MỘT NGÀY NHƯ THỂ BA THU – CHƯƠNG 13.2 (1)

By

·

31–46 phút

MỘT NGÀY NHƯ THỂ BA THU

CHƯƠNG 13: Minh Lượng – 13.2: Hai mươi năm sau

Dịch (láo): A Tĩnh

#nhatnhattamthu #motngaynhuthebathu

(1)

Ngày Minh Lượng thành hôn, mấy đứa bạn học chơi thân với cậu hồi còn trung học gần như đều có mặt cả. Trong hôn lễ, Đổng Quảng Thắng con trai ông Đổng làm người dẫn chương trình; Quách Tử Khải con trai Quách Bảo Thần đang học sau đại học ở Bắc Kinh, không đúng kỳ nghỉ, cũng đặc biệt nghỉ phép để về Diên Tân, người bạn học thân thiết khác là Phùng Minh Triều đang làm mua hàng ở một cao ốc bách hóa lớn ở Trịnh Châu, cũng đặc biệt nghỉ phép xin về, hai người đều là phù rể của Minh Lượng.

Năm nay Minh Lượng hai mươi sáu tuổi, làm đầu bếp trong quán “Thiên Bồng Nguyên Soái”. Mười năm trước, Minh Lượng học đến năm đầu trung học phổ thông thì chủ động thôi học. Minh Lượng thôi học không phải vì cậu không còn muốn đi học mà vì ba của cậu là Trần Trường Kiệt gửi cho cậu một lá thư. Trong thư Trần Trường Kiệt nói, mười năm trước, Trần Trường Kiệt để Minh Lượng lại Diên Tân gửi cho nhà Lý Diên Sinh nuôi, cái nuôi này không phải nuôi không, trước đó có thỏa thuận điều kiện đi kèm, mỗi tháng ông ta phải gửi nhà Lý Diên Sinh ba mươi tệ; sau này vật giá leo thang, tiền mỗi tháng gửi nhà Lý Diên Sinh cũng theo đó tăng lên; đến năm Minh Lượng mười sáu tuổi thì đã thành mỗi tháng gửi một nghìn năm trăm tệ. Số tiền này đều do ông ta giấu mẹ kế của Minh Lượng là Tần Gia Anh làm tăng ca, kiếm thêm chút tiền. Đồng nghiệp khác trong tổ nghiệp vụ đều không chịu tăng ca, ông ta tăng ca làm thêm còn xin làm thay người khác; lúc tăng ca thêm giờ lại phải giấu Tần Gia Anh. Nhưng tháng trước, chuyện này đã bị Tần Gia Anh phát hiện. Trường Trường Kiệt đến bưu cục chuyển tiền cho Lý Diên Sinh, chuyển tiền xong thì vội theo xe, biên lai chuyển khoản bỏ trong túi áo, bị Tần Gia Anh phát hiện lúc giặt quần áo ở nhà. Đến khi Trần Trường Kiệt theo xe về, Tần Gia Anh truy hỏi chuyện này, ông ta chỉ đành ngụy biện rằng tiền này cho nhà Lý Diên Sinh mượn. Tần Gia Anh bèn đến phòng tài vụ của kho đầu máy, tra được mỗi tháng Trần Trường Kiệt đều lãnh thêm chút tiền tăng ca ngoại ngạch, mà tiền tăng ca này, Trần Trường Kiệt lại không đem về nhà. Về nhà truy hỏi Trần Trường Kiệt, Trần Trường Kiệt thấy giấu không được nữa, chỉ đành thú thật, đây là phí sinh hoạt mỗi tháng gửi cho Minh Lượng.

Tần Gia Anh khóc lóc nói: Em có phản đối anh gửi tiền sinh hoạt cho con trai anh đâu, tại sao nhất định phải giấu? Sao anh biết em là loại không thấu tình đạt lý như vậy? Hai người ở chung đã được mười năm, hóa ra anh vẫn luôn hai lòng; cái này không phải chuyện tiền nong mà là chuyện con trai anh mỗi tháng nhận được số tiền này là mỗi lần hận em.

Trần Trường Kiệt nói trong thư rằng, thực ra chuyện không phải như vậy, mười năm trước không nói chuyện này cho Tần Gia Anh nghe chỉ là thêm một chuyện chi bằng bớt một chuyện, đành nói, Minh Lượng ở lại Diên Tân là để làm con thừa tự cho Lý Diên Sinh, nghĩa là cho Minh Lượng trở thành con trai nhà Lý Diên Sinh, hoàn toàn không nhắc đến chuyện mỗi tháng còn phải đưa thêm tiền. Mười năm sau chuyện này bại lộ cũng không thể rút lại lời đã nói; chẳng khác nào bản thân mình mười năm trước làm chuyện không chừa lại đường lui cho mình mười năm sau. Ngượng ngùng hơn là ở chỗ, chuyện mỗi tháng Trần Trường Kiệt gửi tiền cho nhà Lý Diên Sinh suốt mười năm nay, Minh Lượng cũng không hề hay biết.

Trần Trường Kiệt nói trong thư rằng, Tần Gia Anh khóc lóc xong lại đến phòng tài vụ của kho đầu máy, ép phòng tài vụ đồng loạt chuyển hết tiền lương, tiền thưởng và tất cả tiền tăng ca vào thẻ ngân hàng của Tần Gia Anh; lúc về lại nói với Trần Trường Kiệt rằng: Từ nay về sau, anh không có tiền gửi con trai anh nữa, con trai anh sẽ không có cách gì giận em nữa; nếu như con trai anh cần tiền sinh hoạt, bảo nó về Vũ Hán một chuyến, nhận lỗi vì đã thông đồng với anh giấu giếm em và hận em suốt mười năm nay trước, sau đó chúng ta mới nói tới chuyện tiền sinh hoạt. Trong thư, Trần Trường Kiệt nói: Mẹ kế con nói thế, tất nhiên là vì giận; mục đích của cô ấy là lấy cái sai của ba mười năm trước để trừng phạt ba bây giờ, ép ba từ nay về sau thực sự cắt đứt quan hệ với con, như thể mười năm trước đem con đi cho Lý Diên Sinh là sự thật, nhằm báo mối thù mười năm này. Chuyện đến nước này, ba cũng tiến thoái lưỡng nan, bởi vì đường lui này là chính ba chặt đứt. Phiền phức ở chỗ, từ nay về sau trong tay ba không có đồng bạc nào, dù có muốn chu cấp sinh hoạt cho con cũng không còn khả năng nữa. Nếu như ba không cho con tiền sinh hoạt nữa, từ nay về sau con phải sống thế nào, ba cũng không nghĩ ra cách gì khác. Chỉ mong là, hai vợ chồng Lý Diên Sinh có thể thực sự nuôi con như con trai mình. Trần Trường Kiệt lại viết trong thư rằng, một người cha mà ngay cả con trai mình cũng không chu cấp nổi, nghĩ tới lại thấy lòng đau như cắt; nói cho cùng, con cứ trách ba không có bản lĩnh đi. Cuối thư, Trần Trường Kiệt lại viết, tái bút, nhắc đến thì, ba cũng năm mươi tuổi rồi, mấy năm nay, người ngợm bắt đầu lắm bệnh, nếu như Tần Gia Anh không chịu cho ba chu cấp tiền sinh hoạt cho con, từ nay về sau ba cũng không tăng ca nữa.

