TAM SINH TAM THẾ – BỒ ĐỀ KIẾP
Chương 4
Dịch (láo): A Tĩnh
#tamsinhtamthe #bodekiep
—
Coi như Phụng Hành không ngốc. Chí ít lúc tôi tỉnh dậy trong điện nhỏ mà chúng tôi đang ở, trông thấy gương mặt hối hận của nó, chứng minh không cần tôi nhắc nhở, tự nó cũng biết tại sao chúng tôi bại lộ rồi. Mà tôi vẫn ở trong điện phụ này, cho thấy Mặc Uyên đích thực không phá hỏng chuyện của tôi, không cho tộc Tương Nghi biết tôi là ai.
Phụng Hành giơ ba ngón tay trước giường tôi: “Tổ tông, Người ngủ ba ngày, Mặc Uyên ở lại bên Người hai ngày rưỡi, thấy Người quả thực không sao, bèn ra ngoài lo việc giúp Người rồi.”
“Lo việc giúp ta?” Phụng Hành dạo này nói chuyện càng lúc càng cao minh, với trí tuệ của tôi, vậy mà nghe không ra điểm diệu huyền nào trong lời nó nói, thực khiến tôi hiếu kỳ, “Chàng lo giúp ta việc gì?”
Phụng Hành lập tức giơ hai tay lên: “Là thế này, để con giảo biện trước, sau khi sắp xếp cho Người xong xuôi, hắn hỏi con Người đến đây làm chính sự gì, muốn giúp một tay, con cố chịu áp bức, cái gì không tiết lộ được tuyệt không tiết lộ nửa lời. Nhưng hắn xảo quyệt quá, thấy con kiên trinh bất khuất, nghe nói Người từng thăm dò hồn của Họa Trang, thế là mượn cớ giúp Họa Trang chẩn bệnh, cũng thăm dò hồn Họa Trang một thể, bây giờ chắc còn đang ở trong biển ý thức của Họa Trang. Vào biển ý thức của Họa Trang, chuyện Sư Nhạc không phải lộ rồi à, hắn nhất định muốn nhúng tay vào, giúp, giúp Người giải quyết.”
Hóa ra là giúp tôi giải quyết việc này. Tôi cũng không biết còn nói gì được nữa, chỉ cảm thấy tán thưởng khả năng tu từ của Phụng Hành, đồng thời cũng thấy đau đầu, sau đó nói: “Bỏ đi, hình như chàng cũng đang rất rảnh, muốn kiếm chuyện gì làm, tùy chàng vậy. Chuyện này chàng biết cũng chẳng ảnh hưởng gì.”
Thấy cảm xúc tôi ổn định, không cáu tiết lên, Phụng Hành thở phào, hiếu kỳ hỏi tôi: “Vậy Họa Trang và Sư Nhạc rốt cuộc có vướng mắc gì, Tổ tông Người tra rõ chưa?”
Nhắc đến chuyện này, tôi phấn chấn hẳn ra.
Đoạn ký ức lúc Họa Trang nhập phàm đúng là hay thật.
Tôi nói với Phụng Hành: “Cô ta với ta, thực ra cũng có chút liên đới.”
Phụng Hành phản ứng rất nhanh, ngạc nhiên nói: “Họa Trang?”
Tôi nói: “Đúng, Họa Trang.”
Bạn khuê phòng của tôi có người tên Tạ Minh, giống hệt như tôi, cơ thể không phải thần chẳng phải ma, Thần tộc gọi cô là Hỏa Thần, Ma tộc xưng cô là Người Cai Quản Lửa. Tạ Minh có một đứa con trai tên Tạ Cô Châu, là một trong hai người đứng đầu Minh Ti, thế nhân xưng là Hắc Minh Chủ. Họa Trang là vị hôn thê trước đây của Tạ Cô Châu.
Phụng Hành bình luận: “Mối quan hệ này có phải xa tít tắp không?”
Tôi nói: “Ngươi đừng xen vào, này không quan trọng.”
Quan trọng là Họa Trang bất mãn với cuộc hôn nhân này, một lòng muốn thoát khỏi Minh Ti.
Tôi hiểu được Họa Trang. Nếu không có chuyện lớn, Minh Chủ không thể rời Minh Ti, huống chi là vợ của Minh Chủ, đây là quy tắc của thiên đạo. Làm Minh Hậu, suốt đời đều phải bị nhốt trong Minh Ti âm u không thấy mặt trời, cho dù Tạ Cô Châu đẹp tới chừng nào, cũng chỉ nhịn được trăm năm. Nếu tôi là Họa Trang, có thể tôi sẽ chọn thành thân với Tạ Cô Châu, nhìn mặt hắn ăn cơm, cứ nhịn một trăm năm trước rồi tính, cũng không phải thiệt. Ai ngờ Họa Trang tính tình nông nổi, chưa thành thân đã quậy, trốn mười mấy lần không xong cũng không bỏ cuộc.
Có câu “có chí ắt làm nên”, bằng nỗ lực không ngừng, có một ngày, cuối cùng cô ta nảy sinh tình cảm không đứng đắn với một quý công tử Thiên tộc đến Minh Ti làm khách, cuối cùng được vị quý công tử kia giúp đỡ, thành công trốn khỏi Minh Ti. Vị quý công tử Thiên tộc đó chính là đại công tử tộc Tương Nghi – Hi Di thần quân.
Chuyện này không thể không nghiêm trị.
Hi Di thần quân bị Thiên quân phạt đến phàm thế lịch kiếp, để hả cơn giận cho Minh chủ. Tuy Minh chủ Tạ Cô Châu vốn cũng chẳng giận gì. Ít nhất hắn cũng chẳng nghiêm túc phạt Họa Trang, nhưng chắc là bị Họa Trang quậy đến lạnh lòng, dứt khoát hủy bỏ hôn ước, thả Họa Trang khỏi Minh Ti, cho cô ta đến bát hoang làm một tán tiên trông thấy được mặt trời.
Họa Trang từ lúc sinh ra chưa từng rời khỏi Minh Ti, ngày tháng bên ngoài kiểu gì và như nào, toàn là cô ta tưởng tượng, tưởng đâu là đẹp đẽ, đến khi làm tán tiên mấy ngày, mới phát hiện ngày tháng tự lực cánh sinh không dễ chút nào.
Nhưng không về được Minh Ti nữa. Vậy phải làm sao?
Thực ra cô ta cũng không cố chấp lắm, dù sao cũng sống khổ mấy ngày, coi như đã hiểu được thế sự, cô ta bắt đầu nghĩ thế này: Có thể nào vừa thấy được mặt trời có được tự do, vừa ngồi trên ngôi cao có được trọng quyền không? Đáp án là có thể. Cô ta nhớ đến đại công tử tộc Tương Nghi – Hi Di thần quân vẫn một mực tình sâu nghĩa nặng với mình, vì mình mà phải xuống trần chịu phạt.
Lấy Hi Di là vấn đề được giải quyết rồi.
Nghĩ thông điểm này, cô ta phí chút thời gian, dò thám phàm thế nơi Hi Di lịch kiếp, sau đó lén lút xuyên qua cửa Nhược Mộc, xuống trần tìm kiếm Hi Di, tiếp tục tình duyên.
Thời gian ở phàm thế đó trôi qua rất nhanh. Cô ta chỉ bỏ lỡ có mấy ngày mà Hi Di đầu thai làm phàm nhân lúc này đã lớn thành một thanh niên đẹp đẽ hai mươi hai tuổi. Tin tốt là thanh niên đẹp đẽ này chưa kết hôn. Tin xấu là thanh niên đẹp đẽ này uống nước Vong Xuyên, tuy chưa kết hôn, nhưng đã quên mọi thứ trong bát hoang từ lâu lắm rồi, bên cạnh y còn có một vị tri kỷ thân phận tôn quý, tài mạo song toàn, ủng hộ y từ một hoàng tử sa cơ bò ra khỏi vũng bùn, vượt mọi chông gai, đạp bằng trở ngại, cuối cùng cướp được ngôi vua.
Nói nhiều thế, Sư Nhạc cuối cùng cũng lên sàn diễn rồi. Đúng, Sư Nhạc chính là vị tri kỷ đó của Hi Di.
