NGÀY NHƯ THỂ BA THU – CHƯƠNG 1

By

·

16–24 phút

MỘT NGÀY NHƯ THỂ BA THU

Chương 1: Lời tựa của tác giả và Tranh của chú sáu.

Dịch (láo): A Tĩnh

#nhatnhattamthu #motngaynhuthebathu #luuchanvan

Viết bộ tiểu thuyết này xong, ngoảnh đầu nhìn lại, tôi muốn nói đôi lời về ý tưởng sơ khai của bộ tiểu thuyết này.

Vì chú sáu, vì tranh của chú sáu.

Chú sáu từng kéo đàn cho một đoàn ca kịch huyện Diên Tân. Vì ở nhà chú xếp thứ sáu nên thời còn trẻ, mọi người gọi chú là thằng sáu, hoặc anh sáu; lớn lên rồi, đám nhỏ lại gọi chú là chú sáu. Năm tôi tám tuổi, đoàn ca kịch huyện Diên Tân tuyển học viên, tôi cũng dự tuyển. Lên đài mới hát được hai câu thì đã bị trưởng đoàn đuổi xuống. “Một đấng anh tài, hát như cắt tiết, muốn học cho hát khó nghe như vậy khó lắm chứ đùa” – Trưởng đoàn nói. Khi đó, mẹ tôi đang bán xì dầu trong cửa hàng bán lẻ thực phẩm thứ yếu ở phố đông huyện thành, chú sáu đi mua xì dầu nói với mẹ tôi rằng, lúc thằng con bà lên đài, tôi cố lắm rồi, hạ điệu đàn xuống mức thấp nhất. Mẹ tôi nói, bùn nhão không đắp nổi tường. Chú sáu ở đoàn ca kịch ngoài kéo đàn ra còn vẽ phối cảnh nữa.

Về sau nhà nào cũng mua TV, không ai xem kịch nữa, thế là đoàn kịch giải tán, chú sáu đến xưởng cơ giới quốc doanh trong huyện làm nghề đúc; sau nữa xưởng cơ giới đóng cửa, chú lại đến xưởng kéo sợi trong huyện làm sửa máy. Ngoài giờ làm việc, chú sáu chẳng buồn rớ tới dây đàn mà lại đi thu dọn mớ đồ thủ công phối cảnh đã vẽ năm đó, ở nhà vẽ tranh. Trước xuân, chú còn viết câu liễn tết rồi đem lên chợ bán, mua thêm đồ dùng trong nhà.

Có một năm trung thu, tôi về Diên Tân thăm người thân, đụng mặt chú sáu trên đường, nhắc đến chuyện tôi dự tuyển đoàn kịch năm đó, chú sáu nói, may mà năm đó không đậu, bằng không bây giờ thất nghiệp rồi. Hai người đều cười. Chú sáu hỏi: “Nghe nói giờ mày viết tiểu thuyết à?” Tôi nói: “Chú à, lầm đường lỡ bước thôi”. Tôi lại hỏi chú: “Nghe nói chú đang vẽ tranh à?” Chú sáu nói: “Thím mày ngày nào cũng mắng tao, nói tao bị thần kinh”. Lại nói: “Thần kinh thì thần kinh, không có cái gì giết thời gian, buồn bực chết đi rồi.” Tôi nói: “Còn chả phải, viết tiểu thuyết cũng thế, chính là để cho khỏi buồn chứ có phải chuyện kinh thiên động địa gì đâu.” Hai người lại cười.

