MỘT NGÀY NHƯ THỂ BA THU – CHƯƠNG 13.3 (6)

By

·

10–14 phút

MỘT NGÀY NHƯ THỂ BA THU

CHƯƠNG 13: Minh Lượng – 13.3: Lại hai mươi năm sau

Dịch (láo): A Tĩnh

#nhatnhattamthu #motngaynhuthebathu #luuchanvan

—

(6)

Tháp Phô là một trấn ở Diên Tân. Sáng sớm ngày tiếp theo, Minh Lượng bắt chiếc taxi đến Tháp Phô. Đến trấn đó rồi, nghe nghóng một phen, tìm được nhà ông Phạm làm thợ mộc. Trước cửa nhà ông Phạm chất rơm cao lương thành chồng, có một ông già đang ngồi dựa vào đống rơm tắm nắng.

“Đây chính là ông Phạm.” Một người đi đường trỏ vào ông cụ nói.

Minh Lượng bước lên phái trước hỏi thăm, ông Phạm nói: “Ông khách này tôi chưa gặp lần nào, ông là ai vậy?”

“Nói tôi là ai cụ cũng không biết đâu, tôi nói ba tôi nhé, ba tôi tên Trần Trường Kiệt, năm đó từng hát kịch ở Diên Tân.”

Ông Phạm gật đầu ngay: “Là ổng à, hồi đó hát Bạch Xà Truyện, là diễn viên ưu tú của Diên Tân.”

Chuyện trò một hồi, Minh Lượng nói: “Thưa ông, hôm nay tôi đến là muốn hỏi ông chuyện này.”

“Chuyện gì?”

“Hơn bốn mươi năm trước, sau khi bà nội tôi qua đời, cây táo lớn trong vườn nhà tôi là ông mua mất đúng không?”

Ông Phạm gật đầu: “Đúng vậy, năm đó ai có tiền thì hơn, tôi bỏ năm chục, người họ nhà các cậu cứ đòi bảy chục, bọn tôi kỳ kèo qua lại, cuối cùng chốt giá sáu mươi.”

“Cây táo đó sau này bị ông chẻ thành tấm, đem làm bàn ghế rồi đúng không?”

“Đúng vậy.” Ông Phạm lại nói, “Cây táo hai trăm năm tuổi, gỗ tốt thật.”

“Bây giờ những chiếc bàn ghế đó còn không?”

“Cậu muốn nói gì?”

“Nếu như còn, tôi muốn mua lại, bao nhiêu tiền xin ông cứ nói.”

Ông Phạm vỗ tay cái bốp: “Đáng tiếc không còn nữa rồi.”

“Chúng đi đâu rồi?”

“Chẳng đi đâu cả, mất rồi thôi.”

“Ông muốn nói gì?”

“Tôi có năm thằng con trai, ba năm trước chia nhà, những chiếc bàn ghế đó cũng chia cả rồi; mấy thằng khốn đó chê những chiếc bàn ghế kia kiểu dáng quá cũ, nên đem thành củi đốt luôn rồi.”

Minh Lượng ngẩn người.

Ông Phạm: “Cậu cần chúng làm gì?”

Minh Lượng: “Từ hồi còn nhỏ, bà nội rất tốt với tôi, tôi muốn giữ lại kỷ niệm để mỗi lần nhớ bà có thể nhìn chúng mà nhớ thôi.”

“Hóa ra là vậy.” Ông Phạm lại nói, “Cậu đúng là người tốt, tiếc là tới trễ quá.”

Minh Lượng đứng dậy chào tạm biệt ông Phạm. Chợt ông Phạm nhớ ra cái gì, nói: “Đợi đã.”

Minh Lượng dừng chân: “Thưa ông, ông muốn nói gì?”

“Gỗ chỗ tôi thì mất, nhưng còn một khối khác đấy.”

“Khối nào?”