Hi Di vừa mới xưng đế không lâu, còn chưa thành hôn với Sư Nhạc, nhưng hai người nắm tay nhau đã gần bảy năm, đương nhiên tình nghĩa không phải tầm thường, Hi Di sớm đã hứa cho Sư Nhạc ngôi hoàng hậu, thậm chí hứa hẹn một đời một kiếp chỉ hai người.
Thế nên Họa Trang vừa mới nhập phàm, mở đầu đã thấy hơi bị gian nan.
Trong ký ức của Họa Trang, Hi Di một lòng một dạ với Sư Nhạc. Ban đầu, Họa Trang hoàn toàn không được Hi Di chấp nhận. Nhưng không nản lòng, Họa Trang kiên trì ở bên cạnh Hi Di, cuối cùng hai tháng sau tìm được thời cơ, mạo hiểm thi phép, khiến Hi Di nhớ ra quá khứ lúc còn làm tiên với mình. Từ đó, Hi Di khó lòng bỏ mặc được Họa Trang.
Nợ tình hai món. Một món là ánh trăng sáng kiếp trước, một món là nốt ruồi son [1] kiếp này. Ánh trăng sáng không oán không hối đuổi theo tới đây, một mực tình si với mình; nốt ruồi son không lìa không bỏ bầu bạn cạnh bên, cũng có tình có nghĩa với mình, biết chọn sao đây, thực là nan giải.
Sự giằng co của Hi Di, tôi hiểu. Nếu tôi là hắn, có khả năng là lúc được Họa Trang thức tỉnh ký ức, nhớ ra bản thân mình từng có tình cảm với cô ta, nhất định sẽ trực tiếp nói rằng — Thì đã sao, có thể không chọn được không, lấy tất? Hôn nhân tay ba thực ra cũng đâu đông đảo gì, dù sao hoàng cung đủ rộng, nói không chừng ai nấy cũng đều hạnh phúc, dù gì cũng có phạm pháp đâu.
Nghĩ lại không ngờ giới hạn của Hi Di còn cao hơn cả tôi, dù sao cũng phải đấu tranh một khoảng thời gian rất dài.
Họa Trang vẫn ở trong cung, ngày nào cũng dạo hoa viên, gặp mặt y, sau đó lại nhìn y bằng cặp mắt thướt tha tình tứ mà tràn đầy uất ức, tháng rộng năm dài, đích thực khó lòng mà lạnh nhạt nữa. Từng chần chờ, từng do dự, cũng từng cố gắng vẫy vùng, cuối cùng y cũng tìm Sư Nhạc thương nghị, nói sau đại điển lập hậu, muốn phong Họa Trang làm quý phi, tuy từng hứa với Sư Nhạc một đời một kiếp chỉ hai người, ai ngờ mình và Họa Trang có tình từ trước, không nỡ phụ lòng.
Chắc vì cơ hội gặp mặt Sư Nhạc quá ít, nên trong ký ức của Họa Trang, Sư Nhạc chẳng xuất hiện được mấy lần, giống như một cái bóng nhạt nhòa, thỉnh thoảng ẩn hiện trong vở kịch ba người này. Cho nên Sư Nhạc tính cách như nào, tôi không rõ. Nhưng tôi luôn cảm thấy Sư Nhạc sẽ không đồng ý với Hi Di — Dưới góc nhìn của Họa Trang, Sư Nhạc thật lòng thích Hi Di.
Các cô gái phần đông đều thế, giống như năm xưa tôi thật lòng thích Mặc Uyên, trái tim không chứa được thêm người nào, tuy rằng hai chúng tôi không phải quan hệ mà chàng thành hôn còn phải hỏi ý tôi, nhưng nếu chàng thành hôn, trong lòng tôi nhất định không thể chấp nhận được giai nhân chàng sắp lấy, khó mà đồng ý hay ủng hộ gì.
Quả nhiên, Sư Nhạc không đồng ý với Hi Di, không chỉ không đồng ý, chức hoàng hậu cũng không muốn làm, tỏ ý muốn rời hoàng cung, hai đứa tự chơi đi, chị đây không chơi với chúng bây nữa. Đúng là quyết tuyệt dứt khoát. Nhưng chuyện này khó ở chỗ là, Hi Di không phải thay lòng đổi dạ, không yêu Sư Nhạc nữa, chỉ là không toàn tâm toàn ý được nữa thôi. Nếu đã thích Sư Nhạc thì làm sao cho cô ra đi được. Kết quả nghĩ thôi cũng biết. Hi Di nhất thời sốt ruột, nhất thời phẫn nộ, dưới cơn sốt ruột và phẫn nộ ấy mà phong tỏa cung của Sư Nhạc, cấm túc cô.
Phụng Hành nghe tôi nói đến đây, liên tục cảm khái, nhịn không được chen mồm: “Đúng rồi, Sư Nhạc rốt cuộc trông như thế nào, Người có xem rõ không?” Vừa hỏi vừa cách không rút khay hạt dưa đến đây, “Giống Người đến mấy phần? Năm phần? Sáu phần? Chắc không phải bảy phần luôn chứ?”
Tôi lặng người. Lại nhớ đến diện mạo của Sư Nhạc, thực cũng cảm thấy không thể nghĩ bàn. “Phải đến chín phần.” Tôi nói.
Phụng hành đánh rơi cả hạt dưa: “Á, vậy cô ta nhất định phải rất xinh đẹp, giống hệt như Người.”
Tôi giúp nó nhặt hạt dưa lên: “Cũng làm được gì đâu, trong màn tranh giành tình cảm tay ba này, cô ta thất bại thảm hại.”
Phụng Hành nhận lấy hạt dưa: “Ồ, vậy Hi Di đó chắc chắn mù rồi, y chang Mặc Uyên.”
Kỳ tài chém gió hoàn mỹ tự nhiên đến bậc này. Có lẽ đây chính là nguyên nhân tại sao lúc nào nó cũng tìm được đường sống trong cái chết trước mặt tôi đến giờ. Làm sao tôi xa nó được.
Phụng Hành bóc hạt dưa, rồi nói: “Nhắc tới thì, ba người này, lập trường ai nấy khác nhau, thậm chí Sư Nhạc và Họa Trang hoàn toàn đối nghịch, nhưng vẻ như ai Tổ tông Người cũng hiểu, cách làm của ai Người cũng cảm thấy có lý lẽ nào đó bên trong.”
Tôi vừa bóc hạt dưa vừa dạy nó: “Hiểu được người khác là một mỹ đức, hiểu được người khác, mới có thể toại nguyện cho mình. Kiểu người giỏi hiểu được người khác như chúng ta, cảm xúc lúc nào cũng tương đối ổn định, không dễ nổi nóng.”
Phụng Hành chuẩn bị vóc một đống hạt dưa tôi khổ sở lắm mới bóc ra xong mà ăn sạch trước mặt tôi.
Tôi nổi trận lôi đình, đập bàn đứng lên: “Ngươi muốn chết đúng không?”
Phụng Hành trốn đi: “Con chỉ muốn nghiệm chứng cảm xúc của Người có phải thực sự ổn định lắm không thôi mà…” Nó vừa ấm ức vừa biến ra một khay hạt dưa khác, bóc ra mấy hạt đền cho tôi, vờ như không xảy ra chuyện gì, tiếp tục tò mò nhìn tôi, “Sư Nhạc bị nhốt, sau đó thì sao, sao Họa Trang lại nói, Sư Nhạc hạ chú lên người mình với Hi Di?”
Nhắc đến cái này, tôi quên cả giận, lại có phần phấn chấn.
Tôi nhìn Phụng Hành: “Đây không phải truyện cung cấm bình thường, ngươi còn nhớ hai nhân vật trong truyện này là thần tiên, người còn lại tuy là người phàm nhưng lại thuộc dòng dõi của chúa tể loài người không? Thế nên, truyện này bắt đầu phát triển theo hướng kỳ ảo rồi.”
Phụng Hành lẩm bẩm: “Truyện này nhiều nhân tố quá.”
Tôi nói: “Đúng, một nhân tố quan trọng trong đó, chính là khí đục tam độc.”