Sau đó tôi tặng chú mấy quyển tiểu thuyết tôi viết, chú mời tôi về nhà chú ngắm tranh. Ngày lại qua ngày, thế là thành quen. Năm nào cứ vào dịp thanh minh, hoặc lúc đoan ngọ, khi là trung thu, hay là dịp tết, tôi về nhà thăm người thân cũng đồng thời đi ngắm tranh của chú sáu. Chú cứ mải miết vẽ, tôi cứ mải miết xem. Chú sáu hay vẽ nhất là Diên Tân, nhưng không phải Diên Tân bây giờ. Diên Tân không nằm bên Hoàng Hà, nhưng huyện Diên Tân trong tranh chú vẽ đối diện Hoàng Hà, nước Hoàng Hà cuộn sóng ngất trời; có một bến đò bên sông. Diên Tân là một bình nguyên, không hề có núi, nhưng huyện Diên Tân mà chú vẽ lại tựa lưng vào một ngọn núi nguy nga, sau núi lại có núi; trên đỉnh núi, còn có tuyết chất thành lớp chẳng tan. Có một năm vào tết đoan ngọ, ngắm tranh của chú, thấy dưới ánh trăng có một thiếu nữ thanh tú đang cười lăn cười bò, kế bên còn có một cây hồng, trên cây trổ đầy trái hồng chẳng khác chi mấy quả đèn lồng, tôi bèn hỏi: “Đó là ai vậy?” Chú sáu nói: “Tiên nữ lạc bước Diên Tân”. Tôi hỏi: “Nàng ta cười gì thế?” Chú sáu nói: “Bước vào giấc mơ người khác nghe kể chuyện cười, cho vui thôi.” Lại nói, “ai bảo người Diên Tân chúng ta khoái kể chuyện cười chứ?”

Lại xem một bức họa khác, trong đó vẽ mấy cái đầu nam đầu nữ, túm tụm với nhau, há to mồm cười ngặt nghẻo. Bức khác nữa lại trái ngược hoàn toàn, đầu người chụm lại, mày mắt nghiêm trang, nhắm cả mắt lại. Cười ngặt nghẻo thì tôi còn hiểu được, người Diên Tân khoái kể chuyện cười, còn nhắm mắt nghiêm mặt là kiểu gì vậy?

Tôi hỏi chú sáu. Chú sáu nói: “Bị chuyện cười đè chết đó.” Lại nói: “Có người thích chuyện tếu lâm, cũng có người thích nghiêm túc, cũng tức là, bị nghiêm túc đè chết.”

Trong một bức tranh khác, có một quán cơm, một người nằm dưới bàn, mọi người vây xung quanh, trên bàn cơm thừa canh cặn, trong đó có một cái đĩa còn thừa lại cái đầu cá, đầu cá đang cười. “Người nằm trên đất sao thế?” – Tôi hỏi. Chú sáu nói: “Gã đang ăn cá, bàn bên cạnh có người kể chuyện cười, gã mới bật cười, cười xong nghẹn xương cá chết luôn, cũng có khi, là bị chuyện cười làm nghẹn chết đó.”

Tôi thấy tên tranh đề là: Ở nơi công cộng, chớ kể chuyện cười.

Tôi nói: Chú sáu, chuẩn hậu hiện đại rồi.

Chú sáu xua tay: Mấy từ này tao chả hiểu đâu, vẽ đại ra thôi.

Tôi nói: Vẽ đại cũng ra, là một cảnh giới đó.

Chú sáu lắc đầu: Lời không hết ý, lời không hết ý.

Ngày đó có thím sáu kế bên. Hồi trẻ thím sáu cũng hát trong đoàn kịch, vai đao mã đán [1]; sau khi đoàn kịch giải thể thì sang làm đóng gói kẹo cho xưởng kẹo. Thím sáu xen vào: “Đã muốn vẽ thì sao không vẽ cái gì hữu dụng ấy?” Chú sáu nói: “Hữu dụng là cái gì?” Thím sáu nói: “Vẽ hoa nở sang giàu, chim khách đậu cành cây, phượng hoàng đón nắng, cho dù có vẽ môn thần cũng có thể giống như câu liễn đem được ra chợ bán.” Lại nói: “Giấy bút mực nghiên, màu mực các loại, tốn biết bao nhiêu là tiền.” Chú sáu không thèm trả lời thím sáu, tôi cũng chả làm trung gian giải thích làm gì. Chuyện này có giải thích cũng giải thích không nổi.

Có một năm đoan ngọ, lại thấy một bức họa khác, một cô gái đang múa trên Hoàng Hà, như tiên nữ phi thiên, như Hằng Nga đuổi trăng vậy. Tôi hỏi: “Tiên nữ này là ai?” Ngày đó thím sáu không có ở bên, chú sáu nói: “Là một quỷ hồn.” Tôi hỏi: “Ai vậy?” Chú sáu hạ giọng nói: “Trước đây cũng hát trong đoàn kịch, với chú mà nói, cũng có thể coi như hồng trần tri kỷ, về sau cưới người khác, sau này vì bó rau hẹ mà thắt cổ. Mấy ngày trước chú nằm mơ, thấy cô ấy đang nhảy múa trên sông thế này.” Lại nói: “Nhảy mãi nhảy mãi.” Rồi nói thầm: “Đừng nói thím sáu mày biết đấy.”

