TAM SINH TAM THẾ – BỒ ĐỀ KIẾP
Chương 10
Dịch (láo): A Tĩnh
#tamsinhtamthe #bodekiep
—
Ôm theo Minh Kính Đài mặt mày lem luốc chui ra khỏi động Nhật Ngự, tôi trông thấy Kim Trản, Ngân Bàn đang nhóm lửa nướng thỏ hoang bên ngoài.
Kim Trản trông thấy tôi trước: “Thiếu cốc chủ, Người về rồi.”
Ngân Bàn cũng trông thấy tôi, lập tức vứt xiên thịt nướng trên tay xuống, xách theo ấm trà vui vẻ chạy qua: “Thiếu cốc chủ, lần này Người về sớm thế, mệt lắm rồi đúng không, Người uống trà trước đi!”
Động Nhật Ngự là động phép thông với các phàm thế khác, phàm thế tôi đến lần trước có thời gian trôi qua cực chậm, ở bên đó nửa tháng, về đây đã là một năm sau rồi. Phàm thế tôi đến chuyến này trôi qua với tốc độ giống với chỗ chúng tôi, tuy rằng rề rà ở bên kia hai tháng, nhưng dưới góc nhìn của Kim Trản với Ngân Bàn, đích thực tôi về có thể coi là sớm.
Ngồi xuống cạnh bên đống lửa, có sẵn trái cây khô bọn họ mang theo lên núi, uống nửa ấm trà, cuối cùng cũng tỉnh táo hơn một chút. Tôi hỏi họ: “Sao chỉ có hai em ở đây đợi ta, Linh Lộc đâu?”
Ngân Bàn hí hửng nói: “Tam tiểu thư tự tìm cho mình một mối hôn sự, kiệu hoa đón dâu của Linh Trạch Môn ba ngày trước rước cổ đi rồi!”
“Hả?” Tôi thong thả đặt chén trà xuống, tự tiêu hóa một lát, nhìn về phía hai người họ, “Chuyện này, di mẫu di phụ ta biết không?”
Kim Trản gật đầu: “Cốc chủ gửi thư lên thượng kinh chẳng bao lâu, Ôn hầu gia đã đến cốc Tứ Vọng. Hầu gia kịch liệt phản đối, nói hôn sự của đại gia tiểu thư đều vâng lệnh cha mẹ, nghe lời mai mối. Tam tiểu thư là một cô gái, hôn sự tự cô phải ra mặt nghị hôn với đằng trai mới có, danh không chính ngôn không thuận, rất không giống ai, ông không thừa nhận. Còn buông lời cay độc, nói nếu tam tiểu thư cố chấp muốn gả, hai người cắt đứt quan hệ cha con.”
Tôi nói: “Điểm này di phụ phản đối không được đâu, nói câu thật lòng, người phàm tục bọn họ tuy rằng chú trọng lệnh của cha mẹ, lời của mai mối, nhưng giới tu chân chúng ta không xem trọng cái này.”
Ngân Bàn chen mồm, mắt sáng long lanh: “Đúng đúng, thế nên tiểu thư chả buồn ngó tới hầu gia, cũng đập bàn buông lời cay độc, nói cắt thì cắt, từ hồi chưa đến một tuổi cô đã đến cốc Tứ Vọng, phủ Trường Dương Hầu chưa từng nuôi cô, còn đòi cô sau này trở về liên hôn với những nhà quyền quý, không có cửa đâu, hôn sự của cô cô tự quyết!”
Tôi nghẹn họng, bình luận hết sức khách quan: “Thôi tốt nhất vẫn đừng nên cắt… Phủ Trường Dương Hầu tuy rằng không nuôi con bé, nhưng năm nào cũng gửi cho không ít bạc vàng, một năm con bé có thể may hai trăm bộ váy áo, còn cho ta may hai trăm bộ váy áo, toàn nhờ ánh sáng của phủ Trường Dương Hầu chiếu cho.”
Ngân Bàn không tán thành cách nói của tôi, rung rung nắm đấm: “Thiếu cốc chủ, Người không cần nâng chí khí người khác mà diệt oai phong của mình! Chúng ta có nghèo đâu, cốc chủ với Người, một người là đại y tiên, một người là tiểu y tiên, một lần chẩn bệnh, có thể thu về vạn lượng vàng, chúng ta cũng lắm tiền mà!”
Tôi nói: “Cái ‘vạn lượng vàng’ đó không phải đều đem ra cho ngoại môn đệ tử khám từ thiện cả rồi à?”
