MỘT NGÀY NHƯ THỂ BA THU – CHƯƠNG 13.3 (2)

By

·

29–44 phút

MỘT NGÀY NHƯ THỂ BA THU

CHƯƠNG 13: Minh Lượng – 13.3: Lại hai mươi năm sau

Dịch (láo): A Tĩnh

#nhatnhattamthu #motngaynhuthebathu

(2)

Minh Lượng bắt xe lửa đi Vũ Hán. Trong điện thoại, Tần Vi Vi nói rằng sợ Minh Lượng không rành Vũ Hán nên bà sẽ đến trạm xe rước; đôi bên đã hơn bốn mươi năm rồi không gặp, sợ gặp không nhận ra nhau nên bà sẽ giơ cao một tấm bảng viết ba chữ “Trần Minh Lượng” trên đó. Minh Lượng xuống ở trạm xe lửa Vũ Xương, ra khỏi cổng soát vé, quả nhiên thấy ngay tấm bảng “Trần Minh Lượng” trong đám người. Người giơ cao tấm bảng là một người phụ nữ trung niên, hơi béo, đeo mắt kính gọng đen. Sau khi hai người nhận ra nhau, Tần Vi Vi cất tấm biển vào, hai người cùng bước ra ngoài.

Vừa đi, Tần Vi Vi vừa nói: “Hơn bốn mươi năm không gặp, có chuyện này chúng ta phải thảo luận với nhau trước đã.”

“Chuyện gì?”

“Hai người chúng ta xưng hô với nhau thế nào đây?”

“Tôi sao cũng được, tùy cô.”

“Lúc còn nhỏ, hai chúng ta không gọi nhau là ‘anh trai’ hay ‘em gái’, hơn bốn mươi năm rồi, tuổi tác cũng lớn thế này rồi, đột nhiên gọi thế có khó chịu lắm không?”

“Khó chịu.”

“Nói chuyện ậm ờ, kiểu ‘đằng ấy’, rõ ràng cũng không lịch sự.”

“Không thì cứ gọi tên nhau vậy.”

“Anh lớn hơn tôi, gọi thẳng tên tôi thì được, nhưng tôi gọi thẳng tên anh thì quả là không biết điều rồi.”

“Vậy rồi làm sao?”

“Con anh tên gì?”

“Tôi có một con trai, tên Trần Hồng Chí.”

“Tôi có cô con gái, tên Triệu Thần Hi. Chi bằng, cứ gọi ba của Hồng Chí với mẹ của Thần Hi, anh thấy được không?”

Minh Lượng cười: “Mẹ Thần Hi này, cô có đầu óc hơn tôi thật.”

“Nếu thật tôi có đầu óc hơn anh, tại sao tôi chỉ là một viên chức bình thường còn anh lại làm ông chủ lớn chứ?” Tần Vi Vi lại nói, “Tình cảnh của anh, tôi nghe chú Lý Diên Sinh nói cả rồi.”

“Ông chủ lớn cái gì, chỉ là tên bán giò heo thôi.”

“Còn gói há cảo nữa, gói thành cả công ty lên sàn.”

Minh Lượng bèn hỏi Tần Vi Vi làm công việc gì ở Vũ Hán, Tần Vi Vi nói mình đang làm kế toán ở phòng tài vụ thuộc tổ hậu cần ở kho đầu máy Vũ Hán. Công việc này là do ông cậu sắp xếp cho trước khi qua đời hơn hai mươi năm trước. Minh Lượng nhớ ra ông cậu của Tần Vi Vi chính là cậu của mẹ kế Tần Gia Anh, từng làm trưởng kho ở kho đầu máy Vũ Hán năm đó; ông cậu này đã mất được hơn hai mươi năm rồi, hết thảy đều là cảnh còn người mất, cũng không có gì để hỏi.

Hai người ngồi taxi, Tần Gia Anh bảo taxi lái đến bệnh viện dành cho viên chức của kho đầu máy Vũ Hán. Từ cửa sổ taxi nhìn ra, đường lớn ngõ nhỏ ở Vũ Hán hay những tòa cao ốc thấp thấp cao cao đều khiến Minh Lượng cảm thấy xa lạ, dường như hơn bốn mươi năm trước Vũ Hán không trông như thế này. Thực ra những nơi này của hơn bốn mươi năm trước trông như thế nào, trong khoảng thời gian hơn bốn mươi năm này đã xảy ra những sự thay đổi nào, Minh Lượng cũng không rõ; bởi vì hơn bốn mươi năm trước, ông ta vốn dĩ chưa từng bước đến những nơi này; từ năm ba tuổi đến sáu tuổi ở Vũ Hán, những nơi ông ta từng trú lại chỉ có ký túc xá của kho đầu máy và nhà bọn họ ở Hán Khẩu; những nơi khác ông ta rất ít khi đặt chân. Còn nhớ ở trước ký túc xá kho đầu máy có một cái sảnh lớn, đằng sau là một nhà ăn; sau này Trần Trường Kiệt kết hôn với Tần Gia Anh, bọn họ dời nhà sang ở ngõ Tín Nghĩa; ra khỏi ngõ Tín Nghĩa là cửa Đại Trí, từ cửa Đại Trí đi về bên trái là xóm Tam Đức, đi về bên phải là phố Thiên Thanh; đi qua phố Thiên Thanh là ngõ Nghĩa Hòa, đi xa nữa thì không biết.