Minh Lượng xem thư xong, không hề viết hồi âm. Cậu không biết phải viết hồi âm thế nào. Chuyện trước đây Trần Trường Kiệt chu cấp phí sinh hoạt cho mình, Minh Lượng không biết; bây giờ không thể chu cấp nữa, cậu cũng không thể miễn cưỡng ba mình tiếp tục chu cấp; hoặc là, nói cho cùng, chuyện này phải trách Trần Trường Kiệt, chu cấp phí sinh hoạt cho con trai mình là chuyện đúng lý hợp tình, ban đầu không nên giấu Tần Gia Anh, còn đặt điều bịa chuyện. Đương nhiên, gặp chuyện thì bịa đặt giấu giếm đối phương, không dám hùng hồn thẳng thắn bày tỏ, tức là sợ người ta không đồng ý với mình. Nếu đã sợ người ta, tức là không chỉ sợ người ta mỗi chuyện này mà là chuyện gì cũng sợ. Trước khi nói người ta biết chuyện này, bản thân đã nom nớp lo sợ trước tiên, thêm một chuyện chi bằng bớt một chuyện, đành phải giấu đi. Vì phí sinh hoạt, Minh Lượng có thể đến Vũ Hán nhận lỗi với mẹ kế, nhưng nghĩ tới cơn thịnh nộ này của bà đã tích tụ được mười năm, cho dù Minh Lượng và Trần Trường Kiệt cùng nhau xin lỗi bà, bà cũng sẽ tìm lý do khác tiếp tục làm khó, hòng báo mỗi thù mười năm này. Quân tử báo thù mười năm chưa muộn, có lẽ chính là nói cái này. Huống chi, trước đó Minh Lượng còn chả biết chuyện Trần Trường Kiệt gửi tiền cho mình thì nhận lỗi thế nào chứ? Không thể đi Vũ Hán, đi cũng phí công. Về phần Lý Diên Sinh, trước đây Minh Lượng không biết Trần Trường Kiệt gửi tiền cho Lý Diên Sinh, bây giờ cũng chỉ đành vờ như không biết. Từ nay về sau Trần Trường Kiệt không chu cấp phí sinh hoạt cho cậu nữa, cậu cũng không thể thay đổi sự thật này. Về mối quan hệ qua lại với Trần Trường Kiệt, mười năm nay, trừ chuyện Trần Trường Kiệt âm thầm gửi phí sinh hoạt cho Minh Lượng ra, hai người vốn dĩ không có qua lại gì. Bản thân cái chuyện qua lại này, từ nay về sau có qua lại nữa không cũng không khác gì lúc trước. Xem thư xong, một mình Minh Lượng chạy đến bờ sông ngoại ô phía bắc huyện Diên Tân, lặng lẽ đốt bức thư đi.

Nhưng mà, hai người có qua lại hay không với Minh Lượng cũng không khác gì nhau, nhưng nhà Lý Diên Sinh không thế, bởi vì từ tháng tiếp theo, Trần Trường Kiệt sẽ không gửi tiền cho nhà Lý Diên Sinh nữa, tiền Minh Lượng ăn uống sinh hoạt và học phí phải do vợ chồng Lý Diên Sinh bỏ ra. Tháng đầu tiên Lý Diên Sinh và Hồ Tiểu Phượng chẳng nói gì. Tháng thứ hai Lý Diên Sinh không nói gì nhưng sắc mặt Hồ Tiểu Phượng đã bắt đầu khó coi. Đến tháng thứ ba, thường có những chuyện nhỏ mà khi có mặt Minh Lượng, Hồ Tiểu Phượng sẽ bắt đầu chửi chó mắng mèo, Lý Diên Sinh bắt đầu thở dài than vắn. Đến tháng thứ tư, Minh Lượng chủ động thôi học, rời khỏi nhà Lý Diên Sinh đến quán cơm “Thiên Bồng Nguyên Soái” học việc. Công việc này còn do thầy Tiêu dạy môn địa lý ở trường trung học tìm giúp cho. Ông chủ quán “Thiên Bồng Nguyên Soái” họ Chu, thích hát kịch, rảnh rỗi thường thích rống họng lên hát; thầy Tiêu dạy môn địa lý của Minh Lượng trên trường cũng mê ca kịch; ngoài giờ mở tiệm hay dạy học, hai người thường cùng hát mấy vở <Đánh cá giết người> [1], <Bên lầu gặp gỡ> [2] vân vân; lúc hát, ông Chu thường đóng vai “sinh”, thầy Chu thế vai “thanh y”. Thầy Chu thấy Minh Lượng đã đến đường cùng, bèn nhằm lúc hát ca kịch lần tiếp theo mà kể tình hình của Minh Lượng cho ông Chu nghe, còn dùng cả lời thoại trong kịch để nói với ông Chu:

“Phu quân, chàng xem đứa bé này, tứ cố vân thân, có nước mà khó về, hay là chàng nổi lòng thương mà thu nhận nó đi. Có câu nói này, “chớ chê việc thiện nhỏ mà không làm” đó.”