Hai nha đầu và tôi đồng loạt thở dài: “Haiz, kiếm được nhiều, tiêu càng lắm!”
Kim Trản bổ sung thêm: “Thiếu cốc chủ cũng đừng lo lắng về quan hệ cha con của hầu gia và tam tiểu thư, số mệnh tam tiểu thư có nạn mới bị hầu gia đưa đến chỗ chúng ta lánh nạn, không phải bị hầu phủ bỏ rơi, bất đắc dĩ mới phải gửi nuôi chỗ này. Vợ chồng hầu gia yêu thương tam tiểu thư như nào, chúng ta đều thấy rõ. Tuy rằng tam tiểu thư phẫn nộ buông lời cay độc, lúc ấy hầu gia cũng thực sự giận đến run người, phẩy áo bỏ đi, nhưng không bao lâu sau vẫn sai người đưa sang đồ cưới hậu hĩnh. Hơn nữa, biết chỗ tam tiểu thư gả tới là một môn phái tu chân, đồ phàm tục chắc không được đối phương xem trọng, còn vơ vét rất nhiều bảo vật pháp khí thêm vào đồ cưới, chỉ là không đích thân đến đưa dâu thôi.”
Tôi cầm que cời lửa gẩy vào đống lửa, nói: “Quậy đến mức này, còn chuẩn bị đồ cưới cho, đã được lắm rồi.” Tôi hỏi Ngân Bàn, “Em xem thịt thỏ này có phải ăn được rồi không?”
Ngân Bàn ngoẹo đầu quan sát một lát, tuyên bố: “Ừ ừ, nướng thêm nửa nén hương nữa đi!”
Thế gian có trăm vạn phàm thế, phàm thế chỗ chúng tôi có thể xem là linh mạch tương đối dồi dào, linh khí khá là phồn thịnh, thế nên người tu chân cũng kha khá nhiều. Tôi từng đi qua rất nhiều phàm thế, những phàm thế đó cũng có người tu chân, nhưng ai nấy vốn dĩ đều nhốt mình trong thâm sơn cùng cốc họp bầy tự vui, không giống với chỗ chúng tôi đây, có tu chân giới, to to nhỏ nhỏ gồm khoảng trăm môn phái, bảy đại môn phái có thế lực lớn nhất họp thành liên hiệp tu chân, tự quyết chuyện của tu chân giới. Những phàm thế nơi tôi đi qua ấy, cũng có thể có liên hiệp võ lâm, tự quyết chuyện đấu đá giang hồ, cũng tài giỏi lắm.
Cũng không phải có ý nói chỗ này của chúng tôi không có liên hiệp võ lâm.
Ở phàm thế này, trung nguyên đại lục thích hợp cho người ở nhất, vừa có vương triều trung nguyên oai phục bốn biển, lại có liên hiệp tu chân không hỏi sự đời, cũng có liên hiệp võ lâm thường xuyên đấu đá. Tóm lại là rất náo nhiệt. Vương triều trung nguyên chiếm cứ toàn bộ đất đai và thị dân đại lục, liên hiệp tu chân chiếm cứ toàn thể linh mạch và linh khí đại lục, liên hiệp võ lâm chiếm cứ hết thảy… mộng tưởng và nghĩa khí đại lục, cơ bản là ai nấy đều không có xung đột lợi ích, cho nên nhiều năm nay vẫn chung sống hòa bình.
Một người, nếu như sinh ra ở phàm thế của chúng tôi, tương lai của người đó có thể có nhiều lựa chọn hơn một chút. Nếu như người đó có linh căn, có thể tu tiên, hơn trăm môn phái tu chân thể nào cũng tìm được một nơi lăn lộn. Nếu như không có linh căn, có thể thi khoa cử. Khoa cử thi không đậu, còn có thể lăn lộn giang hồ. Chẳng qua những đường đua này đều có tính độc quyền, cũng tức là, một người, không thể vừa tu tiên, vừa thi khoa cử, lại vừa lăn lộn giang hồ. Làm vậy, chính là phá hoại quy tắc. Thế nên từ xưa đến nay rất khó có gia tộc nào, hoặc dã môn phái nào, có thể lăn lộn thành công ở cả ba lĩnh vực này. Nhưng cũng không phải không có. Nhà họ Sư ở cốc Tứ Vọng chúng tôi có thể coi là ngoại lệ.
