MỘT NGÀY NHƯ THỂ BA THU – CHƯƠNG 13.3 (5)

By

·

41–62 phút

MỘT NGÀY NHƯ THỂ BA THU

CHƯƠNG 13: Minh Lượng – 13.3: Lại hai mươi năm sau

Dịch (láo): A Tĩnh

#nhatnhattamthu #motngaynhuthebathu

(5)

Mặc dù Minh Lượng có hứa với Tôn Nhị Hóa rằng sẽ đi Diên Tân nhưng ông ta cũng không lên đường ngay được; một là Tôn Nhị Hóa lẩn rồi. Tôn nói mình sắp đi đến cuối đời, không qua nổi năm nay, nhưng lời khùng điên của kẻ điên khùng, Minh Lượng cũng không cho là thật; còn nữa, nếu như Tôn Nhị Hóa thật sự là bạn của Minh Lượng, chuyện bạn bè nhờ nặng như Thái sơn, ông ta sẽ lên đường tức khắc, nhưng Tôn Nhị Hóa là kẻ thù của ông ta, Minh Lượng đi thăm Tôn chỉ vì con chó đã mất nhà mình; lời kẻ thù nói, không làm ngược lại đã là may lắm rồi; ngoài ra, lúc Tôn Nhị Hóa nói với ông ta cũng không xem ông ta là Minh Lượng mà xem ông ta là Tứ Hải, lời Tôn Nhị Hóa nói với Tứ Hải, Minh Lượng hà tất cho là thật làm gì? Trên ban công nhà Minh Lượng vẫn còn cái ổ chó của con Tôn Nhị Hóa năm năm trước đã mất; Minh Lượng về đến nhà liền vứt ngay nhúm tóc của Tôn Nhị Hóa vào ổ chó của con Tôn Nhị Hóa, coi như chuyện này gác lại. Mới đầu còn nhớ chuyện Tôn Nhị Hóa giao cho mình về Diên Tân, sau đó ngày ngày bận rộn, chẳng còn lòng dạ nào lo tới chuyện này, dần dẫn cũng quên bẵng đi.

Trước tết trung thu năm nay, Tần Vi Vi ở Vũ Hán có gọi cho Minh Lượng nói anh họ ngoại của Trần Trường Kiệt là Trần Trường Vận ở Diên Tân gọi cho Trần Trường Kiệt, báo rằng cơ quan sắp sửa lại đường cao tốc từ Tế Nguyên Hà Nam đến Hà Trạch Sơn Đông đoạn bắt qua Diên Tân; một phần trong đó vừa hay đi ngang qua mộ tổ nhà họ Trần; cha mẹ ruột của Trần Trường Kiệt, cũng là ông nội bà nội của Minh Lượng cũng được chôn ở khu nghĩa trang đó; công ty vận động mọi người dời mộ, khu mộ mới nằm bên Hoàng Hà cũng tìm cả cho mọi người rồi, nên bảo Trần Trường Kiệt về Diên Tân bốc mộ.

Tần Vi Vi nói rằng Trần Trường Kiệt nghe thấy việc này xong thì nhất quyết đòi về Diên Tân, nhưng ông cụ còn nằm trong bệnh viện, e không chịu nổi vất vả bụi đường, lỡ như trên đường xảy ra chuyện gì lại thêm phiền cho người khác; thế nên Tần Vi Vi gọi cho Minh Lượng xem Minh Lượng có thể nhín thời gian đi Diên Tân một chuyến được không. Minh Lượng nghe nói chuyện có liên quan đến ông bà nội mình thì lập tức lưu tâm. Hơn bốn mươi năm trước, trước khi bà nội sắp mất còn đặc biệt đến Vũ Hán thăm mình; lúc đó ông ta mới sáu tuổi; sau này bà nội mất, Trần Trường Kiệt từ Vũ Hán về Diên Tân chịu tang, Minh Lượng cũng muốn về theo mà Trần Trường Kiệt sợ lỡ chuyện học hành của ông ta nên không cho theo về; Minh Lượng trốn khỏi trường học, một mình lên xe lửa, nhưng vì ngồi ngược tuyến xe mà lên tận Chu Châu, xuống xe ở Chu Châu rồi men theo đường sắt đi về, lúc tìm đường về đến được Diên Tân thì cũng tròn mất hai tháng rồi.

Minh Lượng lập tức nói: “Tôi đi, tôi đi, cô không cần lo, cũng đừng cho ba lo tới.”

Về nhà thương lượng với Mã Tiểu Manh, Mã Tiểu Manh nghe nói là chuyện của ông bà nội cũng cảm thấy Minh Lượng nên thay Trần Trường Kiệt về Diên Tân dời mộ. Sáng sớm ngày tiếp theo, Minh Lượng thu dọn hành trang lên đường. Hai mươi năm trước, Minh Lượng và Mã Tiểu Manh từ Diên Tân đến Tây An ngồi xe lửa màu xanh mất một ngày một đêm; bây giờ đã có tàu cao tốc, từ Tây An đến Diên Tân cũng chỉ mất hơn bốn tiếng đồng hồ.

Sau khi Minh Lượng về Diên Tân, không muốn ở lại nhà bạn học hoặc bạn bè khác; ngoại trừ không muốn gây phiền phức cho ai ra thì ở khách sạn cũng tiện cho việc tắm giặt của mình hơn; thế nên ông ta đến đầu ngã tư huyện thành tìm thuê một phòng khách sạn. Rửa mặt xong, Minh Lượng cảm thấy đói bụng, mới nhớ ra còn chưa kịp ăn trưa, thế là ra khỏi khách sạn, đến đầu ngã tư, rảo bước đi về phố tây. Hai mươi năm không về lại Diên Tân rồi, phòng ốc nhà cửa và hàng quán hai bên đường đều như xa lạ. Diên Tân hai mươi năm trước không giống thế này. Người qua kẻ lại trên đường tấp nập mà chẳng nhận ra được lấy một người, đương nhiên bọn họ cũng không nhận ra Minh Lượng. Như vậy xem ra, hết thảy đều là vật đổi sao dời, ông ta cũng thành khách phương xa mất. Thấy biển hiệu một quán ăn viết: bánh nướng treo lò [1], canh dê đặc biệt, đều là món hồi nhỏ Minh Lượng thích ăn, bèn vào quán. Quán ăn ồn ào nhộn nhịp, Minh Lượng tìm một cái bàn ngồi xuống, gọi hai cái bánh nướng, một tô canh dê đặc biệt. Lúc đang chờ món, nghe bàn bên bàn tán, nói ông Đổng bói toán ở phố đông chết rồi. Minh Lượng bàng hoàng, vội chen mồm hỏi: “Anh hai này, là ông Đổng ở hẻm Châu Chấu phố đông đó à?”

Người bàn bên gật đầu.

“Mất khi nào vậy?”

“Hôm qua mới chôn.”

Nghe ông Đổng mất, Minh Lượng nhớ lại năm mình mười sáu tuổi, người cha Trần Trường Kiệt không thể chu cấp tiền ăn học cho mình nữa, ông ta rời nhà Lý Diên Sinh đến học việc ở quán Thiên Bồng Nguyên Soái, gặp được ông Đổng đến ăn giò heo, ông Đổng giậm châm nói, nếu ông sớm biết chuyện này thì đã nhận nuôi Minh Lượng tiếp tục ăn học rồi, nói tuy rằng ông là người mù nhưng vẫn còn khả năng gánh vác trách nhiệm nuôi một đứa trẻ ăn học; nếu lúc đó ông Đổng nhận việc nuôi Minh Lượng thì Minh Lượng cũng sẽ dọn đến nhà ông Đổng, ngày ngày ở với ông Đổng, bà Khoái và Đổng Quảng Thắng rồi. Phục vụ bưng bánh nướng với canh dê lên, Minh Lượng ăn miếng lớn miếng nhỏ, cũng không thấy mùi vị gì, đành gấp rút tính tiền bước ra khỏi quán, đến nhà ông Đổng ở phố Đông.

Đến nhà ông Đổng, trông thấy Đổng Quảng Thắng đang cầm chổi cúi đầu quét sân, gom lại từng đống tàn tro giấy đốt và mảnh vụn dây pháo, biết là vật còn lại sau đám tang hôm qua của ông Đổng; tóc mai của Đổng Quảng Thắng đã chớm bạc, cánh tay còn đeo cái vòng đen.