Nửa núi khí đục tam độc mà trước đây tôi đốt ở gò Côn Luân, thực ra là đến từ phàm thế, là lòng tham, sân hận, ngu si của vô số người phàm trong trăm vạn phàm thế. Năm đó lúc tạo ra phàm thế, người phàm di cư, mà không có cách nào phục dựng linh khí thịnh vượng của tứ hải bát hoang vào trăm vạn phàm thế để nó tịnh hóa những tham sân si này, lúc ấy chúng tôi đã biết cuối cùng sẽ có một ngày, khí đục tam độc tích tiểu thành đại, gây họa nhân gian. Khi đó, trên lý thuyết cũng nghĩ ra được biện pháp, nhưng tôi, Tạ Minh, Tổ Thị người nào người nấy đều phải hiến tế, Tất Lạc cũng sắp thành Phật đến nơi, ai nấy thực sự lo không nổi đến bước này, chỉ đành dựa vào người khác.
May mà Đông Hoa cũng coi như dựa được, với tư cách là thần Hộ Thế, nhiều năm sau khi khí đục tam độc trở thành vấn đề, bắt đầu gây họa nhân gian, cuối cùng hắn cũng tạo ra một tiểu thế giới tên là Diệu Nghĩa Tuệ Minh cảnh, có thể thu nạp được khí đục tam độc làm mưa làm gió ở trăm vạn phàm thế.
Vua của loài người dưới trướng Tổ Thị là Đế Chiêu Hi cũng không tồi, nghe nói trong ba vạn năm đầu Diệu Nghĩa Tuệ Minh cảnh vẫn chưa được hoàn mỹ, là nhờ một tay hắn giúp đỡ Đông Hoa thu thập những khí đục trốn ra khỏi Diệu Nghĩa Tuệ Minh cảnh. Đến khi Diệu Nghĩa Tuệ Minh cảnh ổn định, hắn bước vào luân hồi, đồng thời để lại huyết mạch đời sau của mình giúp xử lý những khí đục mà Diệu Nghĩa Tuệ Minh cảnh khó lòng phát giác, thế nên phàm thế mới tồn tại ổn định được đến giờ.
Kiếp này, Sư Nhạc giáng sinh, với tư cách là hậu nhân đời thứ bao nhiêu không biết của Đế Chiêu Hi, cô kế thừa huyết mạch của Chiêu Hi, cũng kế thừa sứ mệnh điều phục khí đục tam độc thu thập được.
Để thu thập khí đục, Sư Nhạc có một món pháp khí cực kỳ hiếm có, là một cái gương, tên Minh Kính Đài [2], do Đông Hoa chế tạo, tặng cho Chiêu Hi, lại được Chiêu Hi truyền cho hậu thế.
Họa Trang để mắt đến chiếc gương này.
Khó thay cho Họa Trang phải nhất mực gìn giữ nguyện ước ban sơ, tuy rằng nhập cung đến nay lúc nào cũng phải lo đấu đá, nhưng trước sau cô ta vẫn nhớ mình không phải tới để đấu đá thâm cung, lao tâm khổ tứ chen chân vào gia đình nhỏ của Hi Di và Sư Nhạc hoàn toàn không phải để làm hoàng hậu mà vì muốn cùng Hi Di về lại bát hoang, trở thành quý nhân Thiên tộc. Đồng thời, Họa Trang hiểu rõ, Hi Di cũng không phải cô nhi, y có cha có mẹ, thân thích đủ đầy, nếu về đến bát hoang mới bàn chuyện kết hôn, bản thân mình vốn không qua nổi ải của cha mẹ thân thích nhà Hi Di, thế nên cách tốt nhất là nhân lúc Hi Di lịch kiếp ở phàm thế, nằm ngoài tầm mắt cha mẹ, ký khế ước linh hồn với y trước, nắm chắc hôn sự này, đến khi về đến bát hoang, trưởng bối trong tộc cho dù bất mãn với cô, cũng hết cách.
Từ lúc Sư Nhạc tỏ ý muốn rời cung, bị Hi Di cấm túc, Họa Trang không gặp được Hi Di lần nào nữa. Họa Trang không ngốc, chuyện này nói lên cái gì, cô ta tự hiểu. Thấy hình huống không hay, cô ta thành thực quỳ ngoài Ngự Thư phòng nửa ngày, cầu kiến Hi Di. Cuối cùng vẫn là Hi Di không nỡ.
Sau khi gặp được Hi Di, Họa Trang lấy lùi làm tiến, ứa nước mắt nói: “Sư cô nương không chấp nhận thiếp, thiếp có thể rời cung, kiếp này thiếp đến muộn, nếu chàng đã gặp cô ấy trước, sinh tình với cô ấy trước, thiếp không oán chàng, cũng không oán cô ấy, chỉ hận số mệnh này, lang quân khó xử, thiếp cũng hiểu rõ,” Nói mãi nói mãi, khóc không thành tiếng, “Kiếp này lang quân ở phàm thế, thiếp có thể nhượng bộ, toại nguyện cho lang quân và cô ấy một đời một kiếp chỉ hai người. Tam thư lục lễ, mũ phượng khăn quàng, những thứ này, lang quân đều có thể cho Sư Nhạc cô nương. Nhưng Sư cô nương là phàm nhân, không thể ký khế ước với lang quân. Nếu Sư cô nương không thể, vậy lang quân có thể ký khế ước này với thiếp, đợi lang quân chấm dứt phàm tình, về lại tiên giới, thiếp muốn làm một đôi vợ chồng tiên giới với lang quân. Người phàm chỉ có một đời, đời này chàng có thể là của cô ta, thiếp không tính toán, nhưng sau này, thiếp muốn lang quân là của thiếp. Thiếp không thể bỏ lỡ lang quân được nữa.” Nói rồi nước mắt như mưa, dập đầu bái lạy.
Thấy Họa Trang thâm tình như thế, nói một câu là nhường một bước, Hi Di nhất thời im lặng. Đặt mình trong vòng xoáy tình yêu này, y cực muốn xé mây thấy trời, Họa Trang lại trần tình như vậy, nêu ra biện pháp khiến y không cần phải phụ ai, thực hợp với ý mình. Cuối cùng, Hi Di hứa sẽ ký khế ước với Họa Trang, sau đó tiễn Họa Trang rời khỏi hoàng cung.
Nhưng, phải biết là nhờ phúc của Đông Hoa, không phải tiên trong phàm thế mà thi triển pháp thuật trong phàm thế ắt phải bị phản phệ. Ký khế ước linh hồn tuy không thể coi là trọng pháp gì, nhưng với tu vi của Họa Trang, thi triển pháp thuật này ở phàm thế đã quá sức chịu đựng, cực kỳ tổn hại thân thể. Họa Trang khẩn cầu Hi Di, hi vọng có thể mượn dùng Minh Kính Đài của Sư Nhạc. Hi Di đồng ý.
Phụng Hành bóc hạt dưa nghe đến đây, phát biểu ý kiến: “Pháp khí tùy thân, sao có thể tùy ý cho mượn, còn là mượn cho đối thủ xài, Sư Nhạc không ngốc như vậy chứ?”
Tôi nói: “Cô ta không muốn, nhưng hết cách. Sợ cô ấy đi, Hi Di đã tìm về một đống người tu hành lập đại trận lúc cô ta bị cấm túc, phong tỏa linh lực của cô ta lại. Không dùng được linh lực, cô ta không giữ được Minh Kính Đài.”
Câu hỏi của Phụng Hành đúng nhiều: “Vừa rồi con còn muốn hỏi, Sư Nhạc không phải là vua của tộc Người sao? Quân vương của loài người trong trăm vạn phàm thế, làm sao bị một hoàng đế nhân gian giam giữ được?”
Tôi kiên nhẫn truyền đạo thọ nghiệp cho nó: “Sau khi sáng lập phàm thế, người phàm từ bát hoang di chuyển đến đây, chúa tể loài người là Đế Chiêu Hi dẫn dắt phàm nhân, trải qua dò dẫm hàng vạn năm mới xây dựng được một bộ quy tắc khiến phàm thế có thể dốc hết khả năng thoát khỏi ngoại lực, vận hành hoàn hảo. Đế vương thực quyền sở hữu đất đai, thị dân, quân đội, và bộ quy tắc tự động vận hành đó bổ trợ cho nhau. Vì để bảo vệ quy tắc vận hành này, vua của loài người phải rời phàm thế, huyết mạch đời sau của Chiêu Hi với tư cách là phàm nhân, tuy rằng là vua của loài người, nhưng chỉ mang tính tượng trưng, bằng không thiên hạ dễ loạn, cân bằng dễ mất.” Tôi nhân cơ hội dạy bảo mà đả kích nó, “Ngươi không hiểu cũng phải, sách có viết cái này đâu.”