Đạo lý đơn giản lắm. Không cần biết là làm chính trị, hay lăn lộn giang hồ, đều là người cả. Cho dù có tu tiên nhưng dẫu sao vẫn chưa thành tiên, cũng là người. Là người đều mắc bệnh, bệnh vào cần khám bệnh. Cốc Tứ Vọng được xưng là cốc y tiên, họ Sư chúng tôi chữa bệnh vào đời, nhiều đời hành y, chuyên trị các bệnh đáng ngờ khó trị. Bất kể là người đi trên con đường nào, chỉ cần là bệnh mà y sư đời thường khám không ra, cuối cùng đều phải tìm đến chỗ chúng tôi.
Nhưng khám bệnh cho người thực ra chỉ là sự nghiệp bên lề của nhà họ Sư.
Sự nghiệp chính của chúng tôi, nghe ra thì hơi thần kỳ ảo diệu.
Nghe đồn phàm nhân không phải vừa sinh ra đã ở nơi phàm thế, thuở ban sơ, người phàm tạp cư nơi thượng giới với tiên ma, nhưng người phàm quá mức nhỏ yếu, lúc nào cũng phải làm bia đỡ đạn trong trận chiến của tiên ma, vì để người phàm không đến nỗi diệt vong trong chiến tranh giữa hai tộc, vua của tộc Người là Đế Chiêu Hi dẫn theo người phàm đến nơi phàm thế.
Nhưng phàm thế cũng có vấn đề của phàm thế. Phàm thế có rất ít linh khí, khó thể tẩy sạch lòng tham, sân hận, ngu si của chúng người phàm. Ba loại độc này tích tụ nhiều sẽ mang lại tai ương cho thế giới. Chúng thần tiên thế là nghĩ ra một cách, tạo ra một bí cảnh thu nạp những khí đục này.
Bí cảnh đó rất hoàn mỹ, nhưng dẫu sao trăm vạn phàm thế tình huống rối ren, có thể có những khí đục khác thoát khỏi tuần tra của bí cảnh. Thần tiên lại không thể thường ở phàm thế mà săn lùng những khí đục ấy. Thế nên vua của loài người là Đế Chiêu Hi đã trích ra một giọt máu, một khúc xương của mình, để lại huyết mạch đời sau ở phàm thế xử lý khí đục tam độc thoát khỏi pháp nhãn của thần tiên, chưa bị thu nạp điều phục.
Họ Sư, chính là huyết mạch mà vua của loài người để lại phàm thế.
Mang theo Minh Kính Đài tới lui các phàm thế để điều phục khí đục tam độc chính là sự nghiệp chính của người nhà họ Sư.
Tôi là truyền nhân đời này của họ Sư, hôm qua vẫn đang ở một phàm thế khác xử lý khí đục tam độc nơi đó. Đây chính là lần thứ hai tôi đơn độc hành sự, trước đây đều đi cùng với mẹ tôi. Mẹ tôi là truyền nhân đời trước, đến khi tôi tròn mười lăm tuổi đúng lúc có thể chính thức kế thừa Minh Kính Đài, mẹ tôi lập tức về hưu ngay. Thế nên mẹ dạy tôi rằng, nếu muốn sớm ngày về hưu, có thể cưới sớm đẻ sớm, giống như mẹ vậy. Để sớm ngày có được người kế tục, vừa tròn mười sáu mẹ đã chạy ra khỏi cốc tóm lấy một tên xui xẻo, sinh tôi ra trên đời.
Tên xui xẻo mà mẹ nói chính là cha tôi. Cha tôi lúc ấy là Phật tử ở một chùa có tiếng, nghe đâu có tuệ căn có thể thành thánh. Không ngờ bị mẹ tôi tóm lấy đẩy ngã, phá giới luôn. Nhưng cái này cũng không trách mẹ tôi được, mẹ tôi từ nhỏ đã sống trong cốc Tứ Vọng, mỗi ngày nếu không phải nghiên cứu y thư thì là nghiên cứu pháp thuật thu phục tam độc, không có thời gian học thường thức. Phải đến khi mang thai tôi, dưới tình huống cơ duyên xảo hợp, mẹ mới biết hóa ra hòa thượng không thể sinh con với người khác. Nhưng làm cũng đã làm rồi, có thể tính sao, mẹ tôi vô cùng áy náy, tìm đến ngôi chùa thiêng mà cha tôi xuất gia, vừa đền tiền vừa xin lỗi. Nể mặt mẹ tôi thực sự rất vô tri, thái độ hối lỗi lại thành khẩn, Phật Tổ và cha tôi không thể không tha thứ cho bà. Chính bởi nguyên nhân này, mẹ tôi tương đối xem trọng việc giáo dục thường thức cho tôi.