Có một năm trung thu, lại thấy một bức họa khác, có một người đàn ông bụng chứa người đàn bà, đang ngồi trên tàu hỏa. Tôi chỉ vào người đàn bà trong bụng người đàn ông: “Ai thế?” Chú sáu nói: “Cũng là một quỷ hồn.” Tôi hỏi: “Sao lại chạy vào trong bụng người ta ngồi thế?” Chú sáu nói: “Dựa vào người khác, chẳng qua chỉ là nghìn dặm tìm người thân thôi.”

Có một năm tiết thanh minh, lại thấy một bức họa khác, chú sáu vẽ cảnh địa ngục, trong chúng tiểu quỷ, có con đang bị cắt mũi, có con đang bị khoét mắt, có con đang bị cưa làm hai nửa, có con đang bị treo trên lửa nướng, có con đang bị vứt lên núi đao, cách một bức tranh mà tôi còn nghe được tiếng quỷ khóc sói gào, vậy mà Diêm La trong tranh đó lại cười. Tôi hỏi: “Cảnh tượng máu me như vậy, sao Diêm La lại cười?” Chú sáu nói: “Có một tiểu quỷ trước khi sắp chết đã kể một câu chuyện cười.” Diêm La hỏi: “Ngươi là người Diên Tân chứ gì?” Nghe chú sáu nói thế, tôi cũng lắc đầu cười. Chú sáu lại nói, “nhìn chung thì, Diên Tân lấy cười làm chủ đạo.”

Lại nhìn một bức tranh khác, có người trông như đạo bà, miệng niệm mấy từ gì đó, đang dùng kim thép cắm lên một đám hình nhân bằng giấy trên ván gỗ, tên tranh là: Không thù không oán. Tôi hỏi: “Không thù không oán, còn đâm người ta làm gì?” Chú sáu nói: “Công việc thôi.” Tôi hiểu ra, mồ hôi chảy sau lưng đầm đìa. Chú sáu cũng vẽ người trong đời sống hằng ngày, như Ngô Đại Chủy bán canh dê ở cửa bắc, ông Chu kho giò heo ở cửa tây, ông Đổng mù bói toán ở đường đông, còn có Quách Bảo Thần quét đường ở đầu ngã tư các thứ nữa. Lúc đó bút pháp vô cùng tả thực, được hoàn nguyên thành các bản phác thảo. Chú sáu trỏ vào Ngô Đại Chủy: “Cả một huyện Diên Tân, canh dê chỉ có gã nấu là ngon, tiếc thay mới qua bốn mươi đã chết rồi.” Rồi nói: “Ăn cho mập thây.” Lại nói tiếp: “Nói năng thận trọng, bụng đầy tâm sự, bị tâm sự đè chết.” Chú sáu trỏ vào ông Đổng bói toán: “Ông Đổng này, suốt đời nói nhảm.” Rồi nói: “Vấn đề người sáng mắt giải quyết không được, chỉ đành tìm đến kẻ mù”; lại nói: “Chuyện giải quyết bình thường không được, đành đi kiếm người nói nhảm.” Rồi trỏ vào Quách Bảo Thần: “Cả đời ông Quách quét đường, ông Quách nói, kiếp trước chắc ổng làm thủ tướng, kiếp trước giết người như rạ nên kiếp này cứ phải quét tới quét lui thế này.” Rồi nói: “Ông Quách đầu óc bã đậu, vậy mà con trai ổng lại sang Anh du học, đúng là trừ trừ thành cộng.” Chú sáu cũng từng vẽ một bức tranh lớn hai mét vuông, cũng là ký họa, trong tranh toàn là đồng nghiệp trong đoàn kịch năm đó, với đủ mọi thần thái. Chú sáu chỉ vào người trong tranh, “người này tên Trần Trường Kiệt, sau khi đoàn kịch giải tán, vợ gã uống thuốc trừ sâu chết, gã đi Vũ Hán, làm thợ đốt lò trong kho đầu máy; đây là Tôn Tiểu Bảo, năm đó hát vai gã xấu [2], sau này đi Đại Khánh, làm khoan giếng ở mỏ dầu Đại Khánh”; chú lại trỏ một đứa bé bốn năm tuổi trong tranh, chính là con trai của Trần Trường Kiệt, tên Minh Lượng, hồi còn nhỏ, ngày nào cũng chơi sau cánh gà, sau khi trưởng thành, vì một nguyên nhân khó nói mà từ Diên Tân phải đến Tây An. Lại trỏ vào một cô gái trong tranh, nói nhỏ với tôi rằng: “Cô này, chính là cô gái múa trên Hoàng Hà đó.” Tôi hiểu ý, đó chính là hồng trần tri kỷ năm xưa của chú sáu. Xáp lại nhìn cho kỹ, nói: “Quả nhiên là xinh đẹp.” Chú sáu nói: “Chuyện xưa chẳng dám nhớ về.” Rồi nói: “Trên bức tranh này, có bảy tám người đã mất rồi.” Tiếp đó chú nói: “Lúc vẽ bức tranh này, đã quên đi rất nhiều người rồi, nên không vẽ lên được.”