Phụng Hành nghẹn họng. Chắc giá trị quan chịu đả kích rồi. Nó vẫn ngây thơ nghĩ trong sách cái gì cũng có mới mỗi ngày phí công phí sức khuyên tôi học hành. Lần này chung quy có thể khiến nó im lặng một trận.
Tóm lại, dưới sự giúp đỡ của Minh Kính Đài, Họa Trang thuận lợi ký được khế ước hồn phách với Hi Di.
Nhưng trong quá trình ký khế ước, Họa Trang cảm nhận được tiên lực dồi dào trong Minh Kính Đài, nảy sinh lòng tham, vì thế sau khi ký khế ước xong thì luyện hóa Minh Kính Đài cho mình sử dụng. Tuy phải chịu dội ngược, nhưng so với tu vi thình lình tăng vọt, cũng không tính là gì, bồi dưỡng lại là được.
Họa Trang tạo ra một cái Minh Kính Đài giả trả lại Hi Di. Hi Di tuy sở hữu rất nhiều ký ức về bát hoang, nhưng lúc ấy dẫu sao chẳng qua cũng chỉ là người phàm, sao nhìn ra báu vật đó là thật hay giả. Nghĩ đến Sư Nhạc bị cấm túc hai tháng nay mà chẳng có lấy một chút thái độ cúi đầu, quyết tâm rời cung như cũ, y lòng đầy phiền muộn, lại cảm thấy vì có Minh Kinh Đài mà Sư Nhạc có thế dựa dẫm, bởi vậy giữ luôn Minh Kính Đài, chưa từng trả lại cho Sư Nhạc.
Mãi đến nửa năm sau, phàm thế này có đại yêu mượn tam độc sinh sự, tám thành phía tây nam dịch bệnh hoành hành. Sư Nhạc thân là hậu nhân của Chiêu Hi, phải gánh trách nhiệm. Hi Di không thể không trả lại pháp khí, thả Sư Nhạc rời cung giáng phục đại yêu, điều phục khí đục. Sư Nhạc vừa nhìn đã nhận ra ngay pháp khí này là giả, chất vấn Hi Di, Hi Di ngơ ngác không hiểu, gọi Họa Trang tới.
Họa Trang không tiếc mặt mũi, vào điện xong là quỳ ngay xuống trước mặt Sư Nhạc, kinh hoàng tạ lỗi, lại khóc lóc giải thích: “Là thiếp làm, sau khi ký khế ước với lang quân, thiếp vẫn luôn thấy không khỏe trong người, phải cầu cứu quốc sư, quốc sư nói gương thần bổ dưỡng, có thể mượn gương thần tu luyện một khoảng thời gian để hồi phục nguyên khí. Chuyện này lang quân cũng biết, cũng đồng ý rồi. Nhưng có một hôm khi thiếp đang nhìn gương tu luyện, bỗng xảy ra sơ sót, tu hành mất đi khống chế, khiến gương thần tan vào hồn phách của thiếp, nếu miễn cưỡng lấy gương ra, thiếp chỉ còn một con đường chết. Thiếp thực sự rất sợ, ma đưa lối quỷ đưa đường, mới, mới chế ra một cái giả, nhưng từ đó về sau thiếp cũng ngày đêm lo lắng, hôm nay bại lộ, lòng thiếp vậy mà được yên, xin lang quân ban chết cho thiếp, hồn phách thiếp tan ra, có thể lấy lại gương thần!” Nói rồi cúi đầu chạm đất, quỳ mãi không thôi.
Hi Di cũng không thể thật sự vì chuyện này mà ban chết cho Họa Trang rồi đánh tan hồn phách, im lặng hồi lâu, thở dài một tiếng, xua Họa Trang lui, nói với Sư Nhạc: “Là lỗi của Họa Trang, cũng là lỗi của Cô, nhưng chuyện này đến đây, chỉ có thể tìm phương pháp khác, trong cung khố còn một thanh đao Đoạn Hàn, một cái gương Trùng Quang, một ngọn đèn Tụ Tà, món nào cũng là pháp khí thượng đẳng, nàng dùng trước đi, Cô lập tức hạ chỉ, dốc hết sức mình, tìm cho nàng vật tốt hơn.”
Sư Nhạc mím môi, nhìn chằm chằm Hi Di, rất lâu sau, chợt bật cười: “Bỏ đi, có lẽ đây là kiếp nạn của ta, không cần phiền ngươi như vậy, ngày sau thế nào, xem số phận vậy.”
Ba tháng sau, Sư Nhạc chết trên chiến trường.
Phụng Hành còn chưa tỉnh người: “Cái, cái gì? Sao mà chết trên chiến trường được?”
Tôi nói: “Dù cô ta là hậu nhân của Chiêu Hi, nhưng dù sao cũng chỉ là người phàm, không có Minh Kính Đài bảo vệ, đối mặt với khí đục tam độc, không khác gì lấy trứng chọi đá, chết không phải là thường à?”
“Aiz.” Phụng Hành phủi phủi vỏ hạt dưa trên người, tổng kết, “Vậy chắc chuyện là như thế rồi, cảm nhận của Họa Trang không sai, cô ta đích thực không phải mắc bệnh mà là trúng chú. Sau khi Sư Nhạc chết, oán niệm cực sâu, bèn hạ chú lên người Hi Di với Họa Trang, dù sao cô ta cũng chẳng khác gì bị Họa Trang hại chết, đúng không?” Nó lẩm bẩm, “Vậy bây giờ chúng ta phải tìm, thực tế là hồn của Sư Nhạc à?”
Tôi chiếu lệ nói: “Ừ.” Tuy rằng không tán đồng kết luận vừa rồi của nó lắm.
Đến bước này, gần như có thể chắc chắn, Họa Trang và Hi Di trúng chú Phù Linh, hơn nữa thuật này quá nửa là do Sư Nhạc hạ. Chuyện này tuy rằng phức tạp, nhưng may mà người trên sân khấu không nhiều, không có khả năng cao là còn đầu sỏ khác trốn sau màn sử dụng Phù Linh nữa. Sư Nhạc là người có khả năng cao nhất. Dù sao cô ta trông cũng quá giống tôi, nói chúng tôi không có can hệ gì, ai mà tin chứ.
Rốt cuộc cô ta có quan hệ gì với tôi? Tại sao thiên đạo lại bảo tôi xuống núi tìm cô ta?
Những câu đố này cần tôi giải quyết từng cái một. Chỉ là lúc này, bất luận là trực giác hay lý luận, tôi đều không cho rằng Sư Nhạc vì mất Minh Kính Đài làm mình chết trên chiến trường mới báo thù Họa Trang và Hi Di.
Trong ký ức của Họa Trang, lúc tôi nhìn thấy Sư Nhạc nói với Hi Di cái câu “Có lẽ đây là kiếp nạn của ta”, ánh mắt cô bình tĩnh phẳng lặng, có hoảng hốt thất vọng, nhưng không có oán hận. Tư thế lúc cô nhắm mắt ra đi cũng quyết tuyệt lắm, mang theo một cảm giác tiêu sái đoạn tuyệt hồng trần. Lúc ra đi đã vậy, nên chết rồi hẳn không sinh ra oán hận to lớn nhường này, hơn nữa còn dùng hình thức linh thể thi triển Phù Linh lên người Họa Trang với Hi Di.
Tôi đang suy xét vấn đề này, Phụng Hành đột nhiên nói: “Ấy, làm việc về rồi kìa.”
Mặc Uyên xách theo hộp đồ ăn bước vào, thấy tôi ngồi trên giường, chàng chợt dừng chân: “Tỉnh rồi? Có thấy không khỏe chỗ nào không?”