Đương nhiên, tôi không hề học theo mẹ tròn mười sáu tuổi đã rời cốc cướp người, không chỉ vì tôi có thường thức mà còn vì tôi đã hứa hôn từ nhỏ, là người đã có vị hôn phu, cho dù cảm thấy cướp dâu rất ngầu, rất bản lĩnh, cũng không thể nào làm như thế thật, dẫu sao cũng không thể bất chấp luân lý đạo đức.
Ngẫm lại thì, năm nay tôi mười tám tuổi, có hôn ước trói buộc, không thể cưới sớm đẻ sớm, nhưng em họ tôi Ôn Linh Lộc mới mười sáu tuổi, sắp tới đây phải cưới sớm đẻ sớm, thật đúng là thế sự vô thường. Nhưng trong ký ức, em họ tôi dường như cũng không phải kiểu người ghét cưới gả.
Tôi bồn chồn hỏi Kim Trản và Ngân Bàn: “Chúng ta và Linh Trạch môn xưa nay không có giao tình, sao Linh Lộc đột nhiên lại muốn gả vào Linh Trạch môn vậy? Đúng rồi, con bé lấy ai?”
Kim Trản xé một cái đùi thỏ đưa qua cho tôi: “Dưới gối của môn chủ Linh Trạch môn có một vị công tử, vừa rồi trúng phải độc lạ. Tuy rằng Linh Trạch môn chẳng có giao tình với chúng ta nhưng có giao tình với Chi Sơn lão nhân. Thế nên Thôi môn chủ đã thông qua Chi Sơn lão nhân đưa Thôi công tử đến cốc chúng ta. Vì tam tiểu thư giỏi dùng độc, cốc chủ nhà ta bèn giao người cho tam tiểu thư. Tam tiểu thư ra tay giúp Thôi công tử giải độc, một mối giai duyên kim ngọc thế là thành. Đúng rồi, Thôi công tử đó là một đấng anh tài, nghe nói tuổi còn tre trẻ đã chiếm được một ghế trong giới tu chân, người đời xưng tụng là Kiếm Đảm Cầm Tâm – Thôi thiếu quân, không biết thiếu cốc chủ đã từng nghe nói chưa?”
Đương nhiên chưa từng. Tôi vừa chập chững biết đi thì đã bị mẹ tôi mang theo đến các loại dị giới xử lý khí đục tam độc. Mơ màng mờ mịt lớn đến năm mười tám tuổi, hơn phân nửa thời gian được dùng để xử lý tam độc ở những phàm thế đó, chưa đến nửa thời gian còn lại thì ở cốc Tứ Vọng học y, chẳng thảnh thơi đâu mà lo chuyện tu chân giới. Nói đến Linh Trạch môn, chỉ biết đó là môn phái đứng đầu giới tu chân, trong môn phái có một tay cự phách nửa bước thành thần — Trùng Minh quân Bách Lý Tuế Hàn. Còn việc Thôi môn chủ bọn họ đã có đạo lữ, đạo lữ còn sinh cho y một đứa con trai, cũng phải đến hôm nay tôi mới biết.
Tôi rắc lên đùi thỏ một ít thì là, thành thật trả lời Kim Trản: “Chưa từng nghe qua Thôi thiếu quân, chỉ biết môn phái bọn họ có người nửa bước thành thần là Bách Lý Tuế Hàn.”
Ngân Bàn bưng một đĩa ớt nhỏ ghé mặt qua: “Bách Lý Tuế Hàn em cũng biết! Trùng Minh quân Bách Lý Tuế Hàn, chàng trai mạnh nhất giới tu chân! Ai mà chưa từng nghe danh y chứ!” Không quên giới thiệu cho tôi, “Thiếu cốc chủ, thêm ít ớt đi, ngon lắm!”
Tôi nghe lời con bé thêm ít ớt, cảm thấy cũng được.