Tết năm nay, lại thấy một bức họa, trong đó có một đứa bé chạy băng băng men đường ray xe lửa, trên trời bay phất phới con diều, một con trâu già sau lưng. Tôi hỏi: “Đứa bé này chạy trên đường sắt chi vậy?” Chú sáu nói: “Nó bắt ngược tàu hỏa.” Tôi nhìn tên tranh thấy ghi “Ngược tuyến”. Tôi nói: “Thằng bé này đúng là quá sơ ý.” Chú sáu nói: “Trong cuộc sống, chuyện chúng ta bắt tàu ngược tuyến bộ ít à?” Tôi hiểu ra, gật đầu. Chú sáu lại vẽ một quyển dài mười mét, nói: “Như <Thanh Minh Thượng Hà Đồ> ấy mà”, cũng là phác họa kiểu công bút, cảnh vật chính là phiên chợ ở bến đò Diên Tân, nhưng người trong tranh toàn mặc trang phục triều Tống; Hoàng Hà sóng vỗ ầm ầm; dưới cây liễu ven bờ, có người thổi sáo, có người kéo đàn; trên sông có ngư phu đứng trên đầu thuyền bắt cá, trên lưới, không phải cá chép Hoàng Hà, cũng không phải cá trắm, cá trích hay cá mè hoa, mà là một người cá; người đẩy xe, người quang gánh, người chăn gia súc, nhộn nhịp tấp nập, đi trên chiếc cầu vắt ngang bến đò; ngoài mặt tiền một cửa tiệm dưới cầu có treo một bức hoành phi, trên đó đề bốn chữ “một ngày ba thu”. Tôi chỉ vào bức hoành nói: “Chú sáu, bức hoành cửa hiệu, chẳng ai đề chữ kiểu này, người ta đề “mua may bán đắt” hay “tiền vào như nước” thôi.” Chú sáu cười: “Hôm đó uống say, vẽ chỗ bức hoành nhỏ quá, chứa không nổi mấy chữ lớn như “mua may bán đắt” hay “tiền vào như nước”, chỉ đành đề “một ngày ba thu” thôi, “một ngày ba thu” ít nét hơn.” Công bút của chú sáu còn vẽ vài con vật, như chó, như mèo, như hồ ly, như chồn vàng, đủ mọi thần thái; trong đó có con khỉ, tựa mình vào cây liễu bên bến đò, hai tay ôm bụng ngủ, cổ nó đeo một chiếc vòng sắt, vòng sắt nối với dây sắt, dây sắt nối vào cây liễu, dây sắt thừa ra, rũ xuống bên người nó; đầu mình tay chân nó chỗ nào cũng đầy vết thương, còn chưa kết vảy. Tôi hỏi: “Trông mấy nốt chai kết trên mông với bàn chân nó, đồng tiền dày thế, chắc là tuổi tác không nhỏ nhỉ?” Chú sáu nói: “Đó là tranh tự họa của tao đó.” Tôi chỉ vào mấy vết thương trên đầu và mình khỉ: “Sao bị đánh đập vậy?” Chú sáu nói, “diễn không nổi trò nữa, không muốn diễn, nhưng người xiếc khỉ không cho, lẽ nào nó còn không bị đánh.”