Minh Lượng gọi: “Quảng Thắng.”

Đổng Quảng Thắng ngẩng đầu rồi ngẩn người, đến khi nhận ra Minh Lượng thì mắt đỏ lựng lên, vứt cái chổi xuống chạy ra đón: “Minh Lượng, ông về hồi nào vậy?”

“Mới đây.”

“Vốn là không khóc thế mà vừa gặp ông lại muốn khóc rồi.”

Đổng Quảng Thắng kéo tay Minh Lượng, bắt đầu khóc nức nở. Hốc mắt Minh Lượng cũng đỏ hoe. Đến khi Đổng Quảng Thắng ngừng khóc, ông ta mới hỏi Minh Lượng sao lại về Diên Tân, Minh Lượng bèn nói chuyện sắp sửa đường cao tốc mà phải dời mộ nhà mình đi; sau đó Minh Lượng hỏi ông Đổng mắc phải bệnh cấp tính gì mà ra đi nhanh như vậy, Đổng Quảng Thắng: “Chẳng có bệnh gì, ngoẹo đầu, thế là đi thôi.” Lại nói, “Lúc chết còn đang mặc pháp y, đang phát trực tiếp cho người ta.”

Minh Lượng nghĩ, ông Đổng là một người mù, cả đời đoán mệnh cho người không mù, không biết có đoán ra mình sẽ chết bất đắc kỳ tử, chết khi đang làm việc thế này không; nhưng Minh Lượng lại an ủi Đổng Quảng Thắng: “Bác đi đột ngột quá, đương nhiên khiến người buồn bã, nhưng bác nói đi là đi, chẳng phải chịu chút tội tình nào, cũng xem như cả đời biết tu, cũng là có phúc.”

“Mấy ngày này, tôi cũng đành nghĩ thế thôi.”

Minh Lượng hỏi tiếp: “Quảng Thắng, bác đi rồi, ông có tiếp tục chuyện bác để lại, tiếp tục đoán mệnh cho người khác không?”

“Tôi có muốn đoán cũng không đoán được.”

“Sao không đoán được? Ông ở với bác biết bao lâu nay mà.”

“Toán vận cũng cần tuệ căn, không liên quan gì đến chuyện thời gian dài ngắn hết; thấy ba tôi mù vậy chứ ông có tuệ căn, còn tôi không có, tôi mà đoán mệnh cho người khác thì thành gạt người rồi.”

Đổng Quảng Thắng lại nói, “Làm chuyện khác lừa người thì được, nhưng toán vận lừa người thì thiếu đạo đức lắm.”

Minh Lượng cảm thán, xem ra chuyện ông Đổng bói toán từ nay về sau thất truyền ở Diên Tân rồi. Lúc này Minh Lượng chợt nhớ ra hơn một tháng trước Tôn Nhị Hóa ở Tây An muốn nhờ Minh Lượng đem tóc của ông ta về Diên Tân một chuyến bảo ông Đổng phát trực tiếp cho, xem kiếp sau ông ta là người thế nào; bây giờ ông Đổng đi rồi, kiếp sau của Tôn Nhị Hóa như nào vĩnh viễn không thể biết được nữa. Minh Lượng lại nghĩ, cho dù ông Đổng còn sống, chuyến này Minh Lượng về Diên Tân, ông Đổng cũng có thể phát trực tiếp cho Tôn Nhị Hóa, nhưng vì Minh Lượng quên mang theo tóc của Tôn Nhị Hóa, tóc của Tôn Nhị Hóa còn ở ổ chó của con Tôn Nhị Hóa nhà Minh Lượng ở Tây An kìa; có thể thấy Minh Lượng hoàn toàn không để tâm đến chuyện của Tôn Nhị Hóa. Nhưng vì Tôn Nhị Hóa muốn đoán chuyện kiếp sau của mình, Minh Lượng đột nhiên nhớ ra, hỏi: “Quảng Thắng, bác đoán mệnh cho người ta cả đời, ông có từng hỏi qua kiếp sau bác là người thế nào không?”

“Có hỏi, ba nói, kiếp sau ba không mù.”

“Có từng hỏi qua kiếp sau bác làm gì không?”

“Có hỏi, ba nói, thiên cơ bất khả lộ.” Quảng Thắng lại nói, “Ba chỉ nói là, một ngày nào đó ở kiếp sau, tôi sẽ còn có thể gặp mặt ba một lần trên xe lửa.”

Minh Lượng bất chợt nhớ ra lúc mình còn nhỏ, trong câu chuyện bà nội tán dóc với ông cũng có chuyện về ba của bà. Ba của bà qua đời biết bao nhiêu năm, sau đó có lần bà bắt gặp bóng lưng của ông trên chợ. Minh Lượng: “Duyên phận, đó là duyên phận.” Lại hỏi, “Quảng Thắng, bác đi rồi, ông không đoán mệnh cho người khác thì có dự định gì?”

Đổng Quảng Thắng: “Đang suy xét chuyện này đây.” Lại hỏi, “Ông còn nhớ Phùng Minh Triều bạn thời trung học của chúng ta không?”

“Nhớ chứ, mắt hí, hồi học trung học còn dạy tôi thổi sáo, năm đó khi tôi kết hôn, ổng còn chạy từ Trịnh Châu về mà.”

“Trước đây ổng làm mua hàng trong cao ốc bách hóa ở Trịnh Châu, sau đó chạy đến làm công cho một nhà hàng Nhật Bản ở Thượng Hải, ngày kia có đến phúng điếu, nhìn vườn tược nhà tôi nói phong thủy trong vườn nhà tôi tốt, tụ tài, ổng muốn hợp tác với tôi mở một quán rượu Nhật Bản ở đây.” Rồi nói, “Ổng nói chỗ tốt của chuyện này chính là, đây chính là tiệm đầu tiên mở ở Diên Tân.” Sau đó nói, “Tôi nghĩ, dù sao vườn này ba tôi cũng không dùng nữa, bỏ không cũng phí, đang cân nhắc.” Lại nói, “Ông mở quán ăn, ông thấy chuyện này có tin tưởng được không?”

Chỗ ngày xưa ông Đổng bói toán có khả năng sắp biến thành quán rượu kiểu Nhật, Minh Lượng chưa từng nghĩ đến chuyện này; cũng không biết thay đổi thế này ông Đổng hồi còn sống có tính ra không; làm ăn nếu là tiệm đầu tiên mở đương nhiên tốt, nhưng có khi thành công ở chỗ đầu tiên mà thất bại cũng ở chỗ đầu tiên; nhưng chuyện làm ăn người ta còn chưa làm, Minh Lượng không tiện nói này nói nọ, chỉ nói: “Có thể đem ra xem xét chứng minh, quan trọng là, không biết người Diên Tân có thói quen ăn cá sống cắt lát không thôi.”

Trên mộ tổ nhà Minh Lượng chôn cất hơn hai trăm người. Ngôi mộ lâu đời nhất trên đó nghe nói được chôn vào những năm Càn Long của thời Thanh, sau đó con cháu đời sau cứ chết đều được tập trung chôn ở nơi này. Từ đời ông tổ đến nay đã qua mười mấy thế hệ. Đời sau của mười mấy thế hệ, người còn ở lại Diên Tân thì tốt, chứ rời Diên Tân rồi có qua lại cũng không nhận ra nhau, chỉ vì cùng chung một tổ tiên nên ai nấy cũng họ Trần thôi mà. Minh Lượng tạm biệt Đổng Quảng Thắng xong thì đến gặp anh họ nội của Trần Trường Kiệt là Trần Trường Vận, cũng chính là bác họ xa của Minh Lượng. Trần Trường Vận dẫn Minh Lượng đi xem chỗ đặt mộ mới, lưng dựa núi xanh, mặt ngắm Hoàng Hà, phong cảnh cũng được. Trần Trường Vận nói, không chỉ phong cảnh rất khá mà người ta xem qua rồi, nói phong thủy cũng khá nữa; chính vì chỗ đặt mộ mới cả phong cảnh lẫn phong thủy đều khá, thêm nữa chi phí dời mộ được công ty bồi thường, ai nấy đều bằng lòng dời mộ. Buổi trưa, hơn một trăm hậu nhân họ Trần tập trung mở tiệc trong vườn nhà Trần Trường Vận thương lượng chuyện dời mộ tập thể. Trần Trường Vận nói, từ đời ông tổ đến nay đã qua mười mấy đời, trước mắt đời sau của họ Trần đã chẻ ra thành hai mươi sáu nhánh; lúc dời mộ, con cháu của hai mươi sáu nhánh này mạnh ai nấy chịu trách nhiệm dời mộ ông bà mình, làm vậy mới không rối; chỉ có một vấn đề là, con cháu của một nhánh trong đó là Trần Trường Khuê làm thủ kho nhiên liệu mỏ dầu ở Ngọc Môn Cam Túc, nhất thời không nghỉ phép được, bốn ngày sau mới có thể về, chúng ta đợi người đó nhé?