Chàng hỏi cực kỳ tự nhiên, giống như hai chúng tôi không phải xa cách hai mươi sáu vạn năm không gặp, mà chỉ mới xa nhau hai mươi sáu ngày. Tôi không khỏi sững người, cuối cùng đáp: “Vẫn ổn, không có gì không khỏe.”
“Vậy thì tốt.” Chàng đứng bên cạnh chiếc bàn uyên ương cách đó năm bước chân, đặt hộp đồ ăn lên bàn, ngẩng đầu nhìn tôi: “Vậy qua đây ăn chút đi.” Rồi thuần thục sai bảo Phụng Hành, giống như đã sai bảo nó cả nghìn lần vậy, “Chiếc áo khoác lông hạc đó, ngươi khoác lên cho nàng.”
Nhìn theo tay Phụng Hành, tôi mới thấy chiếc áo choàng trắng như tuyết phủ trên chăn mây, kiểu nam, viền tay áo còn có hoa văn tứ linh thêu bằng chỉ đen. Y phục quy chế như này, không phải ai cũng mặc được.
Phụng Hành nhấc chiếc áo kia lên.
Từ lúc Phụng Hành tỉnh dậy, nó vẫn luôn có thành kiến lớn với Mặc Uyên, vậy mà lúc này lại không hề phản kháng. Tôi mới nhớ ra, trước đây Mặc Uyên từng ở núi Chương Vỹ dưỡng thương một khoảng thời gian. Mấy ngày dưỡng thương đó, tuy rằng chàng không xem mình như chủ nhân của núi Chương Vỹ nhưng lại xem mình như chủ nhân của tôi. Tôi bị chàng quản lý hết sức rõ ràng dễ thấy, càng đừng nói chi tới Phụng Hành. Nhất định là chàng đã sai Phụng Hành làm việc đến cả nghìn lần thật, chẳng trách Phụng Hành nghe lời chàng như thế. Chắc Phụng Hành cũng không ngờ được, quán tính quá mạnh rồi.
Phụng Hành vừa khoác áo cho tôi, vừa bí mật truyền âm, giải thích về chiếc áo khoác này: “Trước đó Người ngất đi, là Mặc Uyên ôm Người về. Hôm đó tuyết lớn, trời vừa đổ tuyết, bên ngoài gió quét rất mạnh, hắn mới khoác thêm chiếc áo này cho Người.”
Tôi cũng bí mật truyền âm cho nó: “Chiếc áo này? Há chẳng phải ba ngày chưa giặt?” Cảm thấy không sao hiểu được, “Chàng yêu sạch sẽ như mạng sống, sao chịu để chiếc áo này đắp lên chăn của ta một lần ba ngày liền được?”
Phụng Hành nhún vai: “Không phải chiếc này, loại áo này hình như hắn có nhiều cái lắm, dù sao mỗi sáng sớm đều sẽ cầm một cái mới sang đây thay cho Người, con cũng cảm thấy hơi bệnh thật…”
Phụng Hành vẫn chưa đủ hiểu Mặc Uyên. Với trình độ ưa sạch sẽ của chàng, không cưỡng cầu một người hôn mê là tôi nhất định phải mỗi đêm tắm rửa xong mới được tiếp tục lên giường mê man, đã có thể coi như không bệnh rồi.
Mặc Uyên đột nhiên hỏi: “Hai người nói gì sau lưng ta đó?”
Tôi và Phụng Hành đồng loạt nhìn chàng.
Chàng đang bày đồ ăn.
Mặc Uyên là u lan núi vắng được Thủy Chiểu Trạch công nhận. U lan, là loại không vướng tục vật. Chàng đúng là như vậy, đừng nói là bày đồ ăn, ngay cả ăn cơm cũng ăn rất ít.
Lúc này thấy chàng làm quen với chén đũa đồ ăn, có phần mới mẻ, tôi nhìn một hồi, trả lời chàng: “Không nói gì cả.”
Chàng bày đồ ăn xong, lại cầm một cái đĩa gắp mấy món đồ ăn cho tôi, mặc kệ tôi qua loa lấy lệ, ừ một tiếng: “Vậy mang giày, qua đây ăn đi.”
Chàng quen kiêng ngũ cốc, không ăn gì không đói chết được, tư chất tôi chẳng thua gì chàng, không ăn gì cũng không đói chết được, nên tôi nói: “Không cần đâu, ta không đói.”
Chàng buông đũa xuống, nhìn tôi một cái: “Nàng không cần ăn, nhưng không phải thích ăn à? Nói ăn được món ngon thì tâm trạng tốt hẳn ra.” Vẻ như đắn đo, “Nàng ăn rồi, tâm trạng tốt lên, hai ta nói chuyện chút.”
Nghe đến cái từ ‘nói chuyện’, tôi lại thấy đau đầu, bất giác giơ tay xoa góc trán.
Xoa được hai cái, nghe chàng nói với Phụng Hành: “Quên lấy rượu trái cây rồi, ngươi đến nhà bếp một chuyến đi.”
Phụng Hành thò đầu nhìn bàn đồ ăn: “Có đồ ăn không có rượu, đích thực không phải bữa cơm ngon.” Nói rồi đi luôn.
Phụng Hành có nhìn ra không, tôi không biết. Nhưng tôi nhìn ra, Mặc Uyên cố ý kiếm cớ đuổi Phụng Hành đi. Ma xui quỷ khiến, tôi không cản nó lại.
Mấy ngày trước, Phụng Hành hỏi tôi, sao phải kháng cự chuyện gặp Mặc Uyên như vậy.
“Sao phải giữ chặt lốt mặt nạ của mình? Mặc Uyên nhận ra Người thì có sao, thế giới cũng có vì vậy mà hủy diệt đâu, nhận ra thì nhận ra chứ.” Lúc đó, nó nhíu mày phát biểu ý kiến đó trước mặt tôi.
Phát ngôn này có hơi nguy hiểm. Tuy rằng từ tận đáy lòng không muốn nói ra tâm sự với nó, nhưng vì để nó khỏi phá hỏng chuyện của tôi, không thể không nói cho nó nghe một chút. Tôi nói: “Trước khi mở cửa Nhược Mộc…”
Nó tiếp lời: “Ừ, lúc đó Người rời khỏi núi Chương Vỹ, ở lại Cô Dao với thần Tổ Thị, không gặp Mặc Uyên từ rất lâu rồi.”
Tôi hít một hơi sâu: “Không có được Mặc Uyên, ta cảm thấy cực kỳ nuối tiếc, còn có phần không cam tâm, thế nên đã bịa rất nhiều lời nói dối trước mặt Tổ Thị, ví dụ như, nói ta và Mặc Uyên đôi lứa yêu nhau, chàng thích ta thích chết đi được, vì ta mà không tiếc thân mình. Hai ta tình cảm vô cùng sâu nặng, đôi bên chia lìa chẳng đặng, ai ngờ số phận trớ trêu, yêu nhau chẳng thể bên nhau thỏa lòng… Toàn là đồn nhảm. Vậy mà Tổ Thị tin như thật, không bao lâu trước đây, đem hết mấy lời đồn nhảm này kể cho Mặc Uyên nghe không sót chữ nào.”
Phụng Hành nghe xong, trầm mặc một hồi. “Đến… đến ngón chân con cũng run rẩy thay Người, quả thực là…” Hiếm có khi nó nói chuyện không mạch lạc như này, cuối cùng, khó khăn hỏi tôi, “Nhưng Người, cũng không thể tránh gặp Mặc Uyên cả đời chứ?”
Tôi lau mặt: “Sao không thể?’
“Được rồi.” Nó thở dài, không xem câu trả lời của tôi là thật. “Thế này,” Nghĩ một hồi, nó ra kiến nghị giùm tôi, “Nếu giấu không được, cuối cùng vẫn để hắn nhận ra Người, Người cứ nói với hắn, chuyện trước khi trùng sinh Người đã quên cả rồi. Cứ nói như đinh đóng cột rằng, phượng hoàng trùng sinh, cũng chẳng khác gì sống cuộc đời mới. Cuộc đời mới, tất nhiên là quên hết chuyện xưa. Quên rồi, không phải có thể không cần đối mặt à? Cứ giả khờ với hắn là xong. Dù sao thế gian chỉ có một con phượng hoàng trùng sinh là Người, hắn không kiểm chứng được!”