Có những chuyện hơi đặc thù, hơn bốn mươi năm rồi mà vẫn nhớ. Ví như, hồi học lớp 1 cấp tiểu học, thầy dạy ngữ văn dạy từ mới, dạy đến chữ “Tuyết”, thầy đọc trước cho cả lớp đọc theo: Tuyết, tuyết lớn, gió tuyết đan xen. Bởi vì mùa đông ở Vũ Hán rất ít khi có tuyết, tuyết rơi cũng tựa như những vì sao lấp lánh, buổi sáng tuyết rơi, đến trưa thì dừng, trên lớp có học sinh hỏi: Thưa thầy, tuyết rơi chừng nào mới là tuyết lớn? Thầy: Tuyết rơi nhiều thì là tuyết lớn, chúng ta đang học chữ, chỉ cần đọc theo là được rồi; Minh Lượng từ Diên Tân đến, mùa đông ở Diên Tân thường có tuyết lớn và gió tuyết đan xen, khi Minh Lượng đọc đến từ ‘tuyết lớn’ thì dường như nghe thấy tiếng tuyết rơi dầy như lông ngỗng trên đường phố Diên Tân; lại nhớ đến năm mình hai tuổi, tuyết rơi cả ba ngày ba đêm. Sáng sớm tinh sương, bà nội nhét bánh táo lên chiếc xe cút kít, ôm Minh Lượng ra ngồi trên xe, còn bà nội thì đẩy chiếc xe cút kít ra ngã tư đường bán bánh táo; ra tới đường lớn, xe cút kít trượt ngã, bánh táo rơi đầy đất, Minh Lượng cũng ngã ra nền tuyết. Bà nội và Minh Lượng đều chẳng màng nhặt bánh táo lên, cùng nhau bật cười ha hả. Minh Lượng còn nhớ, người Vũ Hán gọi ‘ăn sáng’ là ‘ăn sớm’.

Taxi chạy qua cầu Trường Giang, bốn mươi năm trước, Minh Lượng cũng từng đi qua Trường Giang và cầu Trường Giang, nhưng ông phát hiện ra Trường Giang và cầu Trường Giang bây giờ đã khác hẳn hơn bốn mươi năm trước rồi. Tần Vi Vi nói, cây cầu mà chúng ta đi qua là cầu Trường Giang thứ ba; lại chỉ mấy cây cầu lớn đằng xa, đó là cầu Trường Giang thứ hai, kia là cầu Trường GIang thứ nhất; hồi chúng ta còn nhỏ, chỉ có mỗi cầu Trường Giang thứ nhất.

Đến bệnh viện dành cho viên chức kho đầu máy Vũ Hán, lên đến lầu năm, Tần Vi Vi dẫn Minh Lượng vào một phòng bệnh. Trong phòng có năm chiếc giường đều có bệnh nhân nằm cả. Tần Vi Vi dẫn Minh Lượng đến trước chiếc giường ở trong cùng. Có một ông lão đang ngồi trên giường, đồi mồi đầy mặt, mình khoác áo bông, đang uống nước. Nếu như không phải đang trong bệnh viện, gặp phải người này ở bất cứ nơi nào, Minh Lượng đều không nhận ra đấy chính là Trần Trường Kiệt ba mình. Trần Trường Kiệt trong trí nhớ của Minh Lượng không trông như thế này. Ông lão trông thấy Minh Lượng, cũng không nhận ra ông là ai, chẳng nói gì; nghe Tần Vi Vi nói, Trần Trường Kiệt mới mở to mắt: “Minh Lượng? Sao con lại đến đây?” Lại nói, “Ai bảo con đến đây?”

Tần Vi Vi ở cạnh bên nói: “Ba, là con bảo anh ta đến.”

Bên cạnh giường bệnh của Trần Trường Kiệt còn có một bà lão đang đứng. Bà lão cũng đang quan sát Minh Lượng, Minh Lượng còn có thể nhận ra, đây chính là mẹ kế Tần Gia Anh. Tần Gia Anh lúc trẻ thì gầy, bây giờ vẫn gầy.

Minh Lượng chủ động gọi: “Mẹ.”

Mắt Tần Gia Anh đỏ lên: “Cũng hơn bốn mươi năm rồi.”

Minh Lượng: “Còn không phải, con cũng sắp thành ông lão rồi.”

“Năm đó con nói chạy là chạy, làm mẹ sợ chết.”

“Năm đó tuổi nhỏ, không đủ chín chắn.”

Tần Vi Vi: “Chuyện năm đó thôi đừng nói nữa.”

Minh Lượng: “Ba con sao bệnh vậy?”

Trần Trường Kiệt: “Già rồi.”

Tần Gia Anh: “Già hồi nào, tức mà.”

Minh Lượng: “Ai chọc tức?”

Trần Trường Kiệt vội chen vào: “Minh Lượng mới đến, đừng nói những chuyện này.”

Tần Gia Anh bèn ngậm miệng không nói nữa.

Lúc đó ngoài phòng bệnh có người kêu: “Tới giờ cơm rồi, mỗi giường ra lấy cơm đi.”

Tần Gia Anh lấy hộp cơm trong tủ đầu giường ra, nói với Minh Lượng: “Để mẹ lấy thêm cơm, con cũng ăn ở đây đi.”

Minh Lượng: “Sao cũng được.”

Tần Vi Vi: “Anh ta mới đến Vũ Hán, để con mời anh ta ra ngoài ăn.”

Tần Gia Anh: “Đúng đúng đúng, ra ngoài ăn đi, ăn ngon hơn một chút.”

Nói đoạn, Tần Gia Anh ra ngoài lấy cơm. Lúc này có một điều dưỡng bước vào phòng nói: “Người nhà giường số ba mươi lăm, đến hạn đóng tiền rồi, xuống lầu một thanh toán đi.”

Tần Vi Vi nói với Minh Lượng: “Đang nói chúng ta đó, anh đợi ở đây đi, tôi đi nộp phí.”

Tần Vi Vi cầm cái túi xách treo ở đầu giường lên, ra ngoài thanh toán; điều dưỡng ra ngoài, Minh Lượng cũng đi theo điều dưỡng đến phòng điều dưỡng, nói nhỏ: “Giường số ba mươi lăm nằm viện đến nay tốn bao nhiêu tiền rồi?”

Điều dưỡng: “Hơn một trăm tám mươi nghìn rồi.”

Tần Gia Anh lấy cơm về, Tần Vi Vi thanh toán xong quay lại, Tần Gia Anh gọi Trần Trường Kiệt ăn cơm, Tần Vi Vi mời Minh Lượng ra phố ăn cơm.

Lúc hai người đi trên đường, Tần Vi Vi hỏi: “Ba Hồng Chí này, anh muốn ăn gì?”