Mọi người xôn xao thảo luận, Trần Trường Vận: “Ý tôi là phải đợi, nếu như chúng ta mạnh ai nấy dời mộ ông bà mình đi, trong nghĩa trang nhấp nhô lỏm chỏm còn thừa lại mỗi nhánh của anh ta cũng sẽ thành trò cười cho người khác.” Rồi nói, “Nói ra thì, mọi người đều chung một tổ tiên.” Lại nói, “Hơn nữa, nếu như bảo mọi người chờ một hai tháng thì đúng là có chút không hợp lý, nhưng bây giờ chỉ đợi có bốn ngày, mọi người nói đợi được không?”

Nghe Trần Trường Vận nói thế, mọi người xôn xao nói: “Nếu Trường Vận nói thế thì chúng ta đợi thôi.”

“Đợi đi, cũng chỉ có bốn ngày.”

Chính vì là bốn ngày nên Minh Lượng mới hơi khó xử. Nếu như dời mộ chậm trễ mười ngày nửa tháng, ông ta sẽ về Tây An ngay; lúc nào dời mộ thì ông ta quay lại; bây giờ lùi xuống bốn ngày, Minh Lượng đi không được, ở không xong; bây giờ về Tây An, trung gian mất hai ngày, lại phải hoành về. Bụng đang chần chờ do dự bèn gọi điện cho Mã Tiểu Manh.

Mã Tiểu Manh lại nói: “Không phải có bốn ngày thôi à, đừng về chi cho cực.” Rồi nói, “Mấy ngày này, trong tiệm cũng không xảy ra chuyện lớn gì.” Lại nói, “Ông nhân dịp này nghỉ ngơi hai ngày đi.”

Mã Tiểu Manh: “Trung thu năm nào chả có, đâu phải mỗi năm này.”

Minh Lượng thấy Mã Tiểu Manh nói có lý. Xem ra, bù qua xớt lại, ông ta chỉ đành ở lại Diên Tân ăn trung thu thôi. Minh Lượng cúp máy, rảo bước ra bến đò Diên Tân. Đến bến đò đã là chạng vạng, một vầng tịch dương treo trên trời chiếu xuống Hoàng Hà, nước sông Hoàng Hà lấp lánh nắng vàng, cuồn cuộn chảy về đông. Minh Lượng đi dọc theo bờ sông về phía trước, phát hiện tiệm tạp hóa Mã Ký trước đây bây giờ đã biến thành hộp đêm. Tấm bảng treo đèn neon của hộp đêm còn lấp lóe mấy từ tiếng Anh: Paris Nightclub. Năm đó, nơi này chính là nhà của Mã Tiểu Manh. Gã chồng sau của mẹ Mã Tiểu Manh là một tên cầm thú, quấy rối Mã Tiểu Manh từ hồi cô mười lăm tuổi; chính vì gã ấy mà Mã Tiểu Manh mới phải ở lại trường, yêu đương với người ta, không đậu nổi đại học; sau đó đến Bắc Kinh làm gà; tất cả những chuyện đã qua này, ngẫm nghĩ kỹ lại đều có liên quan đến người mẹ của Mã Tiểu Manh. Chớp mắt hơn hai mươi năm qua đi, ông Mã mất, mẹ của Mã Tiểu Manh cũng mất; chuyện quá khứ đã thành nước chảy mây trôi cả. Mã Tiểu Manh có đứa em cùng mẹ khác cha đang làm cân vật liệu ở mỏ khoáng Tiêu Tác; con trai của đứa em này cũng chính là người cháu Mã Pitt của Mã Tiểu Manh, bây giờ đang làm công trong quán Thiên Bồng Nguyên Soái của Minh Lượng ở Tây An. Trong lúc nghĩ ngợi, bỗng thấy một đôi nam nữ bước ra từ hộp đêm, nam để tóc kiểu Mohican, nữ mặc áo hai dây; người nữ nhìn người nam nói ‘bái bai’, rồi đi về hướng huyện thành, người nam tựa mình lên con sư tử đá ngoài cửa tiệm, móc ra một điếu thuốc, châm lửa, bắt đầu hút; vì không biết người ta là ai, Minh Lượng cũng mặc kệ; ai ngờ người hút thuốc đó nhìn thấy ông ta thì nhìn chăm chú hồi lâu, sau đó bất chợt nói: “Ông là Minh Lượng đúng không?”

Minh Lượng nhìn kỹ, hóa ra người này là là bạn thời trung học của mình tên Tư Mã Tiểu Ngưu. Năm đó hai người cùng khối nhưng không cùng lớp. Cha của Tư Mã Tiểu Ngưu tên Tư Mã Ngưu, từng dạy môn hóa cho lớp của Minh Lượng. Bèn nói: “Ra là Tiểu Ngưu.” Lại nói, “Hơn ba mươi năm rồi, ông còn để kiểu tóc này, nhất thời nhận không ra.”

Tư Mã Tiểu Ngưu: “Về hồi nào đó?”

Minh Lượng: “Sáng nay mới về.” Sau đó kể lại chuyện vì sửa đường cao tốc mà phải dời mộ nhà mình thêm một lần. Minh Lượng cho rằng Tư Mã Tiểu Ngưu đến hộp đêm chơi, nên nói: “Trời còn chưa tối mà, ông đến đây chơi hơi sớm đó.”

Tư Mã Tiểu Ngưu: “Tiệm này là tôi mở mà, còn chưa đến giờ tiếp khách nên ra đây hít thở thôi.”

Nhiều năm không gặp, hóa ra Tư Mã Tiểu Ngưu đã thành chủ hộp đêm rồi. Minh Lượng lại quan sát tiệm này thêm một lần, vừa quan sát vừa nói: “Trang hoàng đủ đẳng cấp đó, làm ăn chắc là tốt lắm.”

“Tàm tạm thôi, nguồn khách ở Diên Tân không thể bằng thành phố lớn được.”

Minh Lượng lại hỏi: “Thầy Tư Mã vẫn còn khỏe chứ?”

“Ba tôi mất năm ngoái rồi.”

Minh Lượng ngẩn người: “Bất ngờ thật, nhớ sức khỏe thầy Tư Mã còn tốt lắm mà.”

Nói đến đây, Minh Lượng bất chợt nhớ ra chuyện năm xưa thầy Tư Mã muốn làm: Diên Tân có một Hoa Nhị Nương, đi vào giấc mơ của người ta kiếm chuyện cười, dùng chuyện cười với núi đè chết không ít người; nguyện vọng cả đời của thầy Tư Mã chính là viết bộ <Hoa Nhị Nương Truyện>; năm đó trong giờ học hóa, khi giảng đến phản ứng hóa học, thầy Tư Mã còn kéo Hoa Nhị Nương vào, nói bộ Hoa Nhị Nương Truyện mà ông viết đây không chỉ là viết về cuộc đời của Hoa Nhị Nương tại Diên Tân mà còn nhắm đến nghiên cứu phản ứng hóa học mà Hoa Nhị Nương vì muốn kiếm chuyện cười tạo ra với Diên Tân; nên nói: “Còn nhớ thầy Tư Mã muốn viết một bộ Hoa Nhị Nương Truyện, không biết trước khi thầy mất đã viết xong quyển sách này chưa?”

Tư Mã Tiểu Ngưu: “Suốt cả một đời, tài liệu thu thập đúng là không ít; tài liệu chồng chất cao như cỏ bờ tường, nhưng mãi không động bút viết được.” Lại nói, “Cứ cảm thấy tài liệu thu thập không đầy đủ; đến khi động bút viết cũng chỉ viết được mới có mấy câu thì đã mất rồi.”