Ngược lại ông Chu “phụt” cười thành tiếng, nói bằng giọng đời thường: “Ông Tiêu này, giò heo không dễ nấu đâu, tôi chỉ hỏi ông câu này, đứa bé đó có lười không?”

Thầy Tiêu cũng nói lại giọng đời thường: “Không lười, không lười, người lười thì tôi nói với ông sao được.”

“Người lười cũng không ở nổi chỗ tôi.”

Ngày tiếp theo, Minh Lượng bèn đến quán “Thiên Bồng Nguyên Soái” học việc. Học việc không được trả lương, nhưng quán cơm bao ăn bao ở. Công việc đầu tiên của Minh Lượng khi làm học việc chính là cạo lông heo, phải nhặt từng cái từng cái giò một trong từng chậu từng chậu giò heo được chuyển đến từ lò mổ Diên Tân, cạo sạch sẽ lông trên móng giò; trước đây cạo lông heo phải dùng tới dao cạo, nhưng lông bên ngoài cạo có sạch thì lông trong thịt vẫn còn, khách hàng vẫn có thể ăn phải; bây giờ đổi cách dùng hắc ín nấu sôi quét lên giò heo để bóc cả lông trong ngoài thịt heo ra; lông vụn nào không bóc được sẽ lấy nhíp nhổ sạch; sau đó dùng nước sạch trụng sạch giò heo, lại cho móng heo đã được trụng sạch vào nước biển tẩm muối tiêu để ướp mặn. Tính ra thì mỗi ngày Minh Lượng có thể cạo gần ba trăm cái giò heo.

Quán “Thiên Bồng Nguyên Soái” mở cửa mỗi mười một giờ hằng ngày. Đến ba giờ chiều, khách đến quán ăn cũng thưa dần; tối sáu giờ chiều lại mở, mỗi ngày thường đóng cửa vào lúc hơn mười một giờ đêm. Từ ba giờ chiều đến sáu giờ tối là thời gian ba tiếng đồng hồ nghỉ ngơi. Nhưng nhân sự khác trong quán có thể nghỉ ngơi, còn học việc không được nghỉ ngơi mà phải cạo lông heo ở sau vườn. Phải đến khoảng năm giờ chiều, nếu có thể cạo xong giò heo sớm thì một giờ thừa lại Minh Lượng cũng có thể nghỉ ngơi chốc lát. Người có nhà ở Diên Tân, mỗi lần nghỉ giải lao đều sẽ về nhà; Minh Lượng không có nhà ở Diên Tân, cũng không muốn về nhà Lý Diên Sinh, chỉ đành ở lại quán cơm “Thiên Bồng Nguyên Soái”. Dĩ nhiên cậu cũng có thể ra phố hoặc đến bến đò Diên Tân. Phố thị hay bến đò đều là nơi náo nhiệt, nhưng cậu làm học việc không lương, người không có một phân tiền, có ra phố thì ngay cả nước ngọt cũng không mua được, đi cũng hoài công, bèn không đi vậy; ngoài ra còn sợ ra phố sẽ gặp phải bạn học trước đây, đang học yên lành sao đột nhiên nghỉ học? Nguyên nhân khó nói, có giải thích cũng không thể giải thích rõ trong vòng một hai câu được, chi bằng không giải thích; thế nên lúc rảnh rỗi, cậu thường ra sau quán “Thiên Bồng Nguyên Soái” ở một mình.

Sau tiệm cơm có một con sông. Mỗi mùa hè, tối nào ông Chu cũng bật đèn điện bên sông, bày thêm mấy cái bàn, bên sông đầy cả khách khứa ăn giò heo uống rượu; gió lạnh thổi qua khiến người ta tinh thần phấn chấn; nhưng mùa hè nhiều muỗi, phải đốt nhang muỗi dưới bàn. Qua cầu đi thẳng về phía trước chính là một khoảnh ruộng hoang bát ngát, mùa xuân trổ lúa, mùa thu trổ bắp. Ông Chu thích hát kịch, mới sáng sớm đã ra đến bờ sông, nhìn ruộng hoa màu kia mà rống mấy tiếng. Năm giờ chiều vừa điểm chính là lúc bờ sông và ruộng hoa màu vắng người. Minh Lượng thường bước qua cầu, đến bờ ruộng, móc một cây sáo trên người ra mà thổi.

Minh Lượng biết thổi sáo là nhờ bạn thời trung học là Phùng Minh Triều dạy cho. Cậu của Phùng Minh Triều thổi sáo cho một ban chơi nhạc cụ trong huyện; bạn nhạc này chuyên thổi cho các tiệc ma chay hiếu hỉ; từ nhỏ Phùng Minh Triều đã lớn lên bên nhà ngoại, nghe cậu chơi nhạc đến mưa dầm thấm đất mà học được cách thổi sáo. Phùng Minh Triều nói, cậu mình từng bảo, quan trọng nhất của thổi sáo là lấy hơi, biết cách lấy hơi mới thổi được những âm cao và dài; chỉ khi thổi được âm dài, âm thanh này mới du dương trầm bỗng như nở hoa; lấy hơi mà lấy quá rõ ràng gọi là lấy hơi bậc thấp, người biết lấy hơi thật sự đều biết lấy hơi ngầm; trừ việc lấy hơi còn phải biết miết ngón và ém âm. Minh Lượng được Phùng Minh Triều dạy thổi các bài <Thổi sáo chăn cừu>, <Chăn trâu>, <Chim đa đa bay lượn>, <Hoàng oanh giang đôi cánh vàng>, <Năm cái mỏ>.