“Lõi cây. Lõi cây táo to, cứng còn hơn sắt, hồi xưa có thể dùng làm đế lưỡi cày, làm bàn ghế thì đáng tiếc lắm nên tôi vẫn giữ lại; mười năm trước, tôi bán nó cho ông Cảnh ở huyện Thang Âm với giá hai trăm tệ, ông ta đem nó khắc thành một bức hoành phi.”

Minh Lượng: “Trên hoành phi khắc chữ gì?”

Ông Phạm: “Cái đó thì tôi không biết.”

—

Phụ lục – Chữ trên hoành phi

Ông Cảnh là người Thang Âm, An Dương. Thang Âm gần với Ân Khư, buôn bán các món đồ cổ. Từ năm ông Cảnh hai mươi tuổi đã bắt đầu buôn bán đồ cổ với người ta rồi. Chớp mắt hai mươi năm qua đi, ông Cảnh buôn bán đồ cổ kiếm tiền, thế nên mua một mảnh đất bên cạnh nha môn cũ của huyện Thang Âm xây thành một nhà vườn. Liền một dải với nha môn cũ này chính là đoạn đường phồn thịnh nhất huyện thành. Vườn này được xây kiểu ba lớp ra vào. Vừa xây vườn xong, ông Cảnh bèn muốn treo bức hoành phi trước cửa nhà. Ông thấy nhà cửa từ thời Thanh và thời dân quốc để lại đều có treo hoành phi trước cửa; chữ trên hoành phi chạm rỗng, nào là ‘vinh hoa phú quý’, nào là ‘như ý cát tường’. Hoành phi ngoài cửa tắm nắng chịu sương, ướt mưa rét tuyết, cần phải có một tấm gỗ tốt, nếu không phải gỗ lim, gỗ đàn thì phải là gỗ táo. Ông con rể thứ hai nhà ông Cảnh là người Tháp Phô ở Diên Tân; trước tết xây vườn xong, cuối năm ông Cảnh đã đến Tháp Phô thăm thân thích, lúc ăn cơm nghe thấy ông Phạm làm mộc ở Tháp Phô nói năm đó mua được một cây táo hơn hai trăm năm tuổi, gỗ táo được chẻ thành tấm làm ra nào bàn nào ghế, nhưng còn khúc lõi cây ông vẫn giữ trong nhà, bèn đến nhà ông Phạm xem xem; vừa xem đã biết ngay lõi cây này không phải tầm thường, có tuổi, lại rắn chắc như thép, bèn vung hai trăm tệ mua lại lõi cây này từ tay ông Phạm. An Dương Lâm Châu có ông thợ mộc chuyên làm nghề điêu khắc kiếm sống, thợ mộc mà làm điêu khắc kiếm tiền thì tiền công cũng mắc hơn thợ mộc bình thường đến ba phần; thợ mộc điêu khắc có nghề số một số hai ở Lâm Châu chính là một người được gọi là ông Tấn. Ông Cảnh mời ông Tấn đến nhà, bảo ông Tấn xem lõi cây táo nhà bà nội Minh Lượng. Ông Tấn dùng ngón tay gõ gõ lên lõi cây, lại lật tới lật lui khúc cây xem hết nửa ngày, gật đầu nói: “Không tệ, khúc gỗ này tốt đấy.”

“Đặt lên đầu cửa được không?”

“Làm thì làm được, quan trọng là, ông muốn khắc cái gì?”

“Vinh hoa phú quý hoặc Như ý cát tường.”

“Rốt cuộc là khắc gì?”

Ông Cảnh: “Chữ trên đầu cửa đều phải có ý nghĩa, ông liệu mà làm đi.”