Minh Lượng lắc đầu thở dài: “Đáng tiếc.” Lại nói, “Những tài liệu thầy Tư Mã để lại đâu?”

“Ngày ba chết, mẹ tôi đốt hóa vàng theo ba luôn rồi.”

Minh Lượng khó hiểu: “Tâm huyết cả đời của thầy Tư Mã, sao nói đốt là đốt vậy?”

Tư Mã Tiểu Ngưu: “Mấy món đồ đó ngoại trừ ba tôi quý ra thì có ai xem ra gì đâu.” Lại nói, “Thêm nữa, lưu lại tài liệu về Hoa Nhị Nương trong nhà, không phải chiêu họa à? Chẳng phải đợi quý bà ấy vào mộng kiếm mình kể chuyện cười sao?”

Minh Lượng thấy Tư Mã Tiểu Ngưu nói cũng có lý, lại hỏi: “Mới rồi ông nói, thầy Tư Mã cũng viết được đoạn đầu của quyển sách đó, đoạn mở đầu đó viết sao vậy?”

Tư Mã Tiểu Ngưu: “Bị mẹ tôi đốt sạch rồi, ai biết?”

Xem ra, sách của thầy Tư Mã cũng giống như tiệm tạp hóa nhà Mã Tiểu Manh năm đó, toàn bộ đều tan thành tro bụi rồi. Chuyện tan thành tro bụi, có nói cũng bằng không, hai người lại hàn huyên hai ba câu khác rồi Minh Lượng nói lời từ biệt Tư Mã Tiểu Ngưu, tiếp tục đi về phía trước. Đi mãi đi mãi, đến một phố ăn vặt ở bến đò. Không đến phố ăn vặt thì không có cảm giác gì, một khi đến, vì bữa trưa ăn còn chưa no nên Minh Lượng thấy đói cồn cào. Xem đồng hồ đã là hơn sáu giờ chiều rồi, cũng nên ăn tối. Men theo phố ăn vặt đi về phía trước, trông thấy một tấm bảng quảng cáo treo trên cửa một hàng cơm: Bánh bao nhân súp Khai Phong, súp cay. Một là đã lâu rồi không ăn bánh bao nhân súp với súp cay; hai là thấy tiệm này bày bàn ghế ngoài tiệm, bày cho đến một gốc liễu ven bờ; gió đêm phất qua, mang đến cảm giác mát lạnh dưới cành liễu; Minh Lượng dừng bước trước cửa hàng ăn. Ngoài cửa quán có một đôi nam nữ đang vội gói bánh bao cho vào trong xửng hấp. Trên bếp lò là một nồi súp cay dập dền đang nổi bong bóng.

Minh Lượng hỏi người nam: “Anh trai là người Diên Tân à?”

Người nam vừa dở cái xửng hấp đang bốc khói ra khỏi lò vừa nói: “Người Diên Tân làm gì nấu được món bánh bao hấp chính tông Khai Phong như này chứ? Tôi là người Khai Phong.”

Minh Lượng bật cười rồi ngồi xuống trước một chiếc bàn dưới táng liễu, gọi một cái bánh bao, một chén súp cay. Lúc này thấy một người trung niên đầu đổ đầy mồ hôi, lưng đeo hành lý, tay cầm chiếc roi, dắt theo một con khỉ bước vào; cổ nó được bị tròng trong một cái vòng sắt, vòng sắt nối liền với xích sắt; nhìn qua liền biết người này làm nghề xiếc khỉ; ông ta nhìn tới nhìn lui, cuối cùng ngồi vào chiếc bàn bên cạnh Minh Lượng, Minh Lượng cũng chẳng buồn để mắt. Ai biết người này vừa ngồi xuống thì đã bật đứng lên, không nói không rằng thì bắt đầu vung roi quất vào con khỉ kia. Con khỉ kêu ‘chít chít’ rồi nhảy lên, bị vòng sắt và dây sắt kéo lại, nó cũng chẳng nhảy được xa lắm. Người này vừa đánh vừa giận, làm đầu khỉ mình khỉ bị quất đến chảy rất nhiều lằn máu.

Minh Lượng nhìn không nổi nữa bèn nói: “Anh trai này sao lại đánh nhiệt tình vậy chứ?”

Người này lau mồ hôi trán: “Anh không biết nó xảo quyệt thế nào đâu. Mỗi lần nhảy múa làm trò, gõ chiêng, kêu nó xoay mười vòng, nó lại xén bớt tám vòng; bảo nói lộn mèo hai mươi cái, nó xén mất mười lăm cái; người biết chuyện sẽ biết nó xảo quyệt; người không biết chuyện lại tưởng tôi lừa gạt mọi người, thế này không phải đang làm xấu mặt tôi sao? Tôi tức là tức chuyện này?”

“Nó mấy tuổi rồi?”

“Lúc đến tay tôi thì đã mười lăm tuổi rồi.”

Minh Lượng nhẩm tính, theo tuổi thọ của khỉ, mười lăm tuổi, nói thế nào cũng vào độ trung niên rồi. Bèn nói: “Có lẽ tuổi tác nó lớn rồi, đi đứng không tiện, chạy không nổi thôi.”

“Thế mới đánh một cái sao nó chạy nổi rồi? Đúng là xảo quyệt.” Càng nói càng thấy tức thêm, bèn vung roi quất con khỉ tiếp, con khỉ đó lại kêu ‘chít chít’ nhảy lên.

Minh Lượng: “Anh trai này, người vào nam ra bắc đừng chấp nhặt với con khỉ vậy chứ, bằng không cả cơm cũng ăn không ngon đó.”

Nghe Minh Lượng nói thế, người nọ cũng dừng tay không đánh nữa, rồi buộc con khỉ vào gốc liễu: “Về rồi tao lại tính sổ với mày.”

Con khỉ sợ đến run lẩy bẩy. Thở hổn hển một hồi, nó bắt đầu cúi đầu liếm vết máu trên người mình. Minh Lượng quan sát con khỉ, thấy lòng bàn tay và da mông nó có vết chai dày như đồng tiền, da trên mấy vết chai đã nứt ra rất nhiều lớp, quả thực không còn trẻ nữa; nếu như là người, con khỉ này cũng phải bằng tuổi Minh Lượng bây giờ; đã là khỉ tuổi trung niên mà ngày ngày phải múa may diễn xiếc cho người xem, còn phải chịu đòn; Minh Lượng không khỏi thở dài trong lòng một tiếng.

Bánh bao Minh Lượng gọi lúc này đã được mang ra, cô gái mang bánh bao ra hỏi: “Anh trai muốn mang cả súp cay lên không?”

Minh Lượng: “Chờ tôi ăn hết cái bánh bao này hẵng manng lên, tôi thích ăn súp nóng.”

Minh Lượng gắp cái bánh bao trong lồng hấp ra cắn một cái, nhân bánh quả nhiên tươi ngon vừa miệng, nước canh chảy vào mâm; Tây An cũng có bán bánh bao nhân súp nhưng không chính tông như này. Lúc này nhìn con khỉ kia, thấy nó đang nhìn chằm chằm bánh bao của Minh Lượng. Minh Lượng thấy con khỉ đáng thương bèn lấy một cái bánh bao ra khỏi lồng hấp rồi đưa cho nó. Nhưng con khỉ không dám nhận bánh bao mà nhìn ông chủ trước.

Người nọ nói: “Người ta cho mày ăn thì mày cứ ăn đi.”

Lúc này con khỉ mới dám cầm bánh, cúi đầu ăn. Người đó lại nói: “Cũng không biết cảm ơn người ta à?”

Con khỉ lại vội ngẩng đầu lên, nâng tay cầm bánh bao lên vái chào Minh Lượng.

Minh Lượng vội nói: “Không cần cảm ơn không cần cảm ơn, chẳng phải chỉ là cái bánh bao thôi à?”

Con khỉ lại cúi đầu bưng cái bánh lên ăn.

Minh Lượng ăn xong thì đứng dậy bỏ đi, thấy người xiếc khỉ vẫn còn uống rượu. Con khỉ trung niên đó dựa mình vào cây liễu, hai tay ôm bụng ngủ mất, cổ còn tròng cái vòng sắt, vòng sắt nối với dây sắt, dây sắt buông thõng bên người. Từng vết sẹo trên đầu lẫn trên mình nó vẫn còn chưa kết vảy. Lúc Minh Lượng đi, nó còn chưa tỉnh.