Minh Lượng nhớ món hồi nhỏ mình ở Vũ Hán thích ăn, bèn nói: “Mì khô nóng, cá Vũ Xương.”

Tần Vi Vi cười: “Hai món đó không có bán trong cùng một tiệm đâu.”

“Vậy mì khô nóng đi.”

Vừa đi vừa nói, hai người đã đi đến trước một quán bán mì khô nóng. Trên đầu cửa quán có treo tấm hoành phi “Đứng đầu Tam Trấn [1]”; hai bên khuôn cửa có treo hai tấm biển đứng, trên đó khắc một cặp đối liễn. Liễn trên viết: Làm ăn ế ẩm chi bằng nấu ăn ; Liễn dưới viết: Nấu mọi món ăn chẳng bằng nấu miến.

Tần Gia Anh chỉ vào tiệm mì này, hỏi: “Còn nhớ quán ăn này không?” Lại nói, “Tết trung thu năm đó, cả nhà bốn người chúng ta đã đến đây ăn cơm.”

Minh Lượng nhìn quán ăn này, chẳng nhớ ra chút gì chuyện đã cùng bọn họ đến đây ăn cơm cả; nhưng câu đối liễn trên khuôn cửa dường như hơi quen quen, bởi vì trên đó có rất nhiều chữ mà năm xưa Minh Lượng không biết, còn nhớ Trần Trường Kiệt đã chỉ vào cặp liễn mà dạy ông ta nhận mặt chữ; nhưng quán ăn treo đối liễn trước cửa rất nhiều, cặp liễn mà năm đó Trần Trường Kiệt chỉ cho có phải là cặp liễn của quán này không, Minh Lượng không chắc lắm. Nói tới mấy món ngày xưa ăn, trái lại ông ta chợt nhớ ra, có một buổi trưa tan học, Trần Trường Kiệt đến trước cửa trường đón mình, trên người còn mặc nguyên bộ đồ công nhân xe lửa; ngày thường Trần Trường Kiệt cứ theo xe suốt, rất ít khi đến trường đón ông ta; Minh Lượng tan học đều tự đeo cặp về nhà. Trần Trường Kiệt đón ông ta tan học sẽ không đi về ngõ Tín Nghĩa mà bước theo hướng ngược lại.

Minh Lượng: “Ba, này không phải đường về nhà mà.”

Trần Trường Kiệt không nói gì, chỉ kéo tay ông ta tiếp tục đi về phía trước. Qua mấy con hẻm đến bên bờ Trường Giang, Trần Trường Kiệt lại móc một cái trứng nướng trong túi xách ra, bẻ thành hai nửa, đưa cho Minh Lượng một phần: “Ăn đi.” Lại nói, “Lúc theo xe đi ngang chợ Phù Li, mua ở bến xe đó.” Rồi dặn, “Về nhà đừng nói.”

Minh Lượng gật đầu, hai người ngồi bên bờ Trường Giang vùi đầu ăn trứng nướng. Cho đến khi ăn xong, hai người vẫn chưa nói câu nào.

Bước vào quán mì khô nóng, vì là quán ăn nên trong quán ngồi kín cả người; Tần Vi Vi móc từ trong túi quần ra một cái túi nilon, trong túi nilon có mấy đồng tiền lẻ; Tần Vi Vi bảo Minh Lượng ngồi xuống một chiếc bàn để chiếm chỗ trước, còn bà đến quầy mua cơm; chốc lát sau, Tần Vi Vi bưng ra một cái khay gồm hai món nguội: một đĩa thịt bò sốt, một đĩa cần tây trộn đậu phộng bóc vỏ, và hai chén mì khô nóng.

Hai người đang ăn thì Minh Lượng hỏi: “Vừa rồi trong bệnh viện, mẹ nói bệnh của ba là vì tức, tức gì vậy?”

“Tự mình làm mình tức thôi.”

“Là sao?”

“Cả cuộc đời ba đều làm người đều chân chất, đúng không?”

“Đúng.”

“Cả đời làm người chân chất, cả đời chạy xe lửa, mấy năm trước về hưu chợt nảy ra ý tưởng.”

“Có ý gì?”

“Cứ muốn phát tài. Ba có một người bạn là ông Hình, cũng ra từ nghề đốt lò, cũng về hưu, xúi ba cùng làm ăn với ổng. Thế là ba cầm tiền tích lũy cả đời, cũng tức là hơn năm trăm nghìn tệ, tiêu sạch vào chỗ ông Hình; hai người từng mở quán ăn, cũng từng làm mì khô nóng, từng mở tiệm rửa xe, gia công cửa sắt, làm móng, còn bán cả hải sản, nghĩ hết cái này tới cái khác, càng làm càng lỗ. Cuối cùng còn mỗi năm chục nghìn tệ trong tay cũng bị ông Hình lừa lấy mất.”

“Ông Hình đâu?”

Tầm Vi Vi: “Không tìm được.” Lại nói, “Lỗ tiền là một chuyện, quan trọng là mấy trăm nghìn tệ cuối cùng còn trên tay cũng bị bạn mình lừa, hai đầu vây đánh, thế nên mới tức thành bệnh luôn.” Rồi nói, “Anh cũng biết mà, ba mình không rộng lượng lắm.”

Minh Lượng hiểu ý, gật đầu. Đồng thời Minh Lượng phát hiện lúc Tần Vi Vi ăn cơm, tay phải dùng đũa gắp đồ ăn, tay trái cứ nắm chặt túi nilon đựng tiền.

Minh Lượng: “Mẹ Thần Hi này, tôi muốn hỏi chuyện này.”

“Chuyện gì?”

“Tiền thuốc.”

“Anh muốn nói gì?”

“Từ nay về sau, tiền nằm bệnh của ba trong bệnh viện, bất kể là nằm viện bao lâu, trừ phần kho đầu máy kết toán ra, còn lại tôi trả.”

“Ba Hồng Chí à, gọi anh tới không phải có ý này.”

“Tôi ở Tây An mở quán ăn, tuy chỉ làm ăn nhỏ nhưng mỗi tháng cũng có nguồn thu, tiền thuốc men này tôi còn trả được; nếu như trả không nổi tôi cũng không ra mặt đâu.”