Khắc một bức hoành phi cần tám đến mười ngày thời gian, ông Tấn bèn ở lại vườn nhà ông Cảnh. Vườn nhà ông Cảnh mới xây, nhà ông Cảnh còn chưa dọn vào, một mình ông Tấn vào ở trước. Đương nhiên phòng ốc vẫn còn trống, chỉ là bày thêm cái giường cho Ông Tấn ở một gian mé bên tiền viện thôi. Sáng ngày đầu tiên ông Tấn vào ở, dập bốn chữ “vinh hoa phú quý” từ thiếp chữ lên trên giấy, lại đem bốn chữ “như ý cát tường” dập từ thiếp chữ lên trang giấy, trải hai bộ chữ này trong vườn cân nhắc xem nên khắc cái nào. Cân nhắc qua lại một hồi cũng không quyết định được. Lý do không quyết định được cũng không phải vì hàm ý của hai bộ chữ này có khác biệt gì mà là đang tính toán họa bút của hai chữ; chữ nhiều nét quá khắc lên rất phiền, sau khi chạm rỗng, phần gỗ tiếp giáp ở giữa nét bút và giữa các nét bút sẽ mỏng đi, mỗi lần xuống một đao đều phải đánh giá tỉ mỉ; nét ít, khoảng giữa các nét bút không cần dùng quá nhiều gỗ, đoạn gỗ nối tiếp cũng dày, khắc chữ đỡ mất công mất sức. Bốn chữ của hai của bộ này, chữ trong cái nào cũng nhiều nét, tính ra số nét bút của hai bộ chữ này không khác nhau nhiều; công sức bỏ ra không khác nhau nhiều lắm, thế nên do dự. Lúc đang do dự, có người dạo bước vào vườn, chấp tay sau lưng đánh giá vườn nhà ông Cảnh; từ tiền viện rảo bước đến trung viện, lại rảo bước ra hậu viện, mất hết nửa ngày lại quay về tiền viện. Ông Cảnh mới đầu còn cho rằng đó là người nhà hay thân thích của ông Cảnh nên cũng không để ý; sau đó thấy ánh mắt người nọ đánh giá cả vườn, giống như lần đầu tiên vào vườn vậy, mới biết là người lạ, bèn nói: “Ông khách này xem xong thì đi đi, tôi cũng không phải chủ nhà này, chỉ được người ta thuê đến đây sống, ông mà ở lâu bị chủ nhân biết được, mặt mũi e là không dễ coi đâu.”

Người khách đó lại quan sát cả vườn thêm một lần rồi hỏi: “Kết cấu vườn này xây theo kết cấu vườn nhà họ Mã ở An Dương à?”

“Tôi chỉ là thợ mộc, không phải thợ gạch, nhìn không ra cách xây của vườn này.”

“Phải rồi, kết cấu giống với vườn nhà họ Mã, nhưng cách xây từng viên gạch mái ngói đều lầm to cả rồi. Đúng là phụ lòng số gạch ngói và vị trí nơi này.” Rồi nói, “Có vẻ như cách xây nhà sai lầm thế này là do chủ nhà này bụng chẳng có mấy chữ đây.”

“Nghe ý của ông khách đây, hẳn ông là người có học?”

“Không dám nói là có học, chỉ thích đi đây đi đó thôi.” Người khách lại nói, “Vừa đến nha môn cũ tham quan, thấy bên này mới xây cái vườn, cửa lớn mở rộng, bèn vào xem xem, quấy rầy ông cụ rồi.”

Nói xong bèn bước ra khỏi viện. Lúc này trông thấy dưới đất có hai bộ chữ, một bộ là Vinh hoa phú quý, một bộ là Như ý cát tường, lại dừng chân: “Cái này làm gì thế?”

“Tôi là thợ mộc, chủ nhân muốn khắc hoành phi, bảo tôi chọn một bộ.”

Người khách bật cười: “Không phải tôi lắm lời, mà hai bộ chữ này cũng chẳng khác gì cái nhà được xây cả, phàm tục như nhau.”

“Mới rồi tôi còn do dự cũng có nguyên nhân của nó, hai bộ chữ này tôi khắc cả đời rồi, cũng thấy chán.” Ông Tấn lại hỏi, “Ông khách ơi, ông là người có học, ông có ý kiến gì không?”