Sáng ngày tiếp theo, Minh Lượng đến nhà Lý Diên Sinh thăm hỏi Lý Diên Sinh và Hồ Tiểu Phượng. Tuy rằng năm Minh Lượng mười sáu tuổi, bọn họ cho Minh Lượng thôi học phải đến học việc ở quán Thiên Bồng Nguyên Soái, nhưng mười năm từ sáu tuổi đến mười sáu tuổi, dù sao ông ta cũng lớn lên ở nhà Lý Diên Sinh; đồng thời, nếu như năm đó không đến quán Thiên Bồng Nguyên Soái học việc, cũng không có sáu quán ăn ở Tây An bây giờ. Lại nghĩ, năm ông ta sáu tuổi, Lý Diên Sinh đến Vũ Hán còn từng cho ông ta hai mươi tệ; sau này bà nội mất, nhờ có hai mươi tệ này cộng thêm chút tiền mừng tuổi dành dụm của mình mới mua được vé tàu từ Vũ Hán về Diên Tân, chẳng qua là lên ngược tuyến tàu ở trạm xe lửa.

Đến nhà Lý Diên Sinh, nhà của hộ gia đình Lý Diên Sinh vẫn là căn nhà của hơn bốn mươi năm trước, so với hồi Minh Lượng sống ở đây rõ ràng đã cũ nát đi nhiều, cũng xập xệ hơn nhiều; một mặt tường gần đường lớn đã bị phá đi để lắp cửa sổ, ngôi nhà biến thành cửa hàng tạp hóa. Minh Lượng còn nhớ, hồi Lý Diên Sinh còn trẻ đã từng bán xì dầu, giấm với rau ngâm kiêm bán tần bì, hồi và đậu phụ ở cửa hàng bán lẻ thực phẩm thứ yếu ở phố đông. Trước khi đến nhà Lý Diên Sinh, Minh Lượng nghe người ta nói, Lý Diên Sinh mắc bệnh viêm tủy xương. Mỗi lần tủy xương mắc phải vấn đề gì sẽ đau không chịu nổi. Có một đêm nọ, bệnh ông cụ lại tái phát, quá đỗi đau đớn, ông cụ mình trần như nhộng bò ra khỏi giường, mở cửa phòng ra, men theo cầu thang sát vách nhà bò lên mái hiên, rồi từ mái hiên nhảy xuống. Vốn dĩ muốn tự sát, ai biết ngã cũng không chết, chỉ bị gãy chân.

Lúc Minh Lượng đi đã mua thêm bốn bình rượu, bốn gói thuốc lá. Minh Lượng vào nhà Lý Diên Sinh, thấy bên mé trong cửa hàng tạp hóa có bày một cái giường, Lý Diên Sinh nằm trên đó. Hồ Tiểu Phượng ngồi sau quầy tính tiền, vừa thêu kiểu chữ thập vừa coi sóc việc bán buôn. Minh Lượng gọi “chú”, “thím”, Lý Diên Sinh và Hồ Tiểu Phượng thừ người. Đến khi nhận ra Minh Lượng, Lý Diên Sinh uốn mình ngồi dậy trên giường: “Minh Lượng à, về hồi nào đó?”

“Hôm qua.”

Hồ Tiểu Phượng: “Tới là được rồi, còn mang theo gì nữa.”

Đến khi Minh Lượng ngồi xuống, Lý Diên Sinh hỏi: “Minh Lượng, chuyện chú nhảy khỏi nhà, cháu nghe rồi chứ?”

Hồ Tiểu Phượng: “Gặp ai ông ta cũng hỏi: Chuyện tôi nhảy khỏi nhà, ông nghe qua rồi chứ?, như thể ổng mới lặp chiến tích vĩ đại không bằng.”

Lý Diên Sinh trợn mắt nhìn Hồ Tiểu Phượng: “Lắm mồm.”

Hồ Tiểu Phượng: “Ai lắm mồm? Ông nói trước còn gì.”

Minh Lượng chen vào màn đấu khẩu của hai người: “Chú ơi, cháu nghe rồi, chú không nên làm vậy.”

Lý Diên Sinh: “Đúng là oan ức, muốn chết mà cũng chết không xong.” Rồi thở dài, “Đời chú xem như sống ra trò cười rồi.”

Minh Lượng bất chợt nhớ ra, cái câu sống thành trò cười này ba ông ta là Trần Trường Kiệt cũng từng nói với ông ta lúc ngồi trong vườn hoa bệnh viện cho nhân viên kho đầu máy Vũ Hán.

Ba người đang nói chuyện, Minh Lượng phát hiện ra bức tường một bên hàng tạp hóa có dán một bức tranh, chính là bức tranh giới thiệu vở kịch hồi ba người Lý Diên Sinh, Trần Trường Kiệt và Anh Đào diễn <Bạch Xà Truyện> hơn năm mươi năm trước; chỉ là hơn năm mươi năm qua rồi, tranh cũng đã bạc màu vàng vọt, bề mặt lốm đốm, bị côn trùng cắn ra rất nhiều lổ hổng. Lý Diên Sinh thấy Minh Lượng nhìn bức tranh đó, chỉ vào tranh nói: “Năm ngoái rạp hát kịch cũ của Diên Tâm bị dở, tính xây trung tâm thương mại; trong nhà kho rạp hát còn có một tờ áp phích năm xưa, quản đốc dở rạp hát chính là cháu của thím mày, bà ấy mới qua cầm về một tấm.”

“Chú này, hồi ấy mọi người trẻ thật.”

“Kiểu gì cũng không ngờ được lại sống thành cái dạng như bây giờ.”

Hồ Tiểu Phượng: “Minh Lượng, thím nhớ hồi còn nhỏ cháu thích uống nước ngọt có ga, tiệm tạp hóa nhà ta có nước ngọt, cháu uống không?”

“Thím ơi, bụng cháu bây giờ không khỏe, nước ngọt có ga lạnh quá, không uống được.”

Lý Diên Sinh: “Nửa năm trước, con gái sau của ba cháu từ Vũ Hán gọi điện cho chú hỏi số điện thoại của cháu, nói ba cháu không được khỏe lắm, muốn bảo cháu đi Vũ Hán một chuyến, sau đó cháu có đi không?”

“Sau khi nhận được điện thoại của cô ta là cháu đi liền.”

“Sức khỏe ba cháu sau đó đỡ hơn chưa?”

Minh Lượng không muốn nói thật tình hình của Trần Trường Kiệt cho Lý Diên Sinh nghe, một là bởi vì Lý Diên Sinh để Minh Lượng đến quán Thiên Bồng Nguyên Soái nấu giò heo từ năm mười sáu tuổi khiến Trần Trường Kiệt có thành kiến với Lý Diên Sinh đến giờ; hai là bệnh tình của hai người như này chẳng ai giúp đỡ nổi ai, quan tâm nhau cũng là quan tâm suông; nói nhiều chỉ ngang phí lời, phí lời cũng bằng vô dụng; thế nên nói: “Lúc đó ba cháu chỉ bị cảm nặng, nhập viện truyền mấy bình thuốc thôi đủ rồi.”

“Vậy thì tốt, lúc đó chú còn lo lắng mấy bận ấy.”

“Ba cháu nói, đợi đến mùa xuân sang năm ông sẽ về Diên Tân một chuyến.”

“Cũng nên về rồi. Đợi anh ấy về, chú còn phải mời ba cháu đi ăn giò heo.” Lý Diên Sinh lại nói, “Còn không chịu về nữa thì muộn mất, còn có mấy lão già nữa đâu.”