Vừa rồi mới nói, mẹ tôi tương đối xem trọng việc dạy dỗ thường thức cho tôi, thế nên từ năm năm tuổi đã có thầy dạy tôi môn thường thức, dạy tôi ra khỏi núi ăn gì của ai cũng phải trả tiền, gặp được hòa thượng nào đẹp trai cũng không được cướp về đây gì đó. Bây giờ nghĩ lại, người thầy này của tôi chắc cũng rất sùng bái Bách Lý Tuế Hàn, bởi vì trừ thường thức ra, bà còn kể tôi nghe không ít chuyện của Bách Lý Tuế Hàn.
Nghe nói, Bách Lý Tuế Hàn chính là đệ tử quan môn được người đức cao vọng trọng nhất giới tu chân là Nguyên Huy Chân Nhân thu nhận dưới núi. Ba tuổi nhập đạo, không bao lâu sau giác ngộ, bế quan ẩn tu cùng với Nguyên Huy Chân Nhân. Mười một năm sau, lần đầu lộ diện trong cuộc so tài giữa trăm môn phái của tu chân giới.
Trăm phái so tài là việc trọng đại của giới tu chân, mười lăm năm một lần, chẳng những tạo cơ hội cho người mới hiển lộ tài năng mà còn là khảo hạch xem bảy đại môn phái có đủ tư cách tiếp tục thống lĩnh liên hiệp tu chân nữa hay không — phải có môn nhân trẻ tuổi lao lên mười hạng đầu trong cuộc so tài đó, bảy đại môn phái mới có thể giữ được địa vị trong liên hiệp tu chân của mình. Thế nên lần nào so tài, bảy đại môn phái cũng đều phái ra đệ tử ưu tú nhất.
Năm ấy, Linh Trạch môn phái Bách Lý Tuế Hàn. So tài xong, mọi người đều cảm thấy có phải Linh Trạch môn đến để quậy võ đài không. Bởi vì bất kể là hạng mục nào, Bách Lý Tuế Hàn đều dẫn đầu với khoảng cách nhảy vọt, đến mức cách người hạng hai phải thêm trăm kẻ hạng hai.
Một thiếu niên mười bốn tuổi, lần đầu lộ diện trong giới tu chân đã làm mới hoàn toàn số liệu so tài gần vạn năm qua liên hiệp tu chân gìn giữ. Không thể làm mới đến vạn năm trước, là bởi vì vạn năm trước giới tu chân còn chưa có trăm phái so tài. Thiên phú tu tiên bậc này thực sự hiếm thấy, cả giới tu chân đều rúng động. Mọi người hớt hải bảo nhau, ngóng xem thiên tài chưa xuất thế này sẽ khuấy đảo phong vân giới tu chân như nào.
Ai ngờ rằng anh trai chẳng chút hứng thú gì với chuyện khuấy đảo phong vân, so tài kết thúc bèn về ẩn cư. Một lần ẩn cư là ẩn hết bảy năm. Bảy năm sau, kiếp đăng tiên của y giáng xuống sau núi Linh Trạch môn, cần biết sư phụ y là Nguyên Huy Chân Nhân tu hành đến chín trăm bốn mươi chín năm mới tu đến kiếp nạn này. Lúc ấy có lời đồn đại, nói rằng Trùng Minh quân Bách Lý Tuế Hàn hẳn là thần tiên hạ phàm lịch kiếp, bằng không làm sao mới hai mươi mốt tuổi đã nghênh đón kiếp nạn đăng tiên, nửa bước thành thần.
Nửa bước thành thần, ý nói còn thiếu nửa bước mới được thành thần, chứng minh kiếp đăng tiên đó y còn chưa vượt qua được.
Tại sao vượt không qua? Chuyện này thầy tôi từng nhắc qua với tôi rằng, không thể nói y không vượt qua được, vốn dĩ còn chưa trải qua mà — Bởi vì kiếp đăng tiên thượng thiên giáng xuống cho y là tình kiếp, nhưng y tu đạo vô tình, đạo vô tình mà tu đến bước như y, tình căn đã bị luyện đến xem như mất sạch, động lòng vì một cô nương, nếm trải khổ sở ái tình, với y mà nói chắc khó bề tưởng nổi. Các cô nương thực ra rất vui lòng cùng y độ kiếp, nhưng chính bản thân y dường như thấy kiếp đó rất phiền, trông điệu bộ chẳng có gì là muốn vượt, dứt khoát bế tử quan luôn. Vào bảo động, bế tử quan, làm sao vượt tình kiếp? Rõ ràng là bất mãn với sự sắp đặt của thượng thiên, không muốn tiếp chiêu nữa.