“Tôi có ý kiến, nhưng ông làm việc cho người ta, tôi cũng chẳng quyết định được.”

“Ông chủ giao phó cho tôi, trên bức hoành khắc gì là do tôi quyết định.”

Người khách bật cười: “Đúng là dốt đặc cán mai cũng có chỗ tốt của dốt đặc cán mai. Để tôi nghĩ giúp cho.”

Người khác cúi đầu trầm ngâm hồi lâu mới ngẩng đầu lên nói: “Buổi sáng trên xe lửa tôi có đọc được quyển sách, trong đó có chữ này, ngày thường cũng từng thấy, nhưng đặt trong quyển sách ấy lại chẳng giống bình thường, chữ đó là “Một ngày ba thu”, chính là một ngày không gặp như cách ba thu, nghĩa là giữa người với người, một câu hơn cả vạn câu đó.”

“Vấn đề là, câu này khắc lên trên cửa có phù hợp không?”

“Câu này khắc lên trên cửa, đương nhiên ý nghĩa của nó phải thay đổi, không còn là quan hệ giữa người với người nữa mà là quan hệ giữa người với nơi này, sống ở đây một ngày hơn sống ở nơi khác cả ba năm, ông thấy hợp chưa?”

Ông Tấn vỗ tay: “Câu này ý tứ sâu xa, hơn nữa không phải tầm thường, tôi thích lắm, tôi khắc cái này vậy.”

Sau khi người khách đi, ông Tấn bắt đầu khắc bốn chữ “Một ngày ba thu” lên thân cây táo. Kỳ thực, ông Tấn khắc bốn chữ “một ngày ba thu” không phải vì xem trọng thâm ý bên trong với chả phàm tục hay không phàm tục, ý nghĩa thâm sâu hay không thâm sâu. Phàm tục hay không ông Tấn không cần biết, chủ yếu là bốn chữ “một ngày ba thu” này ít nét hơn nhiều so với bốn chữ ‘vinh hoa phú quý’ hay ‘như ý cát tường’, khắc lên chẳng tốn mấy công. Ông Cảnh đã nói cho ông quyết định, thế là ông dứt khoát ném hai bộ chữ ‘vinh hoa phú quý’ với chả ‘như ý cát tường’ đi, khắc thẳng bốn chữ ‘một ngày ba thu’ vậy. Khắc xong, mời ông Cảnh đến xem.

Ông Cảnh xem xong ngẩn người: “Sao ông lại khắc cái này, chẳng phải nói sẽ khắc ‘vinh hoa phú quý’ hay ‘như ý cát tường’ à?”

“Hai cái đó quá tầm thường, cái này thì không?”

Sau đó, ông Tấn lại giải thích bốn chữ ‘một ngày ba thu’ mà người khách chỉ cho giảng lại cho ông Cảnh nghe một lần.

Ông Cảnh: “Cái này không tầm thường, nhưng phải giải thích cho người ta nghe, còn ‘vinh hoa phú quý’ hay ‘như ý cát tường’ tầm thường, nhưng người ta nhìn xong là hiểu. Bây giờ, chẳng khác gì phức tạp hóa một chuyện đơn giản lên. Trước khi làm sao ông không bảo tôi?”

“Chẳng phải ông nói cho tôi làm chủ à?”

Ông Cảnh dở khóc dở cười: “Tôi bảo ông làm chủ chọn giữa ‘vinh hoa phú quý’ với ‘như ý cát tường’, sao ông làm quá luôn rồi?”

“Nếu đã là vậy, tôi tìm một tấm khác khắc lại cho ông nhé.”

“Bỏ đi bỏ đi, một bức hoành phi, treo kiểu nào chẳng là treo, đừng làm mọi chuyện phức tạp thêm nữa.” Ông Cảnh lại nói, “Một ngày ba thu, tính ra cũng không phải ý xấu.”

Ông Cảnh thở phào: “Còn chả phải.”

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

MỤC LỤC

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x