Trưa ngày hôm đó, Minh Lượng đến viện dưỡng lão Diên Tân thăm Quách Bảo Thần cha của bạn học Quách Tử Khải. Trước đây Quách Bảo Thần làm quét đường ở Diên Tân, cả đời ham mê cờ bạc; ông Đổng đoán mệnh cho ông Quách, nói kiếp trước ông Quách làm thủ tướng thời dân quốc. Hai mươi năm trước, Quách Tử Khải đi Anh du học, lúc sắp đi còn đến Bảo Khê thăm hỏi một người thầy của mình và đặc biệt ghé Tây An thăm MInh Lượng. Hai người uống rượu trong quán Thiên Bồng Nguyên Soái của Minh Lượng. Sau khi Quách Tử Khải đi Anh du học, hai người cũng không cắt liên lạc với nhau. Ban đầu là thư từ qua lại, Minh Lượng biết Quách Tử Khải đã tốt nghiệp tiến sĩ, Quách Tử Khải tìm được một công việc ở London, Quách Tử Khải lấy một người vợ người Anh, sau đó sinh được hai đứa con; đến khi có điện thoại, có WeChat, hai người thường nhắn tin qua WeChat; Minh Lượng thấy ảnh chụp chung của Quách Tử Khải cùng vợ con qua WeChat, cô vợ người Anh của Quách Tử Khải rất đẹp. Chớp mắt đã hơn hai mươi năm qua rồi, Minh Lượng và Quách Tử Khải cũng sắp năm mươi tuổi tới nơi rồi. Lúc Minh Lượng đến viện dưỡng lão, Quách Bảo Thần đang ngồi vò đầu trên giường. Y tá nói Quách Bảo Thần đang bị xơ cứng mạch máu não, bây giờ đã có phần ngờ nghệch, bình thường không hay nói gì, thỉnh thoảng nói chuyện cũng sẽ nói mấy câu trước kia nói trong sòng bạc: “Tới ông ra bài kìa, đi mau lên!”

Minh Lượng ngồi bên giường của Quách Bảo Thần, Quách Bảo Thần không nhận ra ông ta là ai; Minh Lượng nói quan hệ của mình với Quách Tử Khải, Quách Bảo Thần nghe cũng không hiểu. Minh Lượng chợt nhớ ra gì bèn cầm điện thoại lên, tra giờ thế giới trên điện thoại, buổi trưa ở Diên Tân là buổi sáng ở London, thế là gọi điện cho Quách Tử Khải.

Điện thoại kết nối, Quách Tử Khải ở đầu dây bên kia nói: “Không ngờ là ông đấy, trước đây ông toàn gọi buổi tối thôi mà.”

“Ông đoán xem tôi đang ở đâu?”

“Tây An lớn thế, làm sao tôi đoán ra được?”

“Tôi từ Tây An về Diên Tân rồi, giờ đang ở viện dưỡng lão Diên Tân đây, đến thăm bác này.”

Quách Tử Khải: “Không ngờ đấy.” Lại nói, “Nếu ông đã đến viện dưỡng lão thì gọi video cho tôi gặp ba đi. Ổng bị lú lẩn rồi, không biết dùng điện thoại, lâu rồi không gặp ba.”

Minh Lượng bật chế độ video trên điện thoại, chuyển ống kính điện thoại hướng về Quách Bảo Thần. Minh Lượng: “Ông coi, bác còn khỏe lắm.” Rồi nói với Quách Bảo Thần: “Bác ơi, Tử Khải nói chuyện với bác nè.”

Quách Tử Khải trên màn hình: “Ba ơi, bây giờ ba sao rồi?”

Quách Bảo Thần vung tay: “Bớt nói xàm, ra bài đi!”’

Xem ra nói chuyện không xong rồi, Minh Lượng lại chuyển ống kính về phía mình: “Ngoại trừ đầu óc mù mờ ra thì sức khỏe bác còn tốt lắm.”

“Hình như mập ra nhiều rồi, thịt trên mặt xệ xuống cả.” Quách Tử Khải lại nói, “Ông nói với viện dưỡng lão đừng cho ba tôi ăn bậy đấy.”

Minh Lượng: “Biết rồi.” Sau đó nói, “Ông ở London đang làm gì vậy?”

“Đem quần áo dơ đến tiệm giặt ủi, vừa mới từ tiệm giặt ủi bước ra, đang trên đường về nhà. Ông xem, đây là sông Thames đấy.”

Quách Tử Khải chuyển ống kính điện thoại ra sông Thames. Trên sông Thames có thuyền chạy qua. Quách Tử Khải: “Tôi đang ngồi ở bờ sông.”

Quách Tử Khải ngồi bên bờ sông, lại chuyển ống kính về phía bờ sông Thames, trên bờ, các chàng trai cô gái người Anh và những du khách nước ngoài đang đi lại. Quách Tử Khải lại xoay điện thoại: “Nhìn đi, kia là tháp Big Ben đó.”

Minh Lượng: “Thấy rồi, London đúng là khá thật.”

Lúc này Quách Tử Khải thở dài: “Nhìn thấy ba tôi như vậy, Minh Lượng, tôi nói ông nghe câu này thật lòng, ban đầu tôi không nên đến Anh.”

Minh Lượng ngẩn người: “Có ý gì? Lớp mình tính ra ông xuất chúng mà.”

Quách Tử Khải: “Tôi không phải người xuất chúng nhất. Tôi đến Anh nhiều năm thế này rồi mà không cho ba tôi sang được lần nào, bây giờ muốn đón ba sang thì ba lại khờ khạo. Cây muốn lặng mà gió chẳng dừng, con muốn nuôi mà cha không còn nữa.”

“Tự cổ trung hiếu khó thể lưỡng toàn, ông đang vì sự nghiệp thôi.”

“Chẳng liên quan gì tới sự nghiệp, chủ yếu là do khác biệt văn hóa.”

“Ý ông là sao?”

“Ông biết đó, tôi lấy một người vợ quốc tịch Anh. Mấy năm trước tôi đã muốn đón ba sang nhưng cô ấy hỏi, ai trả lộ phí? Tôi nói đương nhiên tôi trả. Cô ấy nói, ba anh muốn đến Anh quốc thì cần phải có năng lực bỏ tiền đi đường; lại hỏi, đến nước Anh rồi ở đâu? Tôi nói đương nhiên ở nhà chúng ta. Cô ấy nói, ông ấy có năng lực đến Anh quốc thì phải có năng lực thuê khách sạn; ba em đi từ Manchester đến London phải tự bỏ tiền mua vé xe lửa, tự ở khách sạn. Cứ nhắc đến chuyện này là cãi nhau, kéo dài đến nay như thế, kéo tới kéo lui, kéo đến khi ba tôi lú lẩn luôn rồi.” Quách Tử Khải lại nói, “Bây giờ tôi muốn về Trung Quốc làm việc, nước Anh lại trở thành gánh nặng của mình, ở đây trừ vợ tôi ra còn có hai đứa con nữa, tôi cũng tiến thoái lưỡng nan.” Lại nói, “Việc xấu trong nhà, trước nay chưa từng nói với ai. Vốn chẳng biết cái gì gọi là khác biệt văn hóa, bây giờ đích thân trải nghiệm, đã biết rồi.”

Minh Lượng nhớ đến câu “sống cuộc đời như một trò đùa” mà Trần Trường Kiệt nói với mình trong vườn hoa bệnh viện dành cho nhân viên đường sắt; lại nhớ đến câu mà Phàn Hữu Chí cả đời làm lái xe ở khu Đạo Bắc Tây An nói trong hôn lễ của con gái Phù Dung, bèn nói: “Không trách vợ ông được, cũng không thể đổ cho khác biệt văn hóa.”

“Thế trách ai?”

“Trách thời gian sai lệch thôi.”

“Ông muốn nói gì?”

“Nghe ông Đổng nói, bác mình kiếp trước làm thủ tướng, nếu như bây giờ là kiếp trước, ông ấy vẫn còn là thủ tướng, nếu muốn đi thăm nước Anh bàn việc nước, ông có muốn ra tiền lộ phí cũng không có cơ hội đâu.”

“Vậy thì đúng.”

“Thủ tướng đến London, cũng chả cần ở nhà ông.”

“Thế cũng phải.”

“Nếu như thủ tướng đến số 10 đường Downing hội kiến thủ tướng Anh, bảo người vợ Anh quốc của ông theo cùng, cổ đi hay không đi?”

“Nhất định đi.”

“Lúc lâm chung, bác nhà mình lại tặng hai chục nghìn bảng Anh làm tiền tiêu vặt, cổ lấy hay không lấy?”

“Nhất định lấy.”

“Thế có khác biệt văn hóa không?”

“Điên!” Quách Tử Khải không khỏi bật ra một câu giọng Hà Nam.