Lúc này Tần Vi Vi mới thở dài: “Ba Hồng Chí này, gọi anh đến đúng là có ý này.” Rồi nói, “Không giấu gì anh, ông nhà tôi thực là kẻ vô công rỗi nghề, chuyện mỗi ngày thích làm nhất chính là đến trước cửa tiệm tạp hóa tám với người ta. Tôi nói, anh tám với người ta cả ngày, người ta vẫn bán được đồ cả ngày, còn anh được gì? Anh đến đây mà tôi còn thẹn chẳng muốn anh gặp anh ấy. Tôi chỉ là một nhân viên quèn, mẹ làm ở xưởng tráng men cũng đã về hưu; cả đời ba chúng ta làm nhân viên đường sắt, có nhiều khoản thuốc men không kết toán được; tiền nằm viện này, nhà ta thực sự trả không nổi nhưng lại không dám nói ba nghe.” Rồi nói, “Mà cái này cũng không thể để anh trả hết được, chúng ta mỗi người một nửa đi.”

“Mẹ Thần Hi ơi, tôi là người thực tế không thích nói vòng vo, nếu như tôi trả hết sẽ làm cô thấy mất mặt, thế thì chúng ta có thể chia đôi; còn nếu như không phải nguyên nhân này thì không cần tranh nữa.”

Tần Vi Vi nghĩ ngợi: “Vậy anh trả hai phần ba, còn lại tôi một phần ba nhé. Ba mình lái xe, dù sao cũng có phần nuôi tôi lớn.”

Minh Lượng: “Được cả, tôi nghe cô.”

Tần Vi Vi: “Còn chuyện này nữa, tối nay anh muốn ngủ lại nhà ba mẹ không?” Lại nói, “Nghe nói anh sắp đến, mẹ đã thu xếp chăn nệm cho anh cả rồi.”

Minh Lượng: “Ba mẹ vẫn ở căn nhà hơn bốn mươi năm trước đã ở à?”

Tần Vi Vi gật đầu: “Mẹ nói vẫn để anh ở căn phòng anh từng ở lúc nhỏ.”

Minh Lượng: “Tôi vẫn nên ở khách sạn nào gần bệnh viện thôi.” Rồi nói, “Một là tiện săn sóc ba, hai là tắm rửa cũng được tiện hơn.”

Tần Vi Vi: “Được, tôi nghe anh.”

Minh Lượng: “Tối nay mẹ với cô cũng nghỉ ngơi đi, tôi ở lại bệnh viện trực đêm cho.”

Tối đêm đó, Tần Gia Anh và Tần Vi Vi về nhà nghỉ ngơi, Minh Lượng ở lại phòng bệnh trực đêm. Trong phòng có năm người bệnh, đêm xuống, điều dưỡng vào cho bệnh nhân uống thuốc, cũng có người cần truyền thuốc; sau khi điều dưỡng đi, người nhà của năm bệnh nhân đều chia nhau lo cho bệnh nhân đi vệ sinh, tắm rửa, rồi về giường nghỉ ngơi. Minh Lượng cũng đỡ Trần Trường Kiệt đi vệ sinh, tắm rửa. Trần Trường Kiệt suy cả tim lẫn phổi, đi lại khá nặng nhọc; về đến giường rồi, ông ta vừa thở hổn hển vừa nói với Minh Lượng: “Minh Lượng, ba ở đây không sao, con cũng về nhà nghỉ đi.”

Nhà mà Trần Trường Kiệt nói đương nhiên là nhà của Trần Trường Kiệt và Tần Gia Anh. Ông ta không biết là sau bữa trưa, Trần Trường Kiệt đã thuê một phòng trong khách sạn gần bệnh viện rồi. Minh Lượng muốn ở trong khách sạn chứ không muốn ở trong nhà của Trần Trường Kiệt và Tần Gia Anh, ngoại trừ ở khách sạn dễ tắm rửa hơn còn một nguyên nhân khác quan trọng hơn là, hơn bốn mươi năm trước, trong ngôi nhà đó, mẹ ruột ông ta là Anh Đào cũng từng ở; sau đó, trong một căn nhà củi ngoại thành phía tây, ông ta thấy mẹ mình bị kim thép ghim lên ván gỗ, mình đầy thương tích; Minh Lượng không muốn về ngôi nhà đó nữa. Nhưng chuyện này Minh Lượng không thể giải thích cho Trần Trường Kiệt nghe, buổi trưa cũng không nói thêm gì với Tần Vi Vi, chỉ nói: “Ba cứ ngủ phần ba, mặc kệ con.” Rồi nói, “Khó lắm mới gặp nhau, để con ở lại đây đi.”

Trần Trường Kiệt không miễn cưỡng nữa.

Cả đêm không nói không rằng. Sáng sớm ngày tiếp theo, điều dưỡng vào phòng kiểm tra. Minh Lượng đỡ Trần Trường Kiệt vào nhà vệ sinh, đến buồng rửa tay đánh răng rửa mặt, rồi lại đỡ Trần Trường Kiệt thở hổn hển về giường. Điều dưỡng gọi lấy cơm, Minh Lượng ra trước xe cơm lấy hai phần rồi quay lại ăn cùng Trần Trường Kiệt. Sáng đó, thấy bên ngoài cửa sổ có nắng, Minh Lượng hỏi điều dưỡng có thể đỡ Trần Trường Kiệt xuống lầu tắm nắng được không. Điều dưỡng nói, tắm nắng tốt nhưng đừng để bệnh nhân trúng gió. Minh Lượng nói rằng đã biết, rồi đỡ Trần Trường Kiệt xuống lầu. Sân vườn bệnh có một công viên nhỏ, trong công viên có mấy cái ghế tựa dài, Minh Lượng đỡ Trần Trường Kiệt đến ngồi xuống một cái ghế. Đỡ Trần Trường Kiệt đến đây, nói là để tắm nắng nhưng thực tế Minh Lượng muốn tìm một nơi yên tĩnh nói chuyện riêng với ba mình. Nhưng đến khi hai người thực sự đơn độc ngồi với nhau, nhất thời lại không biết nên nói cái gì, hai người bèn ngồi không ở đó.