Sau này chơi sáo thành thạo rồi, có thể cầm cây sáo thổi theo ý thích. Nói là theo ý thích cũng không phải theo ý thích lắm, mà là thổi theo tâm trạng của mình, theo chuyện mình nhớ ra, theo chuyện nọ xọ chuyện kia mà mình nhớ ra. Ví dụ như, cậu thường nhớ đến tình cảnh hồi ở Hán Khẩu năm sáu tuổi cứu được tấm ảnh hát kịch bị ghim trên ván gỗ của mẹ trong phòng củi rồi mang tấm ảnh của mẹ vứt xuống Trường Giang, mẹ cậu đột nhiên đứng lên khỏi bức ảnh, vừa hát vừa múa trên Trường Giang; ví như, năm đó cậu ngồi ngược tuyến xe lửa, mất hết hai tháng mới từ Hồ Nam chạy về được Diên Tân, nhà bà nội chỉ còn vườn không nhà trống, lá rơi đầy đất, cây táo hơn hai trăm tuổi trong vườn cũng chết theo bà nội; đến hôm nay, cây táo đó cũng chẳng biết lưu lạc phương nào… và thổi những sự việc này vào tiếng sáo. Thổi mãi thổi mãi, ngoài thường ngày có thể thổi thành câu chuyện ra, cậu còn có thể thổi ra cảm thụ và tâm trạng không nói được thành lời của mình với thế giới này; thổi ra những chuyện này mà cũng không phải những chuyện này; tâm trạng ẩn sau những khúc nhạc ấy, chỉ có thể hiểu ý chứ không thốt nổi thành lời. Minh Lượng lại nghĩ, nếu như có thể thốt nên lời, nói ra bằng ngôn ngữ thì còn thổi sáo làm gì nữa? Phùng Minh Triều dạy Minh Lượng thổi sáo, nhưng có thể thổi được những thứ này đều do chính Minh Lượng tự ngộ ra. Hôm nay, đang lúc Minh Lượng đối diện với ruộng hoa màu mà thổi sáo thì thấy chủ quán là ông Chu đứng bên bờ đối diện chăm chú nhìn về hướng này, cậu bèn vội bỏ sáo xuống.

Ông Chu đứng ở bờ đối diện vẫy tay: “Nhóc con, thổi khá đấy, thổi tiếp đi.”

Minh Lượng lại tiếp tục thổi sáo. Ai biết vừa mới thổi, ông Chu lại xua tay bảo dừng, hỏi: “Nhóc con, bác biết hát kịch, sắp hát rồi đây, mày thổi đệm cho bác nhé?”

Minh Lượng lắc đầu: “Thưa bác, cháu chỉ biết thổi sáo, không biết đệm nhạc hát kịch.”

Ông Chu lại xua tay: “Vậy thôi, mày cứ thổi tiếp phần mày vậy.”

Minh Lượng lại tiếp tục thổi.

Hôm đó, Minh Lượng đang ở sau vườn dùng hắc ín dính lông heo thì có người đứng trước mặt cậu, cậu ngẩng đầu, trông thấy Lý Diên Sinh.

Lý Diên Sinh vác theo một bao vải đặt lên chiếc bàn bên cạnh: “Minh Lượng, trời sắp vào đông, nên mặc quần áo dày hơn, chú đem áo bông, quần bông và giày bông của cháu đến đây.”

“Cảm ơn chú.”

“Ba cháu giao cháu cho chú, mà chú không thể săn sóc cháu đàng hoàng.”

“Chú ơi, chú đã săn sóc cháu mười năm rồi.”

“Sau này có chuyện gì, cần tìm chú thì cứ tìm chú.”

“Cháu biết rồi, thưa chú.”

“Chỉ là nhớ cái này nhé, đừng đến nhà chú tìm chú mà đến cửa hàng bán lẻ thực phẩm thứ yếu tìm.”

“Cháu biết rồi, thưa chú.”

“Nhắc tới thì, chú có quen ông Chu ở đây, vừa rồi chú có nói với ổng có gì cũng phải săn sóc cháu, ổng cũng hứa rồi.”

“Cảm ơn chú.”

Trong lúc nói chuyện thì trời đổ một trận tuyết to. Sau khi trận tuyết qua đi, trời đột nhiên trở lạnh, nước đọng thành băng. Hôm nay Minh Lượng đang rửa giò heo ở vườn sau thì ông Chu khoác chiếc áo khoác lông chồn bước qua, nhìn thấy Minh Lượng bèn hỏi: “Nhóc con, mấy ngày nay sao không nghe nhóc thổi sáo nữa?”

“Thưa bác, trời lạnh, không thổi được.”

“Đồ cứng nhắc, mày không ra bờ sông thổi sáo mà thổi trong nhà là được rồi còn gì.”

Minh Lượng không nói gì. Ông Chu:“Nhóc con, hỏi mày đó.”

Minh Lượng thò tay ra khỏi chậu nước: “Tay ngâm trong nước quá lâu, đông cứng sưng phù lên rồi, có cầm sáo lên cũng không che mắt người khác được.”

Ông Chu vỗ đầu mình một cái: “Nhóc con này, tại bác sơ ý quá.”

Ngày tiếp theo, Minh Lượng được điều vào nhà bếp, bắt đầu học nấu giò heo với một đầu bếp họ Hoàng. Giò heo được nấu ở nhà bếp. Nhà bếp ấm áp không nói, còn có thể học nghề với thầy; ngoại trừ học nghề ra, làm gì ở đây cũng không cực khổ hay mệt mỏi như rửa giò heo; thoát khỏi khổ cực không nói, nấu giò heo còn có tiền lương hai trăm tệ mỗi tháng. Từ cạo giò heo đến nấu giò heo, bằng như một bước lên trời, Minh Lượng không biết là do công lao thổi sáo của mình hay là do Lý Diên Sinh gửi gắm mình cho ông Chu nên ông Chu mới chăm sóc Minh Lượng; hoặc là gồm cả hai nguyên nhân này; nguyên nhân không nói rõ được cũng không thể đi hỏi ông Chu, chỉ đành cho nó mập mờ. Thắm thoắt đã qua thêm một tháng, được phát lương rồi; Minh Lượng cầm tiền lương, nhân lúc nghỉ giải lao mà chạy ra ngoài phố, trời rất lạnh mà cậu uống một lúc ba bình nước ngọt có ga.