Tôi không hề nghĩ thêm xem kiến nghị này của Phụng Hành có khả thi hay không. Bởi vì lúc đó, tôi rất có niềm tin với thuật dịch dung của mình, bụng nghĩ, hơn hai mươi vạn năm trước mà kẻ hèn này bằng chính đôi tay mình đã từng gạt Mặc Uyên không biết bao nhiêu lần, mà nay kĩ năng này càng thêm tinh tấn, há lại thất thủ được sao?
Lúc này ngẫm lại, chợt phát hiện ra, mấy lần trước lừa được Mặc Uyên, không có lần nào Phụng Hành có ở hiện trường, lẽ nào đây mới là nguyên nhân thành công mấu chốt???
Trong điện tĩnh lặng. Cửa sổ mở ra, ngước mắt trông xa, chân trời ráng chiều lấp lóa.
Thấy tôi chẳng chút động đậy cắm rễ mãi trên giường, Mặc Uyên thở dài, bưng tách trà bước qua, ánh mắt quét qua chiếc ghế ngọc trước giường, nhưng vẻ như không thấy, vòng qua nó, ngồi bên mép giường, đưa tách trà trên tay cho tôi: “Không muốn ăn gì cũng được, nhưng uống chút nước đi.”
Trước đó nói chuyện với Phụng Hành nửa ngày, đúng là hơi khát, tôi nhận lấy tách trà, uống một ngụm.
Chàng nói: “Uống thêm nữa đi.”
Tôi không tự chủ được lại uống thêm mấy ngụm, vô thức uống cạn cả nước.
Chàng nói: “Đừng gấp.”
Tôi nói: “Đâu có gấp.” Rồi trả cái tách không cho chàng.
Chàng hơi cụp mắt, cầm cái tách miết giữa mấy đầu ngón tay chơi, một hơi sau, chợt nói: “Chuông Phan Hầu hiện thế, là bút tích của ta.”
Tôi ngạc nhiên ngẩng đầu.
“Nàng chẳng chịu gặp ai, ta cũng hết cách. Nhớ ra nàng thích cái chuông này, cảm thấy có lẽ làm vậy, nàng sẽ xuất hiện.” Nói đến đây, chàng ngước mắt, “Quả nhiên nàng xuất hiện rồi.” Rồi nhìn thẳng vào mắt tôi, “Đêm đó, ban đầu ta đích thực tưởng nàng là công chúa Mi Nhân, nhưng nàng vừa xoay người, đặt búa gõ chuông ở mé bên giá chuông…” Chàng cười, mày mắt lấp lánh hào quang, “Quán Quán, biển rộng nương dâu, hơn hai mươi vạn năm qua rồi, rất nhiều chuyện đổi thay, ví dụ như, trên đời này không có ai đặt búa gõ chuông dưới giá chuông ở góc đó nữa, đó là phép đặt của thời Hồng Hoang. Lúc đó không vạch trần nàng, là vì muốn nói chuyện với nàng thêm một chút.” Thấy tôi không nói gì, chàng tiếp tục nói, “Nàng trốn tránh ta, ta biết, tại sao lại tránh ta, ta cũng có chút suy đoán, nhưng ta sợ ta nghĩ không đúng, nên muốn nói chuyện với nàng, xác nhận lại.”
Tôi không nói gì, là bởi tôi đang ngẩn người. Ngẩn người một lúc, hồi phục tinh thần, trong lòng lại thấy ngổn ngang trăm mối.
Có lúc nghĩ, không ngờ là bẫy giăng ra cho tôi, chúng tôi có gặp nhau không, quan trọng thế à? Chàng hà tất phải làm đến thế! Có khi nghĩ, chàng thông minh tuyệt thế, trong lòng tôi nghĩ gì, tâm phúc của tôi là Phụng Hành đoán không ra, nhưng chàng đoán không ra chắc? Vậy mà chàng vẫn cần tôi xác nhận, có gì hay mà xác nhận chứ? Muốn tôi ở trước mặt chàng nói lại một lượt những lời đồn nhảm đó à?
Đùa à, làm sao tôi phối hợp với chàng được.
Tôi nói: “Không phải tránh chàng.” Kế sách bây giờ, cũng chỉ đành nghe theo kiến nghị của Phụng Hành thôi. “Là như này, ta mất trí rồi.” Tôi nói với chàng bằng chất giọng nặng nề, “Thế nên chúng ta chắc không có gì hay để nói với nhau đâu, nói thật thì, ta còn không biết chàng là ai.” Nhớ lại từ hồi trùng sinh, thực sự tôi và Mặc Uyên nói với nhau chẳng được mấy câu, lúc này vờ như không biết chàng, cũng chưa phải muộn đúng không?
Chàng ngỡ ngàng: “Mất trí?”
Tôi ôm chăn gật đầu: “Đúng rồi. Chàng biết ta là phượng hoàng mà, phượng hoàng trùng sinh, sẽ quên sạch quá khứ.”
Chàng im lặng một hồi, thình lình tự giới thiệu: “Ta tên Mặc Uyên.”
Tôi nói: “Ờ.”
Chàng nói: “Là vị hôn phu của nàng.”
“…” Tôi mỉm cười, “Không phải chứ, Phụng Hành có nói thế đâu.”
Chàng nói: “Phụng Hành không biết, vì chúng ta lén lút yêu nhau.”
Tôi nghẹt cả thở.
Chàng mượn lời bổ sung, xem chừng bùng nổ đam mê sáng tạo: “Từ hồi đi học chúng ta đã yêu nhau, yêu nhau rất nhiều năm, đến lúc sắp cưới, ta bị nàng vứt bỏ.”
Tôi thở dài: “Đừng nói bậy nói bạ nữa.”
Chàng chăm chú nhìn tôi: “Xem ra không hề mất trí nhỉ, Quán Quán.”
Sao tôi lại tin được mấy lời nhảm nhí của Phụng Hành vậy? Nó làm gì có kiến nghị nào hay ho?
Nhanh thế đã bị Mặc Uyên vạch trần rồi, đáng đời tôi.
Tôi dây trán trừng mắt nhìn chàng: “Kêu chị.”
Chàng cười, mắt thường cũng thấy chàng rất vui vẻ, dễ dàng chiều ý tôi: “Chị Quán.”
Nếu đã thẳng thắn như vậy, chuyện gì tới cũng sẽ tới. Nhưng đến ngày nay, tôi mới biết Mặc Uyên lại chấp nhất với việc gặp tôi như vậy. Xuất phát từ nguyên nhân nào mà chàng lại một lòng chấp nhất như vậy, nhất thời, tôi không sao nghĩ cho tỉ mỉ, nghĩ cho sâu sát được, nhưng cũng có suy đoán.
Chúng tôi biết nhau từ rất lâu, quen nhau cũng được bao nhiêu năm rồi, có đôi khi tôi thấy mình hiểu chàng, có đôi khi lại thấy không hiểu. Thực ra có một khoảng thời gian, tôi cảm thấy Mặc Uyên yêu thích tôi, nhưng sau đó lại phát hiện ra một số chuyện khác, khiến tôi không thể không nghi ngờ. Rời khỏi núi Chương Vỹ, ở lại Cô Dao, cách xa loạn thế ấy, cuối cùng tôi cũng có thể nhìn chàng bằng một trái tim thấu suốt. U lan nhập thế, là vì đạo của chàng, trong đạo của chàng không có tôi.
Con người Mặc Uyên, kỳ thực rất đơn thuần, tôi đoán chàng thấy mình phụ tôi, thế nên mới khó lòng buông bỏ cái chết của tôi. Sau này nghe được từ chỗ Tổ Thị mấy lời đồn nhảm đó, phát giác ra tình cảm sâu đậm của tôi đối với chàng, thấy lòng càng thêm áy náy. Trăm phương ngàn kế muốn gặp tôi, tám phần là vì muốn bù đắp cho tôi.
Kỳ thực tôi chưa từng cảm thấy là chàng phụ tôi. Sinh ra trong thời loạn thế, hai chúng tôi mỗi người gánh vác một tộc, tiến về phía trước với trọng trách trên vai, không ai dễ sống hơn ai, cũng không ai nợ gì ai cả.