Im lặng hồi lâu, Trần Trường Kiệt bỗng nói: “Chuyện ba làm ăn thất bại, họ nói con nghe rồi chứ?”

Họ, ý chỉ Tần Gia Anh và Tần Vi Vi. Minh Lượng gật đầu.

Trần Trường Kiệt: “Ba biết chắc bọn họ sẽ nói mà.” Rồi nói, “Nói thì nói thôi, ba đã không còn sợ mất mặt nữa rồi.” Lại thở dài nói, “Chuyện đến hôm nay, không trách ai được nữa.” Cuối cùng nói, “Cả đời này của ba, chỉ sống bằng một chữ: nghèo. Làm đốt lò, lái xe lửa, cả ngày lẫn đêm, tăng ca đầu tắt mặt tối, vất vả cả đời, không khá hơn con lừa kéo cối xây là mấy. Già cả rồi, chịu đời nghèo khó thì đã hay rồi, nhưng ba không phục, ba muốn làm ăn kiếm tiền, đến cuối cùng, lại thành ra bộ dạng thế này.” Rồi nói, “Cuộc đời này của ba thất bại biết bao nhiêu, sống cuộc đời chẳng khác chi trò đùa.”

Minh Lượng khuyên nhủ: “Ba à, không thể nói vậy được đâu.”

“Ba biết, bọn họ gọi con đến là muốn bảo con ra tiền viện phí. Chúng ta đã hơn bốn mươi năm rồi không gặp, gặp lại thì bắt con trả tiền.”

“Ba ơi, từ sáu tuổi đến mười tám tuổi con học hành ở Diên Tân, ba cũng giấu dì tiêu tiền cả mười năm mà; bây giờ coi như con hoàn trả số tiền mười năm đó đi.”

Trần Trường Kiệt: “Con mà nói vậy ba lại muốn tát mình một cái, không có năng lực lo cho con học hết phổ thông.” Rồi thở dài, “Có đôi khi, ba thật muốn gặp Lý Diên Sinh.”

Minh Lượng lấy điện thoại ra: “Chi bằng con gọi điện cho chú, bảo chú đến Vũ Hán một chuyến nhé?”

Trần Trường Kiệt ngăn Minh Lượng lại: “Gặp rồi, còn gì để nói? Năm đó ba giao con cho chú ấy, vừa cắt tiền học với phí sinh hoạt một cái, chú ấy đã cho con đi nấu giò heo.”

“Chuyện năm đó đều là thân bất do kỷ cả.” Minh Lượng nói.

“Bỏ đi, gặp nhau cũng thẹn.” Trần Trường Kiệt lại nói, “Nói tới nói lui, chỉ trách ba vô dụng.”

Tiếp đó, Trần Trường Kiệt hỏi chuyện vợ con Minh Lượng, Minh Lượng đều nói rõ cho ông cụ nghe.

Trần Trường Kiệt: “Con trả tiền viện phí cho ba không cần giấu vợ con chứ?”

“Không cần, chuyện trong nhà con làm chủ được.”

Trần Trường Kiệt thở dài: “Con giỏi hơn cha.”

Minh Lượng nghĩ, sở dĩ ông ta giỏi hơn Trần Trường Kiệt, có thể trả tiền viện phí của Trần Trường Kiệt, đều là nhờ ơn năm đó ông ta học được nghề nấu giò heo; mà năm xưa bản thân mình đến quán “Thiên Bồng Nguyên Soái” ở Diên Tân học nấu giò heo, vẫn là nhờ Trần Trường Kiệt cắt học phí và phí sinh hoạt của mình; hơn bốn mươi năm qua rồi, tiền nhân hậu quả sự tình chính là như vậy, cũng khiến Minh Lượng dở khóc dở cười.

Lúc này nhớ ra một chuyện khác, Minh Lượng hỏi: “Ba này, chỗ này chỉ có hai người chúng ta, con muốn hỏi ba một chuyện.”

“Chuyện gì?”

“Hơn bốn mươi năm trước, mẹ con rốt cuộc sao lại chết? Có phải giống như mọi người vẫn nói là vì một bó hẹ không?”

Trần Trường Kiệt lại ho húng hắng, húng hắng đến độ đỏ mặt tía tai. Minh Lượng vội vỗ lưng cho ông cụ. Đến khi ngừng ho, Trần Trường Kiệt hổn hển nói: “Là vì một bó hẹ, cũng không phải vì một bó hẹ.”

“Là sao?”

“Ngày đó, ba mẹ vì một bó hẹ mà cãi nhau, nhưng lúc ba rời khỏi nhà thì đã thấy ánh mắt mẹ con kỳ lạ lắm; thấy ánh mắt mẹ con kỳ lạ, ba vẫn đi. Sau đó thì mẹ con thắt cổ.” Rồi nói, “Hai người ngày nào cũng gây nhau, có lẽ, trong lòng ba, đã mong mẹ con chết lâu rồi.” Tiếp đó nói, “Oán hận giữa hai người thân thích, có đôi khi còn sâu sắc hơn kẻ thù với nhau.” Lại nói, “Tuy rằng mẹ con tự sát, nhưng thực ra là do ba hại.”

Minh Lượng bàng hoàng, hơn bốn mươi năm nay ông vẫn luôn quy kết trách nhiệm chuyện Anh Đào treo cổ là vì mình đi uống nước ngọt; ai biết hơn bốn mươi năm trước, Trần Trường Kiệt cũng có phần trách nhiệm; hoặc là, trách nhiệm này hai cha con họ đều phải chịu chung, Trần Trường Kiệt và Minh Lượng đã chung tay giết chết Anh Đào. Minh Lượng thở dài trong bụng. Trần Trường Kiệt lại vừa thở ngắt quãng vừa nói: “Cuộc đời này của ba đã đi sai hai bước.”

Minh Lượng nhìn Trần Trường Kiệt.