Thắm thoắt lại ba năm trôi qua, Minh Lượng học nấu giò heo với thầy Hoàng cũng giống như học thổi sáo với Phùng Minh Triều năm xưa vậy, thời gian càng lâu càng quen tay hay việc, giò heo cũng nấu ra gì và này nọ rồi. Hai năm đầu nấu không ra gì, giò heo không bị cậu nấu thành sống thì bị cậu nấu quá chín, nhừ hết cả, không có độ dai; có khi, một nồi giò heo nửa bên nấu quá nhừ, nửa bên còn chưa chín, phải nhờ thầy Hoàng xử lý lại lần nữa. Đương nhiên, nấu nhừ cả rồi không xử lý được, chỉ có thể xử lý phần nấu sống, còn phần nấu nhừ thì đem bán cho mấy lão già răng cỏ lung lay. Nhưng thời gian không phụ người có lòng, sau ba năm, Minh Lượng không những có thể nấu chín một nồi giò heo mà còn không bị nhừ; nói chín là chín đều, không phải nửa chín nửa sống; nhưng mùi vị và cảm giác cho vào miệng vẫn còn sai lệch đôi chút với nồi do thầy Hoàng chính tay nấu ra. Thầy Hoàng nói: Này thì đúng rồi, tôi nấu ba mươi năm, cậu mới nấu ba năm, nếu như mùi vị như nhau chẳng phải tôi nên về vườn à? Minh Lượng thấy thầy Hoàng nói cũng có lý.

Tháng sáu năm đó, bạn học trung học cùng năm đến ngày thi đại học. Tháng tám, kỳ thi đại học kết thúc, Quách Tử Khải đậu một trường đại học ở Bắc Kinh, Phùng Minh Triều đậu trường trung cấp kỹ thuật Tiêu Tác, Đổng Quảng Thắng không đậu đại học cũng không đậu trung cấp kỹ thuật, bắt đầu học toán vận với ông Đổng cha mình. Minh Lượng nghĩ, nếu như cậu vẫn còn học trung học, không biết có thể đậu đại học hay trung cấp kỹ thuật không; nếu đậu, lại không biết đậu được nơi nào. Năm đó mẹ cậu đặt cho cái tên “Hàn Lâm” là mong cậu có thể giống Hàn Lâm trong <Bạch Xà Truyện> đỗ đạt trạng nguyên, ai biết được chuyện đến hôm nay, cậu lại trở thành người nấu giò heo chứ. Bỏ học từ hồi năm đầu phổ thông, xem tình hình, sợ là cả đời cũng không có cơ hội thi đại học, cả đời cũng phải làm người nấu giờ heo. Nghĩ đến đây, cậu không khỏi thở dài. Lại nghĩ thở dài cũng vô dụng, thế là không thở dài nữa. Lúc nghỉ ngơi, cậu lại ra phố mua nước ngọt uống; vừa uống nước ngọt vừa nhìn người qua kẻ lại trên đường; trước đây vốn rất quen thuộc Diên Tân mà nay bỗng nhiên thấy Diên Tân sao xa lạ quá. Ngày tiếp theo cậu không ra phố nữa mà ra bờ sông sau quán cơm thổi sáo. Thổi sáo theo ý thích, mà lại thổi ra cảm giác xa lạ với Diên Tân; thổi mãi thổi mãi, bỗng nhiên rơi nước mắt.

Hai tháng sau, quán cơm mới nhận một nữ phục vụ tên Mã Tiểu Manh; dáng dấp cao gầy, trắng trẻo; mấy tháng trước cô cũng thi đại học nhưng không đậu, bây giờ đến làm việc ở quán “Thiên Bồng Nguyên Soái”. Ba năm trước lúc còn ở trường trung học Diên Tân, Minh Lượng không nhớ có gặp qua Mã Tiểu Manh lần nào. Lại nghĩ một cấp học có đến mười lớp, không thể quen hết tất cả bạn học của từng lớp được. Có lẽ hồi đó có gặp, sau lại quên rồi. Về sau nghe người ta nói, sở dĩ cô không đậu đại học là vì hồi còn học trung học chỉ mải miết lo chuyện yêu đương. Bạn học nam yêu đương với cô vừa đậu đại học, hai tháng trước đã đến Quảng Châu, cắt đứt quan hệ với cô rồi. Nhất thời nghĩ không thông, cô bèn treo cổ trong nhà. May mà mẹ cô phát hiện sớm mới cứu cô về được. Người khác vừa nhắc đến treo cổ, Minh Lượng liền nhớ tới mẹ mình. Đương nhiên, hai người treo cổ mỗi người một nguyên nhân. Một người đã chết, người kia được cứu về. Không cứu được mẹ về, nói ra cũng có liên quan đến Minh Lượng. Minh Lượng lại thở dài. Sau đó lại nghĩ, giờ nghĩ chuyện của mẹ cũng đã trễ rồi, nghĩ chuyện Mã Tiểu Manh cầm bằng lo bò trắng răng thay thiên hạ; nghĩ những chuyện đó vô dụng, bèn không nghĩ nữa. Về sau lại biết, nhà Mã Tiểu Manh ở bến đò Diên Tân mở một cửa tiệm tạp hóa ngay bến đò, trước đây Minh Lượng rảnh rỗi tản bộ ở bến đò Diên Tân hình như cũng từng thấy cửa tiệm này, trên cửa có treo biển hiệu “Tiệm tạp hóa Mã Ký”. Chuyện Minh Lượng cảm thấy kỳ quặc chính là, Mã Tiểu Manh có nhà ở Diên Tân nhưng giờ nghỉ giải lao buổi trưa cũng không thấy cô về nhà mà ở lại trong tiệm nghe phát thanh. Trong một lần nghỉ giải lao, Minh Lượng thổi sáo bên ruộng hoa màu, đột nhiên phát hiện Mã Tiểu Manh đứng ở bờ đối diện nhìn mình.

Minh Lượng buông sáo xuống, Mã Tiểu Manh hỏi: “Minh Lượng, anh thổi bài gì thế? Nghe hay quá.”

“Thổi đại thôi.”

“Bài này tên thổi đại à? Nói anh béo, có khi anh thở hổn hển thật nhỉ.”

Minh Lượng muốn nói cậu thật sự chỉ thổi đại, thổi về người mẹ trên Trường Giang, về cây táo không còn trong vườn nhà bà nội, thổi sự xa lạ với Diên Tân… Không phải thổi đại thì là gì? Nhưng giải thích những chuyện này phí hơi phí sức lắm; phí hơi còn không giải thích được rõ ràng, thôi thì không giải thích; bèn nói: “Tôi nói thật, cô không tin thì thôi.”

“Minh Lượng, tôi thấy anh khép mình quá đó.”

“Sao nói vậy?”