Hai người đều cười. Quách Tử Khải: “Minh Lượng, hôm nay là ngày vui vẻ nhất đời tôi năm nay đó.”

“Tôi còn có cả trải nghiệm này.”

“Trải nghiệm gì?”

“Sống đến tuổi này rồi, nhớ ra có rất nhiều chuyện phiền lòng ngày trước, lúc đó từng chuyện từng chuyện một cứ thấy như chuyện lớn bằng trời, không vượt qua nổi, bây giờ nhớ lại, đều thành chuyện tán phét cả rồi.”

“Còn chả phải.” Quách Tử Khải lại nói, “Nói đến đây, tôi có câu này muốn nói với ông.”

“Nói đi.”

“Tuy tôi đi du học, có bằng tiến sĩ, nhưng ông có học vấn hơn tôi đấy.”

“Tử Khải, tôi chỉ là người thô lỗ, đừng nói đùa vậy với tôi chứ.”

“Tôi nói thật mà.”

“Chỗ bạn bè nên nói thật lòng, thấy rất sảng khoái.” Minh Lượng lại nói, “Khi nào về nước phải đến Tây An đó, chúng ta còn phải ăn giò heo.”

“Nhất định, còn phải uống cho say mới ngừng.”

Minh Lượng cúp máy, đột nhiên nhớ ra mình mời Quách Tử Khải về Tây An nhưng Quách Tử Khải lại không mời mình đi London; xem ra anh ta ở London cũng không thuận tiện lắm. Minh Lượng không khỏi thở dài.

Ngày tiếp theo là tết trung thu. Ông chủ quán Thiên Bồng Nguyên Soái ở Diên Tân là ông Chu nghe nói Minh Lượng về đã nhờ người đưa tin bảo Minh Lượng tối trung thu thì đến Thiên Bồng Nguyên Soái cùng ăn cơm. Trưa ngày tiếp theo, Minh Lượng đến hàng chuyên bán rượu và thuốc lá ở ngã tư đường mua sáu bình rượu ngon, sáu gói thuốc lá loại tốt; tối đó xách theo cùng đến quán Thiên Bồng Nguyên Soái ở thành Tây. Ông Chu hồi trẻ tóc dày, bây giờ cạo trọc lóc, đứng trước cửa tiệm trông thấy Minh Lượng tới thì sờ đầu cười ha hả. Hơn ba mươi năm trước, Minh Lượng học việc ở quán Thiên Bồng Nguyên Soái, gặp ông Chu không kêu “ông chủ” mà hoặc kêu “bác” hoặc kêu “thầy”, bây giờ cũng kêu: “Thầy.”

Ông Chu thấy đồ trong tay Minh Lượng cũng không nói năng gì, chỉ bảo: “Đến là đủ rồi, đến là đủ rồi.”

Sau đó không dắt Minh Lượng vào quán mà vòng qua cửa tiệm đến vườn sau. Hóa ra dưới cây liễu ở vườn sau của ông cụ đã bày một chiếc bàn. Trên cây liễu mắc cái đèn điện. Ông Chu: “Ra đây nói cho yên tĩnh, nếu ăn trong quán mà gặp phải người quen lại phải chào người ta nữa.” Rồi nói, “Nơi này còn chỗ tốt nữa, đợi lát nữa trăng lên rồi thấy, có thể ngắm trăng.”

Minh Lượng gật đầu: “Thầy suy nghĩ chu đáo quá.”

Hai người ngồi xuống uống trà, Minh Lượng nhắc đến mấy người làm cũ ở Thiên Bồng Nguyên Soái năm đó, đa phần đều bỏ đi cả, thằng Lý đi, thằng Triệu đi, thằng Lưu cũng đi nốt; năm đó người thầy cầm tay chỉ việc cho Minh Lượng nấu giò heo là ông Hoàng cũng về hưu năm ngoái rồi, ông ta mắc bệnh tim phải đặt bốn cái ống thông, năm nay vừa qua hết mùa xuân ông ta đã theo con trai đến Thanh Đảo; con trai ông ta buôn bán hải sản ở Thanh Đảo. Ông Chu hỏi tình hình Minh Lượng ở Tây An, Minh Lượng đem tình hình mình mở quán ăn ở Tây An ra kể lại từng chuyện một. Hai người đang nói chuyện thì có người bắt đầu bưng món ăn lên; người bưng món ăn lên này là ai ban đầu Minh Lượng nhận không ra, đến khi nhìn kỹ mới biết ra là thằng Ngụy ngày xưa làm tiếp việc rửa giò heo của Minh Lượng. Hơn hai mươi năm không gặp, đầu tóc Ngụy đã bạc hoa râm rồi.

Đến khi thằng Ngụy lại bưng món lên lần nữa, Minh Lượng: “Cậu chẳng phải thằng Ngụy đó sao? Sao không nói tiếng nào vậy?”

Thằng Ngụy cười ha hả: “Thấy anh với thầy nói chuyện vui thế, sao em dám chen vào?” Lại nói, “Đừng gọi thằng Ngụy nữa, giờ là Ngụy già rồi.”

Ông Chu trỏ vào thằng Ngụy nói: “Bây giờ nó cũng tính là người làm lâu năm trong tiệm rồi, ai cũng gọi nó là ông Ngụy.” Lại nói, “Mười năm trước, thầy đã không bảo nó rửa giò heo nữa mà cho nó đi nấu giò heo, ai dè nó không biết cố gắng gì, nấu lúc nào cũng khét; đáng ra phải cho về rửa giò heo tiếp thôi nhưng nghĩ lại tuổi nó cũng lớn rồi, không thể rửa giò heo tiếp nữa, nên cho nó chạy bàn.”

Ông Ngụy cười cười: “Thầy lo cho con thật.”

Ông Chu: “Năm đó lúc mày rửa giò heo bị mắng không ít; đến khi nấu giò heo cũng chẳng bị mắng ít hơn bao nhiêu.”

Ông Ngụy cười: “Tính tình con không tốt, cứ quên việc mãi.” Vừa nói vừa bưng một cái mâm chạy đi.

Ông Chu chỉ vào ông Ngụy: “Mày xem cứ mắng tới nó là nó chạy.” Rồi nói, “Minh Lượng, ngày đó lúc mày còn học việc, thầy cũng hay mắng mày, mày không ghim chứ?”

“Có mắng bao giờ đâu, sao con chả nhớ gì cả vậy?”

“Xem cái trí nhớ của mày kìa, có một lần mày dùng hắc ín nấu một nồi giò heo khét lẹt, thầy không chỉ mắng mày mà còn bước lên đá mày hai cái nữa.”

“Giò heo mà nấu cho khét lẹt, đáng đánh đáng đánh.” Minh Lượng lại nói, “Con ở Tây An, nếu học việc làm sai gì, con cũng mắng mà.” Sau đó đứng dậy, bưng ly rượu lên, “Thầy ơi, nói đến đây, con phải kính thầy một ly đàng hoàng.”

“Tại sao?”

“Con thường nghĩ, con có được ngày hôm nay toàn nhờ thầy cả. Nếu như không phải năm xưa được học nghề với thầy ở đây, bây giờ con ở Tây An làm gì lo ăn lo uống được?”

Ông Chu khoát tay: “Không nói vậy được, mấy năm nay, học việc đi theo thầy nhiều, có thể ra đời lăn lộn xuất sắc như mày còn chưa có thằng thứ hai. Vẫn là tục ngữ nói đúng, thầy là người dẫn lối đưa đường, sướng khổ bản thân tự liệu.”

Vừa nói vừa uống, trăng tròn đã nhô cao như một trản băng chiếu xuống cây liễu, bóng liễu lung lay trên nền đất; sau quán có một con sông, ánh trăng chiếu xuống lòng sông, sóng nước dập dờn. Hơn hai mươi năm trước, đám người Minh Lượng và Mã Tiểu Manh làm công ở đây, lúc tạm nghỉ, Minh Lượng thích đến bờ sông thổi sáo. Bên bờ đối diện bây giờ là một rừng ngô phóng mắt không thấy tận cùng. Gió thổi qua, rừng ngô vang lên tiếng ‘xào xạc’. Gió vừa thổi, Minh Lượng cảm thấy người hơi lạnh bèn vội đứng dậy lấy áo khoác vắt trên lưng ghế của ông Chu choàng lên cho cụ; sau đó cũng tự khoác thêm áo vào.