Huống chi bây giờ, đôi bên đều có cuộc sống mới, chàng sắp lấy người mới, tôi cũng có chuyện bản thân phải làm, đích thực ai cũng không nên bị quá khứ trói buộc nữa.
Thế nên tôi chủ động mở lời, ngăn chàng nhắc lại chuyện xưa, nói: “Chúng ta đừng hoài niệm nữa, chuyện cũ đừng nhắc, đừng có ý kiến gì, ai nấy đều nhìn về phía trước, sau này vẫn làm bạn được, đúng không?”
Thần sắc thả lỏng của chàng như đông cứng lại, hồi lâu, hỏi tôi: “Nghĩa là gì?”
Tôi nghĩ bụng, cứ dây dưa chuyện cũ với ta thế này, chàng không thấy hổ thẹn với vị hôn thê của mình chắc?
Nhưng dẫu sao cũng không thể nói trắng ra như vậy, tôi cân nhắc một chút, khuyên nhủ chàng: “Tuy rằng mối quan hệ giữa chàng và vị hôn thê của chàng cùng với đồ đệ của chàng có hơi vượt xa thế tục, nhưng chung quy cũng là thành thân đường đường chính chính, có lẽ công chúa Mi Nhân không để bụng, nhưng bản thân ta cảm thấy, chàng hẳn nên tận tâm với gia đình nhỏ ba người đó của chàng, mà làm…”
Chàng ngắt lời tôi: “Ai nói ta sắp thành thân với Mi Nhân?”
Tôi nói: “Hả?”
Chàng chau mày: “Đích thực Mi Nhân sắp gả đến gò Côn Luân, nhưng không phải gả cho ta mà là gả cho đệ tử thứ mười sáu của ta là Tử Lan.”
Nói thật thì tôi không hiểu lắm kiểu mẫu gia đình này, thời đại tôi sống không hề có kiểu gia đình này, không biết nên kiến nghị như nào, bất chấp khó khăn khuyên nhủ: “Mặc kệ các người sắp xếp kết hợp như nào, là chàng lấy Mi Nhân hay đồ đệ của chàng lấy Mi Nhân, đều không quan trọng, quan trọng là một nhà ba người các người cũng cần hướng đến sự trung thành, có vậy gia đình nhỏ mới ổn định, lâu dài, hòa hợp được.”
Chàng xanh cả mặt: “Ta với Mi Nhân không có quan hệ gì, với Tử Lan chỉ là quan hệ sư đồ, Tử Lan và Mi Nhân mới là quan hệ vị hôn phu hôn thê truyền thống, rốt cuộc nàng đang nghĩ gì vậy?”
Tôi ngớ người, nói: “Rõ ràng Đông Hoa nói chàng sắp thành hôn, với Mi Nhân. Ta thấy Tử Lan dường như cũng thân mật với Mi Nhân, thế nên Phụng Hành nói, nói…” Tôi không nói tiếp nổi nữa.
Chàng nói: “Hay thật.” Nhưng tôi cảm thấy chàng nói hai chữ này hoàn toàn không phải thật sự cảm thấy hay ho gì. Chàng lại nói: “Ta cảm ơn Đông Hoa, cũng cảm ơn Phụng Hành.” Tôi cảm thấy chàng cũng không phải thật lòng cảm ơn hai người họ.
Tôi không biết nên nói cái gì, im lặng hồi lâu. Chàng cũng im lặng ngồi đó, ngồi một lúc lâu, đột nhiên đứng dậy: “Ta đi tìm Đông Hoa, bảo hắn đích thân giải thích với nàng.” Cũng không giống như bị kích động lắm, bởi vì trước lúc sắp đi chàng còn dặn dò tôi rất mạch lạc rõ ràng, “Phải rồi, chuyện của Sư Nhạc tạm thời nàng đừng làm gì cả, ta đã có manh mối. Chú mà Họa Trang và Hi Di trúng phải khả năng cao là cô ấy hạ, là chú Phù Linh, rất quen thuộc với nàng. Cô ấy hạ chú hẳn là vì một người, nhưng ta chưa chắc chắn trăm phầm trăm được, chẳng qua sẽ nhanh xác nhận được thôi.”
Tôi vội nói: “Đừng… Chàng không cần…” Nhưng người đã biến đi đâu mất rồi.
Tôi nằm ngã ra giường, nhớ lại một lượt từ đầu đến đuôi những lời nói với Mặc Uyên chiều nay, chầm chậm che mặt lại, bụng nghĩ, thế giới này, hủy diệt đi.
Mặc Uyên bỏ đi không lâu, Phụng Hành xách theo bình rượu quay về, bị tôi mắng cho một trận.
Mắng xong, hỏi nó: “Ngươi còn gì muốn nói?”
Nó muốn nói lại thôi: “Con đích thực có lời… nhưng có thể nói thật không?”
Tôi nói: “Nói đi.”
Nó nói: “Là thế này, con nghĩ, nếu đã không phải Mặc Uyên thành hôn mà là đồ đệ hắn thành hôn, vậy chúng ta có phải không cần tặng quà không?”
Tôi nói: “…”
Nó thoắt chốc căng thẳng: “Lẽ nào còn phải tặng?”
Nó tiết kiệm như vậy, tôi còn nói gì được nữa, đành nói: “Ta đích thực không quen đồ đệ chàng, bỏ đi, vậy thì không tặng.”
Mắng Phụng Hành xong, tôi bắt đầu nghĩ tới chính sự.
Phù Linh hiện thế, có người vì nó mà bị hại, ắt có người vì nó mà được lợi. Những lời Mặc Uyên để lại lúc sắp đi, chứa quá nhiều tin tức. Chàng cũng biết Phù Linh, tôi không ngạc nhiên lắm. Chàng từng ở lại Ma cung Linh Cừ một bận, khó tránh lúc đó đã phát hiện ra bí mật của Khánh Khương. Nhưng chàng nói Sư Nhạc hạ chú này là vì một người. Há chẳng phải nói, người được lợi sau khi hạ chú Phù Linh lên người Họa Trang và Hi Di hoàn toàn không phải Sư Nhạc?
Nghe ý Phụng Hành, mấy ngày này Mặc Uyên ngoại trừ săn sóc tôi ra, chàng chỉ đi một chuyến vào biển ý thức của Họa Trang. Nếu là vậy, những gì chàng thấy hẳn không khác gì tôi, làm sao có thể rút ra chuyện quan trọng bậc này? Lẽ nào kiếp đó Mặc Uyên cũng nhập phàm, quen biết Sư Nhạc? Nhưng nếu như chàng quen biết Sư Nhạc, vậy tất nhiên cũng biết vướng mắc giữa Sư Nhạc và Họa Trang với Hi Di, lại hà tất phải vào biển ý thức của Họa Trang một vòng mới tới nói với tôi chuyện Sư Nhạc chàng đã có phương hướng?
Chuyện này chỉ dựa vào tôi đoán hình như cũng đoán không ra được đáp án, vẫn là đợi Mặc Uyên về, nghe xem chàng nói sao đi.
Phụng Hành hỏi tôi, tiếp theo đây, chúng ta nên làm gì.
Muốn dùng Phù Linh cướp đoạt linh lực và sinh khí cho mình sử dụng, không phải hạ chú đối phương là xong, mà còn cần tìm một động thiên phúc địa chu vi trăm dặm để bày trận, dùng trận này tịnh hóa linh lực rời khỏi ký chủ. Sinh khí và linh lực rời khỏi ký chủ được đại trận thanh tẩy, rồi được chủ nhân mới thu nạp ngay là tốt nhất, bằng không dễ xảy ra tương kỵ với chủ mới. Hơn nữa, cũng không phải nơi có linh lực phồn thịnh nào cũng có thể làm nơi bày trận, phải là nơi có ngũ hành tương hợp với người bị thi chú mới xong.
