TAM SINH TAM THẾ – BỒ ĐỀ KIẾP – CHƯƠNG 15

CategorIes:

By

·

37–55 phút

TAM SINH TAM THẾ – BỒ ĐỀ KIẾP

Chương 15

Dịch (láo): A Tĩnh

#tamsinhtamthe #bodekiep

Một tháng trôi qua rất nhanh.

Ngày hai mươi mốt tháng tư là sinh nhật của thái tử. Ngày mười tháng tư, tôi lên đến thượng kinh. Cũng không phải vì xem trọng Thái tử, chủ yếu là bởi vì ngày mười hai tháng tư có một buổi đấu giá được tổ chức ở lầu Thủy Nguyệt, tôi phải đến đấu giá giúp mẹ tôi quyển sách — <Quy Nhân Thập Nhị Kinh, Quyển chín>

<Quy Nhân Thập Nhị Kinh> tổng cộng mười hai quyển, nói về kinh mạch trong cơ thể người. Bộ sách này hiếm có không chỉ ở chỗ nó giảng giải về kinh mạch của người bình thường mà còn nói về kinh mạch của người tu chân — kinh mạch được lôi hỏa tôi luyện của người tu chân khá là khác biệt so với người thường, các sách y về kinh mạch khác không có viết.

Nhà chúng tôi có bản gốc của mười một quyển còn lại trong <Quy Nhân Thập Nhị Kinh> và bản sao của quyển thứ chín. Vốn dĩ quyển thứ chín cũng là của nhà tôi, nghe nói năm xưa bà ngoại của mẹ tôi tốt bụng cho bạn mình mượn, kết quả là bị người bạn này nuốt luôn, muốn lấy về mà lại không biết người bạn đó chết ở nơi nào rồi. Mãi đến năm mươi năm sau, quyển kinh này mới xuất hiện lại trên đời. Nếu đã hiện thế, tôi phải đấu giá nó về, bởi vì một bộ kinh, quan trọng nhất chính là trọn bộ tề chỉnh. Ngoài ra, quà sinh nhật của Thái tử tôi còn chưa chuẩn bị, cũng muốn thuận tiện đấu giá một món cho Thái tử làm quà, dự định ghìm giá khoảng một trăm.

Lạc Tinh Nhi lật quyển sổ đấu giá, trầm trồ: “Oa, ngân sách dự kiến một trăm vạn lượng à? Vậy có thể đấu thắng được bức <Đêm viếng Tùng Khê> của Mai Hạc Cư Sĩ đó, sau đó đem tặng thì có thể diện biết chừng nào! Mọi người đều sẽ nói, ‘Thật không thẹn là Thái tử phi tương lai, ra tay hào phóng chừng này!’”

Một trăm vạn cái gì, có thể bỏ ra một trăm lượng chuẩn bị quà cho Thái tử đã là tôn trọng lớn nhất của tôi đối với hoàng thất rồi. Xét đến sát bên tai vách mạch rừng, bụng nghĩ vậy được nhưng không thể nói ra miệng vậy. “Chỉ có một trăm thôi không có vạn,” Tôi nói với Lạc Tinh Nhi, “Dù sao ta cũng chỉ là kẻ khám bệnh cho người, người trong Rừng Mơ [1], gia cảnh thanh bần, trên dưới trong người chỉ có trăm lượng. Vậy mà còn tính tiêu một trăm lượng này cho Thái tử. Cho dù có là Thái tử thì như này cũng đã quá tôn trọng rồi.”

Lạc Tinh Nhi nói: “Á, á, là vậy ư…”

Ôn Linh Lộc phành phạch lật tới lật lui một vòng, hỏi tôi: “Biểu tỷ, còn <Quy Nhân Kinh> chúng ta định đấu giá bao nhiêu?”

Tôi nói: “Một trăm vạn.”

Lạc Tinh Nhi nói: “Hả? Hả?”

Tôi kiên nhẫn giải thích: “Không phải tiền của ta mà là tiền của mẹ ta. Vì để đấu giá quyển sách này về, mẹ ta phải liên tục chẩn bệnh nửa tháng, trị hết một vòng cho cự phú thương nhân năm mươi dặm chung quanh cốc Tứ Vọng, không dễ đâu. Mẹ có thể có hơn một trăm vạn lượng là hoàn toàn xứng đáng. Ta chỉ có một trăm lượng thôi.”