“Tôi đến đây cũng được một tháng rồi mà anh chả nói với tôi tiếng nào.” Rồi nói, “Bình thường, nếu có thể không nói thì anh không nói, chỉ thổi sáo thôi.” Lại nói, “Sao lại thế?”

Minh Lượng nghĩ ngợi, cô ta nói cũng đúng, bình thường cậu không thích nói chuyện; tại sao nhỉ? Nguyên nhân nhất thời cậu nghĩ không ra, giải thích lại quá phí hơi phí sức, Minh Lượng bèn bật cười ha hả, cũng không giải thích; cậu nói: “Tôi cũng có chuyện muốn hỏi cô đây.”

“Chuyện gì?”

“Nhà cô có tiệm tạp hóa, cô muốn làm việc sao không làm việc ở nhà mà phải tới đây làm công?”

“Anh lo làm gì?”

Minh Lượng nghĩ ngợi, thấy Mã Tiểu Manh nói cũng đúng, chuyện này đích thực không cần cậu lo, nên không lo nữa.

Hai tháng sau, Mã Tiểu Manh đi làm ở chỗ xa hơn, rời quán “Thiên Bồng Nguyên Soái” đến làm việc ở Bắc Kinh. Lúc sắp đi không chào hỏi bất cứ ai trong quán, cũng không chào hỏi Minh Lượng. Nghe nói, cô ta đến Bắc Kinh vẫn tiếp tục làm phục vụ trong quán cơm. Minh Lượng nghĩ ngợi, quán cơm ở Bắc Kinh nhất định lớn hơn quán “Thiên Bồng Nguyên Soái” ở Diên Tân nhiều nhỉ?

Năm năm sau, Mã Tiểu Manh từ Bắc Kinh về Diên Tân, lấy tiền kiếm được ở Bắc Kinh mở một tiệm bán quần áo ở ngã tư đường trong huyện Diên Tân. Mã Tiểu Manh về cũng là chuyện Minh Lượng ngẫu nhiên biết được. Ngày đó, Minh Lượng nhân lúc nghỉ giải lao mà ra phố tản bộ, đến đầu ngã tư, thấy ở góc tây bắc giao lộ có một tiệm quần áo mới mở; sau đó phát hiện, người làm trong tiệm quần áo này không ngờ chính là Mã Tiểu Manh. Mã Tiểu Manh cũng phát hiện ra Minh Lượng ngoài đường. Minh Lượng bèn ngồi dựa vào cửa tiệm quần áo nói chuyện phiếm với Mã Tiểu Manh, hỏi cô ta về khi nào, sao lại mở tiệm quần áo này; hai người lại tám đến các đồng nghiệp trong quán “Thiên Bồng Nguyên Soái”, Mã Tiểu Manh đột nhiên hỏi: “Minh Lượng, bây giờ anh còn thổi sáo không?”

Minh Lượng gãi đầu, đột nhiên đứng dậy, năm năm nay, dường như đã rất lâu rồi gã không thổi sáo nữa; bèn nói: “Cô không nói là tôi quên cả chuyện đó rồi.” Lại giải thích, “Tôi nói quên, không phải là quên chuyện thổi sáo, mà là quên lâu lắm rồi mình không thổi sáo.”

Mã Tiểu Manh cười. Hai người lại tám đến những thay đổi của Diên Tân năm năm nay, bến đò mới có thêm rất nhiều thuyền du ngoạn, trên thuyền có cả tiệm cơm. Thuyền chạy trên Hoàng Hà, du khách có thể vừa ăn cơm vừa ngắm phong cảnh. Phố nam vừa mở một phòng hát mới, phố bắc vừa mở thêm quán cà phê, phố tây vừa mở thêm rạp chiếu phim.

Nói đến đây, Minh Lượng nói: “Nhắc đến rạp chiếu phim, lâu ngày gặp lại, tối nay tôi mời cô xem phim vậy.”

Mã Tiểu Manh “phụt” cười thành tiếng: “Minh Lượng, gan của anh to hơn năm năm trước nhiều đó.” Nghĩ ngợi rồi nói, “Niệm tình đồng nghiệp cũ, tôi đi với anh.” Lại nói, “Nói trước nhé, chỉ đi xem phim, không nghĩ xiêng nghĩ quàng.”

“Tôi không phải người nghĩ xiêng nghĩ quàng.”

Tối hôm đó, Minh Lượng và Mã Tiểu Manh cùng nhau đến rạp chiếu phim ở phố tây xem phim. Vào rạp chiếu phim, Minh Lượng lại mua bịch bỏng ngô, rồi hỏi Mã Tiểu Manh: “Cô muốn uống gì?”

“Còn anh?”

“Từ nhỏ tôi đã thích uống nước ngọt rồi.”

“Lúc tôi còn ở Diên Tân cũng thích uống nước ngọt, đến Bắc Kinh thì bắt đầu thích uống Cocacola.”

“Thế tôi uống Cocacola với cô.”

Xem phim xong, hai người cùng nhau đi ăn lẩu dê nhúng bên đường đối diện. Mã Tiểu Manh hỏi: “Minh Lượng, anh có uống rượu không?”

“Ít uống lắm.”

“Tôi uống.” Mã Tiểu Manh lại nói, “Ở Diên Tân không biết uống, nhưng học được ở Bắc Kinh.”

“Vậy tôi uống với cô.”

Đến khi bắt đầu uống thật, Minh Lượng mới phát hiện tửu lượng của Mã Tiểu Manh không bằng mình, uống được nửa bình rượu trắng, đầu óc Minh Lượng hãy còn tỉnh táo chứ Mã Tiểu Manh đã líu lưỡi rồi. Nhưng hai người vẫn tám chuyện, còn sôi nổi hơn lúc chưa uống rượu nữa.

Minh Lượng: “Tiểu Manh này, tôi hỏi cô chuyện này nhé.”

“Chuyện gì?”

“Cô đi Bắc Kinh năm năm, sao lại về?”

“Muốn nghe nói thật hay nói xạo?”

“Đều được, thật cũng được giả cũng được, không liên quan tôi, tiện miệng hỏi thôi.”

“Thế nói thật với anh.”

“Nói đi.”

“Tôi không nói tại sao lại về, mà nói chuyện đi nhé.”

“Được cả.”

“Phải nói từ năm mười tuổi rồi.”

“Nói đi.”