Trung thu năm kia có về, nghe nói thím sáu mắc chứng u uất. Đến nhà chú sáu ngắm tranh, phát hiện quả nhiên không ngoài dự đoán. Người khác mắc chứng u uất thì không thích nói gì, thím sáu lại thao thao bất tuyệt, nói hết chuyện không như ý bình sinh; tất tần tật chuyện không như ý đều có liên quan đến chú sáu. Chú sáu cúi đầu không nói, chỉ trỏ vào tranh bảo: “Ngắm tranh.” Trong lúc người ta thao thao bất tuyệt, tôi còn tâm trạng nào mà ngắm tranh chứ? Ngắm sơ qua hai ba bức, bèn nói buổi trưa nhà có khách, rồi rời khỏi nhà chú sáu.

Tết năm ngoái về, nghe nói chú sáu mất, tim như thắt lại. Đã mất được hơn tháng rồi. Đến thăm nhà chú sáu, chú sáu đã thành ảnh treo tường. Phiếm chuyện với thím sáu về chú sáu, thím sáu nói: “Sáng ngày hôm đó, chú sáu đang húp súp cay thì nghẹo đầu một cái khó thở”, rồi lại bắt đầu trần thuật nào đã kéo chú sáu đến bệnh viện cấp cứu, mà cũng không cứu được, lúc lâm chung còn không để lại được câu nào, tiếp theo là chuyện báo cho bạn bè thân hữu như nào, lo liệu tang lễ chú sáu ra sao; nghe tốc độ và mức độ thành thạo của mấy lời này, không khác gì hát kịch thuộc thoại, bèn biết ngay mấy câu này thím đã nói với người ta không biết bao nhiêu lần. Tôi đột nhiên nhớ ra một chuyện, ngắt lời thím sáu:

“Tranh chú sáu đâu?”

“Đốt hóa vàng hôm ổng chết rồi.”

Tôi thừ người: “Tranh đẹp thế, sao lại đốt đi?”

“Mấy đồ đồng nát, vẽ toàn thứ vô dụng tầm phào, trừ ổng thích ra có ai thích đâu.”

“Thím ơi, con thích mà.”

Thím sáu vỗ tay đét một cái: “Quên mất mày, nếu mà nhớ sớm thì đã để lại cho mày rồi.”

Lại nói, “Người chết không thể sống lại, giấy đốt thành tro, cũng chẳng tìm về nổi, chỉ đành thế thôi.”

Cũng chỉ đành thế thôi. Tro tàn tranh của chú sáu, hôm nay không biết bay đến phương nào rồi. Đêm hôm đó, tôi mơ thấy chú sáu ở bến đò Diên Tân, tuyết bay đầy trời, bên bờ, chú sáu mặc áo dài trắng, vặn người, như đang hát kịch, cả bầu trời tuyết bay phất phới, sau đó tuyết bay phất phới đầy trời lại biến thành cả một trời toàn tranh của chú, chú nhìn tôi mà giang tay hát: “Thế nào, thế nào?” “Làm sao, làm sao?” Tỉnh dậy, tôi ngủ lại không được. Một tháng sau, tôi hạ quyết tâm, quyết gom lại những bức họa đã cháy thành tro của chú sáu. Tôi không biết vẽ, nhưng tôi có thể liên kết những bức tranh khác nhau mà chú sáu đã vẽ, viết lại thành một bộ tiểu thuyết. Hoặc giả, không thể ngắm tranh chú sáu nữa, chỉ đành viết bộ tiểu thuyết này, kỷ niệm quãng thời gian qua lại giữa tôi và chú sáu, lưu giữ lại Diên Tân mà chú sáu vẽ ra.

Nhưng mà đến lúc làm thật, mới biết biến tranh vẽ thành tiểu thuyết không dễ dàng gì. Mỗi một bức tranh là một mẩu chuyện đời thường, giữa chúng chẳng có mối liên hệ gì, còn tiểu thuyết nhất định phải liên kết được nhân vật và câu chuyện; hơn nữa, có những bức tranh chú sáu vẽ thuộc về hậu hiện đại, người và hoàn cảnh biến dạng, khoa trương, vượt qua sinh tử, thần thần quỷ quỷ, có những bức tranh lại tả thực vô cùng, vẽ đời sống sinh hoạt bình thường, vẽ người trong đời sống bình thường, vẽ cuộc sống tiếp diễn ngày lại qua ngày trong đời sống bình thường; hai cái này, phong cách không hề nhất quán; vẽ tranh thì bức này bức kia, có thể làm vậy được, nhưng thủ pháp miêu tả và phong cách văn chương trong một bộ tiểu thuyết nhất định phải đồng nhất. Sau khi tôi viết được hai chương, từng muốn vứt luôn, nhưng lại nghĩ, tôi vốn là gã thư sinh tay trói gà không chặt, chẳng qua chỉ dùng bút mực giải sầu cho người ta. Đã từng ngầm đồng ý với chú sáu thì phải dùng chút kỹ năng của mình, nhặt về tình cảm và tâm tình của bạn bè đã bị người khác lãng quên. Không thể hứa mà không làm, bỏ dở giữa chừng được, thôi thì gắng gượng mà làm cho xong.