Vì lý do này, nếu chú Phù Linh trên người Họa Trang và Hi Di thật sự do Sư Nhạc vì ai đó thi phép, vậy muốn tìm cho ra người hưởng lợi này, không khó. Đi xem địa đồ bí mật của tộc Tương Di, tra xem xung quanh đây có động thiên phúc địa nào, rồi lại lấy sinh thần bát tự của Hi Di và Họa Trang ra tính ngũ hành, đối chiếu với những nơi phúc địa đó, gần như có thể tìm ra được nơi đó ở đâu. Tìm ra phúc địa đó rồi, đương nhiên có thể tìm được người hưởng lợi từ chú Phù Linh. Tìm được người hưởng lợi từ chú Phù Linh, cũng cách việc tìm được hồn Sư Nhạc không bao xa nữa.
Phụng Hành nghe xong, bất giác gật đầu, “Như vậy, là phải đi mượn địa đồ bí mật của tộc Tương Nghi xem qua rồi.”
Với tư cách là tâm phúc của tôi, tuy Phụng Hành thường rất hay đoán không ra tôi nghĩ cái gì, không phải một tâm phúc đạt chuẩn, nhưng nó đương nhiên không phải thiếu kiến thức, vừa thốt ra xong bèn lúng túng ngay: “Địa đồ bí mật là cơ mật của cả tộc, năm đó Dao Cơ mất Khổ sơn, cũng vì địa đồ bí mật của Khổ sơn lọt ra ngoài. Thân phận thực sự của Người là Ma tộc, thân phận người đang được Người đóng giả thuộc Yêu tộc, bất luận dùng thân phận nào đi mượn địa đồ Thần tộc bọn họ, hẳn đều mượn không được còn gì?”
Tôi đồng ý cách nghĩ của nó, bổ sung thêm: “Đúng, một Thần tộc đúng chuẩn, chẳng những không cho ta mượn, mà phàm là có độ mẫn cảm chính trị một chút, nhất định sẽ bắt ta lại, sau đó báo chuyện này lên Cửu Trùng Thiên.”
Phụng Hành mặt ủ mày chau: “Vậy phải làm sao?”
Tôi nhìn nó, thực hận rèn sắt không thành thép, một Ma tộc như nó, sao lại thật thà thế nhỉ?
Tôi mở cho nó một con đường sáng: “Chuyện này chúng ta làm không được, nhưng Mặc Uyên, với tư cách là tôn thần của Thần tộc, muốn xem địa đồ Phan Hầu, ai dám không cho? Thế nên tiếp theo đây cứ để Mặc Uyên ra mặt, dù sao hình như chàng cũng thích làm việc, hai ta đợi thôi đủ rồi.”
Phụng Hành mở to mắt, thừ người, cuối cùng không thể chấp nhận hai chúng tôi cứ há miệng chờ sung kiểu này, nghĩ hồi lâu, kiến nghị: “Nói thế, thực ra có một cách làm được, Tổ tông Người có thể dịch dung thành Mặc Uyên đi mượn tộc trưởng Tương Nghi địa đồ đó mà! Chúng ta có phải không có tay có chân đâu, làm gì còn phải dựa vào Mặc Uyên thật chứ!”
Tôi thực sự không sao hiểu được, chuyện này nếu Mặc Uyên có thể làm được, chàng lại chịu làm, tại sao không nhường cho chàng làm? Tôi còn mạo hiểm giành với Mặc Uyên làm gì? Giành thắng sẽ có phú quý ngập trời gì chờ đón tôi không?
Tôi hỏi Phụng Hành: “Ngươi thật sự ở không lắm à?”
Nó nói: “Cũng hơi hơi.”
Tôi biến ra kim chỉ và cái khay đan đưa nó: “Vậy chi bằng ngươi ngồi xuống khâu đế giày chút nhé?”
Phụng Hành: “…”
Phụng Hành uất ức ngồi bên song cửa khâu đế giày, tôi dựa vào đầu giường đọc sách, quyển tôi đọc chính là quyển <Từ thần kỷ cũ đến thần kỷ mới — Những tiến bộ trong kỹ thuật diễn tấu chuông nhạc>, đọc đến trang cuối cùng mới biết, sách này hóa ra là do Huyền Minh viết.
Thế đạo ngày nay, sách lịch sử có tầm ảnh hưởng nhất không phải do Sử Lục Ti biên ra, mà là do tên Chiết Nhan có sở thích đọc thoại bản tình yêu kỳ ảo viết. Sách nhạc lý được ưa chuộng nhất cũng không phải do Lễ Nhạc Ti soạn, mà là do tên mù nhạc Huyền Minh biên… Cảm thấy trên phương diện giáo hóa chúng sinh, bọn chúng không thể có chút tương lai nào sáng sủa được.
—
[1] Ờm, chính là “bạch nguyệt quang (ánh trăng sáng)” và “chu sa chí (nốt chu sa/nốt ruồi son)” hết sức phổ biến ngày nay =)), vốn là không cần chú thích, cơ mà tại sao tôi vẫn chú?
Xuất xứ của “ánh trăng sáng” và “nốt ruồi son” (ờm, theo cách dịch của tôi), nghe-bảo là xuất phát từ truyện <Hồng Nhung và Hồng Bạch> của Trương Ái Linh, nguyên văn như sau: “Có lẽ mỗi một người đàn ông trong đời đều có hai kiểu phụ nữ đến bên, ít nhất là hai người. Lấy đóa hồng nhung, rồi lâu thật lâu sau, hồng nhung trở thành vệt máu muỗi trên tường, còn hồng bạch vẫn là ‘ánh trăng sáng đầu giường’; mà chọn hoa hồng bạch, hồng bạch lại biến thành hạt cơm dính trên quần áo, khi đó hồng nhung lại là nốt ruồi son giữ mãi trong tim”.
Với hình tượng ánh trăng sáng đầu giường, ánh trăng sáng chỉ một người mà ta khao khát nhưng không tài nào sở hữu được, tượng trưng cho mối tình trong mơ của mỗi người, có thể khao khát nhưng không thể nắm bắt. Nốt ruồi son lại chỉ người mình từng sở hữu nhưng lại bỏ lỡ nhau, để lại một dấu ấn trong tim về một mối tình đã quá, là tình yêu mãi mãi khắc ghi, mang lại đau khổ nhưng khó lòng quên được. Tóm lại, về mặt hình ảnh, ánh trăng trên cao thì không với tới, nốt ruồi son thì không thể xóa nhòa.
Nói nhiều thế chỉ để giải thích tại sao tôi chọn giữ cụm từ ‘ánh trăng sáng’ và chọn dịch ‘chu sa chí’ là nốt ruồi son thay vì tìm một cụm tương đương khác dễ hiểu hơn mà không cần chú thích, vì 1 là bây giờ hai cụm này khá phổ biến trên mạng, 2 là muốn giữ lại hình ảnh tượng hình của ánh trăng với nốt ruồi, nhưng lại sợ cách hiểu của mọi người khác nhau nên phải bê nguyên văn về mà chú thích.
[2] Minh Kính Đài: Đài gương sáng. Ờm, cô Thất về sau rất thích lôi từ ngữ Phật giáo vào truyện. Để không phụ lòng cổ, như thời BSL, tôi vẫn chú thích những thuật ngữ này =)). Nghĩa của Minh Kính Đài thực ra khá giản dị, chỉ là cái gương sáng để soi lòng người học Phật. Cô Thất đưa vào đây hoặc là đưa cho vui như cô ta vẫn thường đưa Phật ngữ vào, còn nếu không thì công dụng của cái gương này chắc ngoài soi rõ khí đục (khí đục vs gương sáng). Là nghĩa nào đợi theo dõi tiếp.
Còn chuyện liên quan đến Phật tích là đây. Minh Kính Đài rất-có-khả-năng liên quan đến hai bài kệ nổi tiếng của Thiền Tông. Về tác giả cũng như xuất xứ của hai bài kệ này thì nhiều quan điểm tranh cãi quá, không nên chú cái này. Chỉ trích lại hai bài như sau:
Bài 1: Thân thị bồ đề thụ, tâm như minh kính đài, thời thời cần phất thức, vật sử nhạ trần ai. Bản dịch như này: Thân như cây bồ đề, lòng như đài gương sáng, cần mẫn lau mỗi giờ, chớ để cho bụi bám.
Bài 2: Bồ đề bổn vô thụ, minh kính diệc phi đài, bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai? Tạm dịch như này: Chẳng có cây bồ đề, đài có đâu gương sáng, vốn chẳng có vật gì, sợ chi mà bụi bám.