Thầy tôi lúc ấy vô cùng nuối tiếc, nói: “Ông trời thật là thiếu đức, người ta tu đạo vô tình, bảo người ta trải qua tình kiếp là sao? Nhưng Trùng Minh quân một mực kháng cự cũng không phải cách, làm vậy y sẽ không có cách nào đột phá, kiếp này chỉ có thể dừng lại ở vị trí nửa bước thành thần.”
Tôi không cảm thấy cái này thì có gì đáng tiếc, bởi vì nghe nói vạn năm qua đến giờ, giới tu chân chỉ có hai người tu đến bước giáng kiếp đăng tiên, một người là anh trai này, người còn lại là Nguyên Huy Chân Nhân sư phụ của anh trai này năm ngoái đã thực sự đăng tiên. Cũng tức là nói, trước mắt, trong toàn thể đại lục này, anh trai đây là sự tồn tại gần với thần duy nhất. Bản thân đã bước cao đến bước này, có thành thần không thì cũng có sao đâu?
Thầy tôi nói: “Cũng không thể nói vậy được, lỡ như thành thần là mộng tưởng của Trùng Minh quân thì sao, ông trời đối xử với y như vậy, há chẳng phải vô cùng tàn nhẫn?”
Lúc ấy tôi mười lăm tuổi, giơ tay lên hỏi thầy: “Mộng tưởng là gì?”
Thầy tôi nghẹn họng, lặng lẽ nhìn tôi, hồi lâu, xa xăm thở dài một tiếng, nói: “Ông trời cũng tàn nhẫn với con quá.” Chúng tôi kết thúc đối thoại tại đây.
Đây là chuyện xảy ra ba năm trước.
Trăng núi lờ mờ, đêm thâu tĩnh mịch.
Tôi, Kim Trản, Ngân Bàn, ba người vây quanh đống lửa gặm hết cả con thỏ nướng. Tôi lau sạch tay, nghĩ ngợi, nói với Kim Trản: “Chờ ta ngủ dậy, sau đó đến Linh Trạch môn thăm Linh Lộc, đáng lý ra con bé sẽ không tự ý lấy chồng trong lúc ta còn chưa trở về, có thể còn có ẩn tình gì đó…”
Kim Trản, Ngân Bàn đều không cảm thấy còn có ẩn tình gì. Ngân Bàn cười ha hả: “Tam tiểu thư rất thích Thôi cô gia, bấy giờ là ngày lành, nói bỏ lỡ thời gian là phải đợi thêm ba năm nữa, cho nên hôn sự mới gấp gáp như vậy.”
Kim Trản cũng nói: “Ngày mai chính là ngày tam tiểu thư và Thôi cô gia xong việc kết hôn, bảy ngày sau hai người họ sẽ khởi hành hồi môn. Nếu thiếu cốc chủ thấy không yên tâm, đợi ngày tam tiểu thư hồi môn về cốc hỏi cho cặn kẽ xem thế nào? Nói ra thì, cốc chủ đến núi Thanh Mang hái thuốc, không tới một tháng không về kịp, lúc ấy cũng cần thiếu cốc chủ chủ trì tiệc thăm nhà nghênh đón tam tiểu thư về nhà mẹ đẻ.”
Tôi nói: “Em không cần giấu thay cho mẹ, có phải vì mẹ không biết làm sao để chủ trì tiệc thăm nhà này mới sủi mất tăm?”
Kim Trản nói: “Ấy…”
Mẹ sủi rồi. Tôi không thể sủi luôn. Này chính là chỗ xấu của người từng học thường thức. Như mẹ tôi không hề đi học môn này, sủi xong không cần gánh tránh nhiệm, không cần bị cắn rứt lương tâm.
Xuất phát từ cảm giác trách nhiệm, tôi ở lại, nhưng rất hiển nhiên là, một thiếu nữ còn chưa cưới gả, không thể biết tiệc thăm nhà này cần lo liệu thế nào, chỉ có thể bảo Ngân Bàn rời cốc thuê một người biết việc về làm cho.
—
Chị 7 nói: Hôm đó tôi đọc được 1 câu rằng, trong tiểu thuyết ngôn tình, không tu đạo vô tình thì tốt nghiệp thuận lợi rồi. Haha, tôi khẽ cười, mà cười đến một phút đồng hồ.

Hết đạo để tu rồi hay sao mà cứ phải là vô tình , nhưng nói mới để ý thân phận lịch kiếp của ĐH , LT hay MU đều rất thú vị , phù hợp với tính cách của họ