“Bước thứ nhất, là năm đó khi diễn <Bạch Xà Truyện> ở đoàn ca kịch Diên Tân, không nên bàn lời kịch với mẹ con và Lý Diên Sinh.” Trần Trường Kiệt vừa thở dốc vừa nói, “Không bàn lời kịch, không đến với mẹ con.”

Minh Lượng không nói gì.

“Bước thứ hai, đến Vũ Hán rồi, ngày quốc tế lao động 1 tháng 5, kho đầu máy mở tiệc liên hoan, con còn nhớ chứ?”

Minh Lượng nghĩ ngợi, rồi gật đầu.

“Tiết mục của tổ nghiệp vụ bị gián đoạn, ba không nên trổ tài, lên đài hát <Bạch Xà Truyện>. Không hát, sẽ không đến với Tần Gia Anh.”

Minh Lượng không nói gì. Nhưng trong lòng lại nghĩ, cho dù Trần Trường Kiệt không đến với Anh Đào và Tần Gia Anh thì với tình trạng của ông cụ hơn bốn mươi năm trước còn đến với ai được nữa? Hoặc là nói, với tình hình của ông cụ, đến với ai mà chả như nhau? Nhưng Minh Lượng không thể nói với Trần Trường Kiệt như vậy, bèn tiếp tục không nói gì.

Minh Lượng ở Vũ Hán hết ngày chủ nhật, thấy bệnh tình Trần Trường Kiệt ổn định – Ông hỏi thăm bác sĩ trong bệnh viện, bác sĩ nói bệnh của Trần Trường Kiệt lúc tốt lúc xấu, bây giờ thấy như ổn định nhưng cũng có khi nguy hiểm bất ngờ; nếu không có bất ngờ gì xảy ra, có lẽ bệnh tình một năm hay nửa năm tới vẫn thế này thôi. Minh Lượng ở Tây An còn một đống chuyện phải lo liệu sắp xếp, chi nhánh thứ năm của “Thiên Bồng Nguyên Soái” mới mở, không thể ở Vũ Hán mãi được; nghe bác sĩ nói thế, ông ta bèn thương lượng với Tần Vi Vi, chuẩn bị về Tây An.

Tần Vi Vi cũng đồng ý cho ông ta đi: “Ba Hồng Chí ơi, ba chúng ta cứ thế này thôi, anh đi thì cứ đi, chuyện lo cho ba đã có tôi và mẹ.” Rồi nói, “Anh đã bỏ ra hơn nửa tiền viện phí, tôi đã thấy nhẹ nhõm hơn nhiều rồi.”

Minh Lượng: “Mẹ Thần Hi ơi, không thể nói vậy được, lo cho người bệnh còn phiền hơn bỏ tiền ra nhiều.”

Một ngày trước khi về Tây An, Minh Lượng đang ngủ trong khách sạn thì mơ thấy một người phụ nữ đến nói: “Ông quên chuyện đã nói với tôi rồi à?”

“Chuyện gì?”

Giọng nữ kia nói: “Chuyện ông nói năm sáu tuổi. Năm đó, tôi giúp ông cứu mẹ, ông vứt mẹ ông xuống Trường Giang.”

Minh Lượng chợt nhớ ra, năm xưa mẹ ông ta là Anh Đào đến Vũ Hán, ở lại nhà Trần Trường Kiệt và Tần Gia Anh, sau đó bị ghim trong nhà củi ở ngoại ô phía tây; có một con đom đóm dẫn đường cho Minh Lượng tìm đến căn nhà củi đó, Minh Lượng cứu được mẹ ra ngoài. Năm xưa con đom đóm kia nói, mấy chục năm sau, Minh Lượng có quay lại Vũ Hán thì phải giúp nó một chuyện. Bây giờ, con đom đóm đó tới tìm ông ta rồi.

Minh Lượng nói: “Bà mà không nói tôi cũng quên thật rồi; bà vừa nói, tôi liền nhớ ra ngay.”

Giọng nữ nói: “Năm đó, tôi dẫn đường cho ông cứu mẹ, bây giờ ông cũng cứu tôi đi.”

“Bà là ai?”

Giọng nữ nói: “Đạo bà Mã.”

“Đạo bà Mã là ai?”

“Là người dùng kim thép ghim mẹ ông năm đó.”

Minh Lượng không hiểu: “Nếu người ghim mẹ tôi là bà, sao bà còn biến thành đom đóm cứu mẹ tôi làm gì?”

Đạo bà Mã: “Ghim mẹ ông là tôi, cứu mẹ ông cũng là tôi, cái này gọi là ‘đồ đao nhẹ buông, tức thì thành Phật’.”

Minh Lượng thừ người. Dường như hiểu thấu được đạo lý này, lại dường như không hiểu gì cả. Ông ta hỏi: “Chuyện như thế này, tôi cứu bà thế nào?”

“Đưa tôi rời Vũ Hán?”

“Tại sao?”

“Ghim kẻ xấu giùm người ta cả đời, cũng tính như tội nghiệt sâu nặng; bây giờ chết cũng đã chết rồi, nên rời khỏi mảnh đất thị phi này thôi.”

“Chuyện này, sao ban đầu bà lại tìm tôi?”

“Lúc đó ông mới sáu tuổi, bốn mươi năm sau vẫn sức dài vai rộng, chứ năm đó mà kiếm ngươi trưởng thành, bốn mươi năm sau nào biết ông ta sống chết ra sao.”

“Làm sao đưa bà rời Vũ Hán?”

Đạo bà Mã: “Tôi đã thành giống mẹ ông năm đó, dựa vào tấm ảnh của mình, ông đưa tấm ảnh của tôi đi là được.”

“Sắp tới tôi về Tây An đó.”

“Chỉ cần rời Vũ Hán, đi đâu cũng được.”

Minh Lượng đã biết, hóa ra, cõi vô hình mới là lý do đưa ông ta đến Vũ Hán; đột nhiên nhớ ra, Minh Lượng hỏi: “Bệnh của ba tôi, không phải bà gây ra để dùng ông cụ dẫn tôi đến đây chứ?”

“Vậy thì không phải, bệnh của ông ta là ông ta tự làm.”

“Ảnh của bà bây giờ ở đâu?”