Trong lúc viết, tôi cố gắng làm cho những miêu tả hậu hiện đại, biến dạng, khoa trương, vượt qua sinh tử, thần thần quỷ quỷ và cuộc sống đời thường xuất hiện trong tranh được hài hòa với nhau; dùng cuộc sống đời thường làm nền tảng. Còn biến dạng, khoa trương, vượt qua sinh tử và thần thần quỷ quỷ để chắp vá và thêm màu sắc; phần lớn chương tiết đều lấy cuộc sống đời thường làm chủ đạo, có một số chương, lại xuất hiện hậu hiện đại thần thần quỷ quỷ, chọc cười người khác, nghĩ độc giả chắc cũng không xem là thật; lúc chọn lựa nhân vật chính, tôi chọn ra mấy người từ bức phác họa nhân vật đoàn kịch dài hai mét vuông, lấy đó nối liền đầu đuôi tiểu thuyết; đương nhiên một trong các vai nữ chính không thể thiếu được hồng trần tri kỷ của chú sáu; sở dĩ làm vậy, là vì xét thấy những nhân vật đó thân thiết với chú sáu hơn. Trong những nhân vật đó, cho người đã rời Diên Tân giữ vai trò chủ đạo là bởi vì chỉ có người rời khỏi Diên Tân mới có thể hiểu Diên Tân nhiều hơn; mà tranh của chú sáu bao giờ cũng vẽ Diên Tân; đây chính là sự khác biệt giữa tiểu thuyết và hội họa; phương diện này đã vượt ra khỏi tranh, mong chú sáu đừng trách. Đồng thời, mở rộng khung cảnh cũng là để xê dịch luân chuyển chừa ra một khoảng không gian cho tiểu thuyết. Còn nữa, bởi vì tranh của chú sáu đã cháy ra tro rồi, đối với bản thân tranh của chú sáu cũng như với ký ức đã qua, với ký ức trong tranh của chú sáu trong ký ức, chỉ có thể tái hiện tình cảnh trong tranh, khó tránh có chút sai lệch. Sai một ly đi một dặm, khó lòng về được cảnh giới trong tranh của chú sáu; nếu như vẽ hổ không xong thành vẽ chó, cũng xin chú sáu đừng trách. Nói tóm lại thì, trong tiểu thuyết, có chỗ trung thành với chú sáu, có chỗ phản bội chú sáu, đó là chuyện mà hồi mới viết tôi cũng chẳng ngờ được. Nhưng một tấm lòng son, đất trời chứng giám. Chú sáu từng nói, Diên Tân lấy cười làm chủ đạo, này cũng coi như đang đùa vậy.

Cảm ơn mỗi người bạn đã đọc quyển sách này. Tôi cũng thay chú sáu cảm ơn mọi người.

[1] Đao mã đán: Một trong các vai “đán” trong hí kịch Trung Quốc, cái gọi là “đán” ý chỉ các nhân vật nữ không cùng tuổi tác, thân phận. Đao mã đán thường là các các cô gái cân quắc anh hùng, vung đao cưỡi ngựa, võ nghệ cao cường, đa số làm đại tướng hay đai nguyên soái, cho nên thường có khí thế.

[2] Gã xấu (Sửu sinh): Một trong các vai “sinh” trong hí kịch Trung Quốc, thường được hóa trang xấu xí bằng cách quét một lớp vôi trắng lên mũi. Có khi là vai tấu hài, có khi là vai ngốc nghếch, có khi lại là vai ưa vận động, nhưng tóm lại hóa trang sẽ xấu.

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

MỤC LỤC

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x