Mã Tiểu Manh nói líu cả lưỡi, kể cho Minh Lượng nghe chữ được chữ không. Năm cô mười tuổi, ba mẹ cô ly hôn, rồi mẹ lấy ông Mã của “Tiệm tạp hóa Mã Ký” ở bến đò Diên Tân. Đến năm thứ hai, hai người sinh được một bé trai, chính là em trai của Mã Tiểu Manh. Từ năm cô mười tuổi trở đi, cha dượng thường nhân lúc mẹ cô dẫn em trai về nhà mẹ đẻ mà ở nhà quấy rối cô. Đến khi lên trung học, cô dọn đến ở ký túc xá cũng chính vì để tránh lão cha dượng ở nhà. Ngày đêm tá túc trong trường, thế là yêu đương với bạn học. Sau này cô không đậu đại học, chỉ có thể về nhà, cha dượng lại quấy rối cô, nói, thi không đậu đại học cũng có chỗ tốt của nó, hai người có thể vĩnh viễn bên nhau rồi. Bạn học yêu đương với cô vong ơn phụ nghĩa, sau khi đậu đại học là cắt đứt quan hệ với cô, thêm cha dượng thừa cơ quấy rối, hai chuyện xảy ra cùng lúc, cô bèn thắt cổ. Sau khi được cứu thì không làm việc cho tiệm tạp hóa gia đình mà đến làm ở quán “Thiên Bồng Nguyên Soái” cũng là vì những nguyên nhân này; sau đó càng đi càng xa, thế là đến Bắc Kinh làm việc, cũng vì những nguyên nhân này. Mã Tiểu Manh lại nói, tuy rằng cha dượng không tốt, là tên cầm thú, nhưng ông ta đối với mẹ cô không tệ, nên cô vẫn mãi không nói lời nào; nếu như cô nói với mẹ, nhà này chắc chắn xong rồi. Hơn nữa trong nhà còn có đứa em trai, Mã Tiểu Manh lại nói: Bây giờ cô trở về từ Bắc Kinh, mở tiệm quần áo ở ngã tư đường, chính là suy xét đến việc vĩnh viễn không về tiệm tạp hóa nữa. Nhìn thì tưởng cô có nhà ở Diên Tân mà thực tình không phải – Mã Tiểu Manh lại nói.

Minh Lượng thừ người, gã không ngờ rằng những chuyện này lại xảy ra với Mã Tiểu Manh; đồng thời, gã cũng không ngờ rằng, Mã Tiểu Manh lại nói những chuyện này với mình; Mã Tiểu Manh bảo sẽ nói thật, Minh Lượng bảo cô cứ nói thật, không ngờ lại thật đến thế này. Minh Lượng có phần trở tay không kịp:

“Sớm biết như vậy, tôi sẽ không hỏi cô những chuyện này.”

Mã Tiểu Manh chỉ vào Minh Lượng: “Những chuyện này, trước nay tôi chưa từng với ai, anh cũng không được nói với người khác.” Rồi nói, “Biết anh kín miệng, không hay nói gì mới nói anh nghe đó.” Lại nói, “Không uống rượu cũng không nói anh biết đâu, thế này không phải uống say rồi đó chứ?” Nói xong rồi khóc.

Minh Lượng: “Yên tâm, tôi sẽ chôn chặt chuyện này trong lòng, không nói với ai, tôi biết chuyện này nặng nhẹ thế nào mà.”

Mã Tiểu Manh chùi nước mũi: “Tôi cũng có chuyện muốn hỏi anh đây.”

“Chuyện gì?”

“Năm đó anh học rất tốt mà, sao đột nhiên thôi học?”

“Cô đã nói thật với tôi, tôi cũng nói thật với cô vậy.”

“Nói đi.”

Minh Lượng uống một chén rượu: “Không nói chuyện thôi học, nói chuyện đi học đi.”

“Được luôn.”

“Vậy phải nói từ năm tôi ba tuổi.”

“Nói đi.”

Minh Lượng bèn nói từ năm mình ba tuổi. Năm gã được ba tuổi, mẹ gã thắt cổ ở Diên Tân; mẹ gã chết, gã cùng cha mình là Trần Trường Kiệt từ Diên Tân đến Vũ Hán thế nào; ở Vũ Hán, Trần Trường Kiệt cưới mẹ kế thế nào; sau này bà nội chết, gã ngồi nhầm xe lửa, phí mất hai tháng trời từ Hà Nam chạy về Diên Tân thế nào; ở Diên Tân, Trần Trường Kiệt giao gã cho nhà Lý Diên Sinh nuôi thế nào, sau đó Trần Trường Kiệt không gửi tiền chu cấp nữa, gã tiến thoái lưỡng nan nên đã thôi học thế nào, đến làm công cho “Thiên Bồng Nguyên Soái” thế nào… từ đầu đến đuôi nói sạch những chuyện chưa từng nói hơn mười năm này cho Mã Tiểu Manh nghe.

Mã Tiểu Manh nghe xong nói: “Không dễ gì.” Lại nói, “Ban đầu, sao mẹ anh lại thắt cổ?”

Việc này liên quan đến rất nhiều gập ghềnh trắc trở trước kia, một hai câu không nói hết được, Minh Lượng bèn nói: “Một lời khó nói.” Cũng chỉ vào Mã Tiểu Manh, “Những chuyện này, tôi cũng chưa từng nói ai nghe, cô cũng đừng nói ai biết đấy.”

“Ban đầu, sao anh lại từ Vũ Hán về Diên Tân?”

“Nhớ bà nội thôi.”

Nói nhớ bà nội cũng đúng, nhưng nguyên nhân quan trọng hơn đã bị gã giấu đi. Nguyên nhân quan trọng hơn chính là chuyện Anh Đào mẹ gã gặp phải ở Vũ Hán, mẹ bị kim thép cắm lên ván gỗ, mình đầy vết thương.

Hai người nói mãi nói mãi, đã đến canh ba rồi.