Đạo bà Mã: “Ở lầu Hoàng Hạc.” Rồi nói, “Núi sau lầu Hoàng Hạc có một cái đình nghỉ mát, ảnh của tôi được giấu dưới góc cột phải phía sau đình nghỉ mát đó.”

Minh Lượng hỏi: “Đạo bà Mã, bà chết hồi nào vậy?”

“Ba năm trước, ngày nào cũng đợi ông.”

Minh Lượng tỉnh giấc, bật đèn, nhìn đồng hồ, bây giờ là ba giờ sáng.

Minh Lượng ngồi dậy, mặc quần áo đàng hoàng rồi ra khỏi khách sạn, bắt một chiếc taxi chạy đêm đến lầu Hoàng Hạc. Ông ta nhớ hồi mới lên tiểu học ở Vũ Hán, trường học tổ chức hoạt động, ông ta từng đến tham quan lầu Hoàng Hạc cùng mấy trăm học sinh tiểu học khác. Sau này bà nội ông ta đến Vũ Hán, Trần Trường Kiệt cũng đưa bà nội và ông ta đi.

Đến khi taxi dừng dưới chân núi lầu Hoàng Hạc, ông ta xuống xe, quan sát lầu Hoàng Hạc từ xa, khác biệt hoàn toàn so với hình dáng trong ký ức hơn bốn mươi năm trước. Trong màn đêm, xung quanh không một bóng người. Cổng chính của lầu Hoàng Hạc đóng lại lúc về đêm, nhưng khi Minh Lượng bước đến trước cổng chính của lầu Hoàng Hạc, cổng lại tự mở, Minh Lượng biết đây là công lực của đạo bà Mã, cho thấy tấm ảnh của đạo bà Mã quả nhiên được giấu ở nơi này. Minh Lượng trèo lên dốc núi đến được trước lầu Hoàng Hạc, mượn ánh trăng thấy hai hàng chữ hai bên cổng chính: Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay, Hoàng Hạc lầu không trơ trọi thay.

Chuyển đến núi sau lầu Hoàng Hạc, trên dốc núi quả nhiên có một cái đình nghỉ chân. Đạo bà Mã nói, tấm ảnh của bà ta được giấu dưới một cái cột ở góc sau bên phải cái đình. Nhưng cái đình này vững như Thái sơn, làm sau nhổ cột lên được? Nhưng Minh Lượng vừa sờ cột lại thấy cột này lung lay thật; nhấc cột lên chẳng khác gì nhổ cỏ; lại nhìn cái đình này, nó cũng biến thành hình dạng có thể nắm được trong lòng bàn tay; rồi nhìn lầu Hoàng Hạc trước mặt, lầu Hoàng Hạc cũng biến thành giống như mô hình. Dời đình nghỉ mát đi, quả nhiên thấy được tấm ảnh này dưới cái cột phía sau bên phải. Nhưng trên tấm ảnh lại là một bé gái chừng bốn năm tuổi, tóc cột bằng dây đỏ.

Minh Lượng không khỏi thốt lên: “Đạo bà Mã, là bà đó hả?”

Tiếng đạo bà Mã vang lên: “Đây là tôi lúc nhỏ.”

Minh Lượng cầm tấm ảnh lên, đặt đình nghỉ mát xuống, đình nghỉ mát lại tức thì biến về hình dạng cũ; nhìn ra lầu Hoàng Hạc đằng trước, lầu Hoàng Hạc cũng biến thành lầu Hoàng Hạc cao trọc trời bên bờ sông Trường Giang.

Minh Lượng: “Đến Tây An rồi, tôi đặt tấm ảnh của bà ở đâu?”

Bé gái cột tóc bằng dây đỏ trong ảnh nói: “Nhớ là, tìm một chỗ cao ấy.”

Sáng sớm ngày tiếp theo, Minh Lượng đến phòng bệnh bệnh viện tạm biệt Trần Trường Kiệt, Tần Gia Anh và Tần Vi Vi.

Tần Gia Anh: “Khó khăn lắm mới đến được một chuyến, ở lại thêm mấy ngày đi.”

Tần Vi Vi: “Cho ba Hồng Chí về đi, anh ta ở Tây An còn một đống chuyện làm ăn phải thu xếp.”

Trần Trường Kiệt gật đầu: “Vẫn nên về đi, con về mở quán ăn cho tốt, ba ở đây dưỡng bệnh mới thư thái được.”

Nói xong thì nhìn Tần Gia Anh và Tần Vi Vi một cái. Minh Lượng phát hiện, từ sau khi Minh Lượng đến Vũ Hán, sóng lưng Trần Trường Kiệt khi ở trước mặt Tần Gia Anh và Tần Vi Vi cũng thẳng lên nhiều rồi; tại sao thẳng? Tại vì Minh Lượng bỏ ra hơn một nửa tiền viện phí. Nói vậy thì hơi khó nghe nhưng tình huống thực tế là vậy. Nếu như Minh Lượng không mở quán ăn ở Tây An, đến giờ vẫn nghèo túng, nói không chừng Tần Vi Vi cũng không thông qua Lý Diên Sinh ở Diên Tân mà tìm đến ông ta, báo cho ông ta đến Vũ Hán; như thế, cho đến khi Trần Trường Kiệt mất, ông ta cũng không thể gặp lại cha ruột mình.

Minh Lượng: “Con về Tây An thu xếp chuyện dở dang xong sẽ đến tiếp.”

Trần Trường Kiệt: “Chờ khi ba khỏi bệnh cũng đi Tây An thử xem sao.”

Minh Lượng: “Vậy tốt quá, đến lúc đó ba với dì và mẹ Thần Hi cùng đi luôn đi, con dẫn mọi người đi xem tháp Đại Nhạn, xem đội quân đất nung, dẫn mọi người ăn thử bánh mì nướng thịt dê.”

Tần Gia Anh: “Cũng đến quán của con ăn thử giò heo nữa.”