Minh Lượng: “Thưa thầy, con chợt nhớ ra, năm xưa thầy thích hát kịch, giờ còn hát không?”

“Giờ nghỉ hát rồi, hỏng giọng còn đâu.” Ông Chu lại nói, “Mà cũng không phải hỏng giọng, phải là không còn tâm sức.” Rồi hỏi, “Còn nhớ năm xưa mày biết thổi sáo, bây giờ còn thổi không?”

Minh Lượng nghĩ ngợi, bản thân mình ít nhất mười mấy năm không thổi sáo rồi, bèn nói: “Cũng lâu lắm không thổi rồi.” Lại nói, “Thầy nói rất đúng, không còn tâm sức nữa, chẳng còn nhớ tới.”

Bấy giờ ông Ngụy lại bưng bánh trung thu lên. Ông Chu chỉ ông Ngụy: “Lần này làm đúng rồi đó, mười lăm tháng tám nên ăn bánh trung thu.”

Minh Lượng: “Ông Ngụy cũng không phải người ngoài, ngồi xuống ăn bánh trung thu, uống hai chén với nhau đi.”

Ông Ngụy cười ha hả, nhìn ông Chu. Ông Chu: “Khó lắm Minh Lượng mới về một lần, nó bảo mày ngồi thì mày ngồi đi.”

Ông Ngụy lại cười ha hả, cũng ngồi xuống theo. Ba người ăn bánh trung thu, uống rượu, ông Chu hỏi chuyện Minh Lượng về Diên Tân dời mộ, Minh Lượng bèn kể lại hết mọi sự tình dời mộ trước mắt cho ông Chu nghe.

Ông Chu: “Bà nội mày lúc còn sống là người tốt đấy. Lúc thầy còn nhỏ, nhà mày còn chưa bán bánh táo mà bán đậu hủ khô ở ngã tư đường, mắt ông mày không tốt, thầy và một đám quỷ nhỏ cứ đến trộm đậu hủ ăn. Có một lần lúc đang trộm bị ông mày tóm được, ông mày muốn đánh thầy nhưng bị bà mày cản lại, nói trẻ con mà, đứa nào không nghịch ngợm, thầy mới thoát được một trận đòn.”

“Trí nhớ thầy tốt quá.”

“Sau này, ông bà nội mày mở quầy bán bánh táo ở ngã tư đường, bánh táo đó ăn cũng ngon. Nghe bà mày nói, táo trong bánh táo đều hái xuống từ cây táo nhà mày cả.”

“Nghe bà nội con nói, cây táo đó đã hơn hai trăm năm tuổi rồi, năm nào cũng ra được mấy bao tải táo to, táo không kịp ăn sẽ thối, may mà bà nghĩ ra cách làm thành bánh táo. Sau này bà con mất, cây táo kia cũng chết theo, thầy thấy có kỳ diệu không?”

“Kỳ diệu. Vạn sự đều có nguyên do.”

Minh Lượng: “Sau này, cây táo đó cũng không biết đi đâu rồi.”

Lúc này ông Ngụy mới chen mồm: “Em biết cây táo đó đi đâu nè.”

Một tiếng ‘lách cách’ vang lên, Minh Lượng tỉnh cả rượu: “Ở đâu?”

Ông Ngụy: “Năm đó, sau khi cây táo chết đã bị người nhà họ Trần các anh đào lên bán cho nhà ông Phạm ở thôn Tháp Phô. Ông Phạm kéo cái cây ấy về nhà, chẻ thành tấm đóng bàn đóng ghế. Nhà mẹ đẻ em ở Tháp Phô, mấy năm trước em đến Tháp Phô thăm thân thích, mọi người nói chuyện năm xưa, chính tai em nghe ông Phạm nói đó.”

“Ông Phạm là ai??”

“Một thợ mộc ở Tháp Phô.”

Tối đêm đó, Minh Lượng ngủ ở khách sạn, mơ thấy bà nội đang ngồi dưới táng cây táo đó trong vườn làm bánh táo; vừa làm bánh táo vừa tán dóc cho Minh Lượng nghe; dần dần, cây táo đó biến thành bàn ghế, bà nội và Minh Lượng lại cùng nhau ngồi lên ghế ăn cơm trên bàn. Món ăn là bánh nướng với trứng xào hành.

[1] Thực ra là một món đặc sản ở An Huy, cái tên này bắt nguồn từ việc có một cái lò lửa bên trên ụp xuống chảo nướng bánh bên dưới. Trông hình dạng, màu sắc thì tôi thấy khá giống bánh tiêu của bên mình, nhưng mùi vị thế nào, đặc sắc ra sao thì thú thật tôi không rõ vì đã thử đâu.

A Tĩnh:

Lần này không phải lần đầu tiên tác giả cho Minh Lượng bày tỏ nếu không phải ngày xưa không bị cho thôi học, phải vào quán giò heo học việc thì không có ngày hôm nay. Mã Tiểu Manh cũng khổ, bị cha dượng quấy rồi, phải dọn vào kí túc xá trốn rồi yêu đương nên không đậu đại học. Nếu Mã Tiểu Manh đậu đại học, cuộc đời có sung sướng hơn không thì không dám chắc, nhưng có một thực tế là dù không đậu đại học nhưng Mã Tiểu Manh gặp được Minh Lượng, có một cuộc sống tốt. Cũng coi như khổ tận cam lai. Nhìn chung, tư tưởng của Lưu Chấn Vân mang đậm màu sắc… ờm, không thể nói là biết ơn những khó khăn của quá khứ mà nó như một dạng khó khăn chính là thử thách, vượt qua thử thách đó lại thấy đời mình tốt hơn nhiều thì không còn cảm giác oán hận khó khăn mình gặp phải trên đời nữa. Thuộc một kiểu giải tỏa tâm lý. Chẳng ai muốn sống khổ bao giờ nhưng nếu gặp phải khó khăn, thay vì oán trách thì cố gắng vượt qua, cốt lõi ở đây là tinh thần vượt khó, phải nỗ lực vượt khó mới có niềm vui thoát khổ được.

Những người nói mình sống cuộc đời như một trò đùa, nhìn chung đều là những người “không thoát khỏi cái máng lợn cũ”. Cả Trần Trường Kiệt và Lý Diên Sinh đều không gặp phải khó khăn vất vả như Minh Lượng. À, ý là cuộc sống cũng vất vả đó nhưng thuộc kiểu vật lộn với cơm áo gạo tiền bình thường, sống mỗi ngày cho có, được bữa nào hay bữa đó, không xảy ra sự cố gì là tốt lắm rồi. Lý Diên Sinh không nuôi Minh Lượng được cũng không trách ổng được, kinh tế của hai vợ chồng ổng quá kém. Nhưng vì có thể sống qua ngày chờ ngày qua đời kiểu này nên cả Trần Trường Kiệt và Lý Diên Sinh sống khá là vật vờ, cả đời đối phó với miếng cơm manh áo của cuộc đời, không bật lên được. Đến cuối đời nhìn lại, mình chỉ quanh quẩn bên cái máng lợn của mình. So với Minh Lượng thì hai ổng sống bình dị và yên ổn hơn, nhưng cũng vì khó khăn vất vả hơn mà Minh Lượng sống cuộc đời oanh liệt hơn, có thành tựu hơn hai ổng. Cũng giống như kiểu cá chép vượt vũ môn hóa rồng, ngược dòng vất vả, vượt vũ môn nguy hiểm, vượt được thì một bước lên tiên, không vượt được là chết. Minh Lượng có thể phong quang hơn tiền bối của mình là vì nỗ lực cố gắng hết sức, nhưng cái giá phải trả là nếu ông ta thất bại thì kết cục còn thảm hại hơn.

Rồi, giữa sống qua ngày chờ ngày qua đời rồi bảo đời như đùa và khó khăn vất vả hoặc vượt qua hóa rồng hoặc chết, cuộc đời nào đáng sống hơn?

Ờm, hiển nhiên người bình thường sẽ chọn cuộc đời phong quang vô hạn mà không gặp khó khăn vất vả như Minh Lượng. Nhưng cuộc đời như thế có tới lượt mình không thì không chắc :))).

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

MỤC LỤC

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x