Chiều ngày tiếp theo nhân lúc nghỉ giải lao, Minh Lượng đến bến đò Diên Tân tìm “Tiệm tạp hóa Mã Ký”. Nhìn từ đằng xa, cha dượng của Mã Tiểu Manh đang đứng chống tay lên cửa tiệm tạp hóa, nhìn người qua kẻ lại trên đường. Ông ta không cao, hơi béo, mũi đỏ, có người vào tiệm bèn cười hỏi: “Muốn mua gì?”. Từ tướng mạo, Minh Lượng không nhìn ra ông ta là tên cầm thú. Lại thở dài, thật đúng là tri nhân tri diện bất tri tâm mà.

Hôm nay lại xem xong một bộ phim, Minh Lượng và Mã Tiểu Manh không đi ăn lẩu dê mà đến cửa tây, trèo lên tường thành Diên Tân. Nghe nói, tường thành này cũng được hơn hai nghìn tuổi rồi. Từ đầu thành nhìn xuống, Diên Tân đèn đuốc sáng trưng; nhưng trên tường thành tối mịt. Trong bóng tối, Minh Lượng ôm chặt Mã Tiểu Manh, muốn hôn cô. Mã Tiểu Manh cũng không cự tuyệt. Đến khi Mã Tiểu Manh đáp lại, Minh Lượng cảm thấy lưỡi Mã Tiểu Manh rất dài.

Thoắt cái, Mã Tiểu Manh đẩy Minh Lượng ra: “Minh Lượng, anh thổi sáo em nghe được không?”

“Được thì được, nhưng anh không mang sáo.”

“Em đi lấy với anh.”

“Lâu quá không thổi rồi, sợ âm không tới.”

“Không tới thì thổi không tới.”

Hai người xuống tường thành, lôi tới kéo lui đến quán “Thiên Bồng Nguyên Soái”. Khi Minh Lượng lấy được sáo ra khỏi phòng tập thể, hai người bèn đến bờ sông sau quán ăn, Minh Lượng nhìn vào màn đêm, thổi một khúc nhạc.

Nhạc đã thổi xong, Mã Tiểu Manh hỏi: “Anh thổi bài gì thế?”

“Thổi đại thôi.”

“Thổi đại là cái gì?”

“Trên thế gian này, em là người thân duy nhất mà anh tìm được.”

“Ớn quá, học trong phim ra hả?”

“Ừ, nhưng không giống trong phim.”

“Không giống chỗ nào?”

“Thứ trong phim nói là giả, anh nói là thật.”

“Cố tình làm người ta cảm động hay gì.”

“Ngoài cảm động lòng người, chắc có đau lòng nữa.”

“Nghĩa là gì?”

“Câu này chứng minh, đến hôm nay, anh chẳng còn người thân nào trên đời nữa.” Rồi nói, “Ai cũng có sẵn người thân của mình, riêng anh phải đi tìm mới có, chuyện này không thảm sao?”

Mã Tiểu Manh ôm chặt Minh Lượng, vươn đầu lưỡi đến môi gã: “Em cũng cảm thấy trên thế gian này, anh chính là người thân duy nhất của em.” Thoắt chốc, rút đầu lưỡi lại nói, “Vậy anh thổi thêm một bài nữa nhé.”

Minh Lượng lại cầm sáo thổi thêm một bài nữa.

Thổi mãi thổi mãi, đã đến canh ba.

Trước trung thu năm đó, Minh Lượng và Mã Tiểu Manh kết hôn. Sau này Minh Lượng mới biết, người ta kết hôn là vì ưu điểm của đối phương, còn hai người đến với nhau là vì hiểu được khuyết điểm của đối phương, hoặc ai cũng có tâm sự không thể nói cho ai khác biết bị đè nén trong lòng; chuyện đè nén trong lòng, đều không phải chuyện tốt. Đương nhiên, tâm sự bất hảo nhất, gã cũng không nói cho Mã Tiểu Manh nghe. Ngày kết hôn, trừ mấy người bạn thân thời trung học của Minh Lượng, thầy Tiêu dạy địa lý trường trung học, ông chủ Chu quán “Thiên Bòng Nguyên Soái” và thầy Hoàng dạy Minh Lượng nấu giò heo ra, các đồng nghiệp chơi thân làm chung ở quán đều có mặt đông đủ cả. Mẹ và cha dượng Mã Tiểu Manh cũng đến. Theo lý, Minh Lượng kết hôn cần phải báo cho Trần Trường Kiệt ở Vũ Hán hay, dù sao Trần Trường Kiệt cũng là ba của mình; nhưng Minh Lượng sợ nếu báo cho Trần Trường Kiệt, Trần Trường Kiệt và mẹ kế Tần Gia Anh lại vì chuyện này mà xích mích với nhau. Hơn nữa, mười năm trước Trần Trường Kiệt gửi thư đến, nói Tần Gia Anh ép ông ta cắt đứt liên hệ với Minh Lượng, mười năm nay, hai người cũng cắt đứt quan hệ rồi; để không vẽ rắn thêm chân, lúc kết hôn, Minh Lượng không báo cho Trần Trường Kiệt biết. Nhưng Minh Lượng có mời hai vợ chồng Lý Diên Sinh và Hồ Tiểu Phượng. Tuy rằng mười năm trước Minh Lượng rời khỏi nhà bọn họ, nhưng từ năm sáu tuổi đến mười sáu tuổi, gã vẫn có mười năm sống trong nhà họ. Trong lễ cưới, bạn học Đổng Quảng Thắng làm người dẫn chương trình, chen mồm dí dỏm, kể rất nhiều chuyện cười; bạn học Quách Tử Khải, Phùng Minh Triều làm rể phụ, khách khứa uống không nhiều mà hai người này lại uống nhiều hơn; thầy Tiêu và ông Chu lại kéo Lý Diên Sinh lên đài, hát trích đoạn <Đánh cá giết người>. Trong lúc náo nhiệt, Minh Lượng và Mã Tiểu Manh đến từng bàn kính rượu, khi đến bàn của mẹ Mã Tiểu Manh và cha dượng, mẹ cô và cha dượng đều cười ha hả, nhìn không ra trước đây từng xảy ra chuyện gì; đến bàn của Lý Diên Sinh và Hồ Tiểu Phượng, Lý Diên Sinh cười ha hả, còn Hồ Tiểu Phượng khóc.

“Vui quá.” Hồ Tiểu Phượng nói.

[1] Một vở trích đoạn trong Thủy Hử.

[2] Một vở trích đoạn trong Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài.

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

MỤC LỤC

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x