Ai nấy đều cười. Ai biết vừa cười, Trần Trường Kiệt lại bắt đầu húng hắng ho dữ dội, ho đến mặt đỏ lựng lên; ho được năm phút mới ngừng ho được. Tần Vi Vi gấp rút đi gọi điều dưỡng. Điều dưỡng đến rồi tròng mặt nạ dưỡng khí lên mặt Trần Trường Kiệt.

Minh Lượng nhìn Trần Trường Kiệt đang đeo mặt nạ: “Hay là hai ngày nữa con mới đi?”

Trần Trường Kiệt xua tay, nói qua chiếc mặt nạ: “Con cứ đi đi, ba cứ vậy đó, một sớm một chiều không chết nổi đâu.”

Minh Lượng cũng rời bệnh viện. Ngồi trên xe taxi, Minh Lượng nghĩ, xem bộ dạng của Trần Trường Kiệt, một sớm một chiều không chết được nhưng một sớm một chiều cũng không khỏe được; nằm trong bệnh viện kéo dài khả năng sống thì được còn bình phục sức khỏe chắc là không; ông cụ nói đợi đến khi khỏi bệnh sẽ đến Tây An, xem ra ông cụ không đi Tây An nổi rồi; Trần Trường Kiệt không đi Tây An nổi nhưng trên người Minh Lượng có tấm ảnh của đạo bà Mã, đạo bà Mão lại theo ông ta đến Tây An. Chuyện đời chính là khó ngờ như vậy, Minh Lượng không khỏi cảm khái.

Minh Lượng về đến Tây An, bước ra khỏi trạm xe lửa thì không về nhà mà bắt taxi chở mình lên núi Tần lĩnh. Ông ta trèo lên núi, phóng mắt nhìn ra xa, thấy sau một đường núi lại là một đường núi khác; phía sau một rừng cây um tùm lại là một rừng cây um tùm khác. Minh Lượng lấy tấm hình bé gái cột tóc bằng dây đỏ ra khỏi túi áo, hỏi: “Đạo bà Mã, bỏ bà ở đây được không?”

Bé gái cột tóc bằng dây đỏ trong hình nói: “Được. Nơi này không những cao mà phong cảnh cũng đẹp nữa.”

Minh Lượng chợt nhớ ra: “Đạo bà Mã, lúc sắp chia tay, tôi muốn hỏi bà chuyện này.”

Bé gái cột tóc bằng dây đỏ nói: “Chuyện gì?”

Minh Lượng: “Năm đó, tôi vứt tấm ảnh của mẹ tôi xuống Trường Giang, hơn bốn mươi năm nay tôi vẫn luôn tự hỏi lòng, mẹ tôi theo xuôi theo Trường Giang đến đâu rồi nhỉ?”

Bé gái cột tóc bằng dây đỏ nói: “Pháp lực của tôi nằm ở Vũ Hán, cô ta rời Vũ Hán rồi, tôi cũng chẳng biết nữa.”

Minh Lượng thở dài, lại chợt nhớ ra cái gì, hỏi: “Bà không biết mẹ tôi đi đâu nhưng bây giờ tôi đưa bà đến Thiểm Tây, bà làm vậy là muốn đi đâu?”

Bé gái cột tóc bằng dây đỏ nói: “Đến từ đâu, về nơi đó.”

Minh Lượng: “Không phải bà đến từ Vũ Hán sao?”

Bé gái cột tóc bằng dây đỏ nói: “Tôi nói là “đến”, chứ không phải ‘đến nơi này’.”

Minh Lượng: “Vậy thì đến từ nơi nào?”

Lúc này, một trận gió núi thổi qua làm cánh rừng rập rạp trong núi vang lên tiếng thông reo; bé gái cột tóc bằng dây đỏ sốt ruột nói: “Đừng hỏi này hỏi nọ nữa, có nói ông cũng không hiểu đâu, mau thả tôi đi, để tôi nương theo cơn gió này; lỡ mất canh giờ này nói không chừng không còn gió nữa.”

Minh Lượng: “Nếu đã là vậy, bà bảo trọng nhé.”

Minh Lượng buông tay ra, bé gái trên tấm ảnh nương theo gió phất phơ giữa trời; sau đó bay lên bay xuống, trôi vào rừng rậm, trong tiếng thông reo từng hồi, dần dần khuất khỏi tầm mắt.

[1] Tam Trấn: Ở Vũ Hán, Tam Trấn là cách gọi chung của ba thị trấn: Vũ Xương, Hán Dương, Hán Khẩu.

A Tĩnh:

Ờm, tình người đen bạc là thế. Hai mươi năm trước cha vứt con không nuôi, mẹ kế muốn đuổi con chồng, hai mươi năm sau lo không nổi cho chồng nữa, biết con riêng của chồng có tiền mới gọi nó về đây, chứ nó không có tiền thì hẳn là bà được như sở nguyện, vĩnh viễn cắt đứt liên lạc với nó đó. Nói tích cực một chút, mình có giá trị lợi dụng người ta mới lợi dụng mình. May là Minh Lượng còn biết cái gọi là hiếu nghĩa.

Chuyện đời là vậy. Đôi khi nhìn lại những khó khăn bất hạnh từng đến với mình trong quá khứ, lúc đó cảm thấy mình rất khổ sở, nhưng có đôi khi qua rồi mới thấy, không có những khó khăn bất hạnh đó chưa chắc mình có được tương lai tốt đẹp như ngày hôm nay. Có thể gọi là trong cái rủi có cái may, hoặc là trước khổ sau sướng, hoặc là niềm vui đến sau khi thoát khổ. Rất giống câu chuyện con trâu lì bà nội Minh Lượng kể, trời đày cho chịu phạt cày bao nhiêu mẩu ruộng, ngoan ngoãn mà cày cho lẹ cho mau, chịu phạt nhanh mới về hưởng phúc được. Nói sao nhỉ, cái này không phải khuyên người ta khuất phục với số phận mà là đối mặt với thực tế số phận, cho dù hơi tàn nhẫn, thay vì than vãn thì hãy cố vượt qua, vượt qua rồi có khi lại có niềm vui bất ngờ.

Ừ mà nếu không phải khổ thì tốt hơn :))). Làm người ai muốn khổ bao giờ :)))

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

MỤC LỤC

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x