Lạc Tinh Nhi là chị em tốt của Ôn Linh Lộc ở thượng kinh. Vật hợp theo loài người chơi theo nhóm, chị em tốt của tiểu ma vương đương nhiên không có khả năng là đại gia khuê tú tốt lành gì. Lạc Tinh Nhi không xuất hiện ở những chương trước, nhưng gia đình con bé đã từng xuất hiện rồi. Mẹ con bé chính là quận chúa Phức Vịnh xuất hiện trong án Phức Vịnh quận chúa giết chồng năm Trinh Định thứ bảy. Về sau, vị Phức Vịnh quận chúa này được gả cho Chinh Tây đại tướng quân giết người như ngóe. Con gái do hai hung thần này sinh ra chính là Lạc Tinh Nhi. Lạc Tinh Nhi cậy thế của cặp cha mẹ hung thần này mà hoành hành ngang ngược ở thượng kinh, Ôn Linh Lộc dựa vào danh hiệu tiểu độc tiên mà hoành hành bá đạo ở kinh thành. Hoa hạnh mưa bay năm ấy, hai cô bạn nhỏ tung hoành ngang dọc gặp nhau trên phố dài, đôi bên mến tài, từ đó bước lên con đường kết bạn với nhau cùng hoành hành ngang dọc chốn kinh sư này. Đây chính là câu chuyện về tình bạn của hai cô gái ấy.

Lạc Tinh Nhi ngơ ngác, lại nói: “Ồ, ồ, là thế sao…”

Ôn Linh Lộc nằm trên một chiếc ghế bập bênh, lại lật sổ đấu giá xem thêm một lúc nữa rồi ghé mặt qua, chỉ cho tôi xem một trang, nói ra nghi vấn: “Biểu tỷ, em xem nửa ngày rồi, sàn đấu giá này e rằng chỉ có mỗi chiếc trâm này có thể có giá một trăm lượng trở xuống, nhưng Thái tử là nam, dù sao cũng không thể tặng hắn chiếc trâm hồ điệp dát vàng khảm trân châu ngọc đỏ được chứ? Hắn có cài được đâu.”

Tôi nhận lấy quyển sách tranh, nghiêm túc xem một lát, cảm thấy chiếc trâm này màu mè lòe loẹt, rất không tồi, tiểu cô nương nhất định thích. Trả sách tranh về cho Ôn Linh Lộc, thuận miệng dạy dỗ nó: “Có gì mà không tặng được, em nghĩ thoáng ra, hắn không cài, lẽ nào không tặng người ta được hả? Thế nào cũng có chỗ dùng thôi.”

Lạc Tinh Nhi trợn mắt há mồm, tiếp lời: “Thái, thái tử tặng ai? Tặng Diêu Nguyên Nhi à? Này, này cũng được sao?”

Tôi qua quýt nói: “Ừ được.” Bất chợt nhớ ra con bé này giống Ôn Linh Lộc, đầu óc có khi linh hoạt có khi không, lỡ như thấy gì học nấy… Bèn ngẩng đầu căn dặn: “Ta làm được, em không làm được. Dù sao ta cũng không bị lễ giáo phong kiến đầu độc, có khiếm khuyết gì về mặt lễ giáo cũng có thể hiểu được. Nhưng nếu như em dám tặng thái tử nào hoa nào trâm gì đó, có khi sẽ bị mời phụ huynh, kiến nghị đừng làm.”

Lạc Tinh Nhi nghĩ ngợi: “Nhưng không phải biểu tỷ rất hiểu lễ giáo của bọn em sao, cũng biết tặng trâm hồ điệp cho Thái tử không hay lắm mà.”

Tôi nói: “Ai bảo trong vòng trăm lượng chỉ có thể mua món này thôi, hắn ráng chịu chút đi là được.”

Thôi thiếu quân ngồi ở bên phải Ôn Linh Lộc cũng cầm sổ đấu giá lật xem, xem xong, hỏi Ôn Linh Lộc một cách cứng nhắc: “Có gì nàng muốn mua không, ta mua cho nàng.”

Ôn Linh Lộc nghênh ngang hống hách hừ một tiếng: “Ta muốn cái gì ta sẽ bảo biểu tỷ mua cho!”

Tôi đang cầm chén uống trà, nghe thế suýt chút vứt luôn chén trà đi: “Con gái gả ra ngoài như nước đã đổ đi, em bớt tìm ta lại, tìm Thôi thiếu quân nhiều lên…”

Đang nói, đoạn có người hầu ngoài cửa thông báo. Cửa bị đẩy ra, bảy anh em Thải Phách mỗi người cầm một đĩa bánh ngọt và trái cây nối đuôi tiến vào. Ôn Linh Lộc và Lạc Tinh Nhi lập tức đứng lên chọn món, Ôn Linh Lộc còn vòng qua bên trái kéo Sở sư muội ngồi bên cạnh Lạc Tinh Nhi theo.

Ba người líu ra líu ríu đứng lên. “Oa, quả tỳ bà to thật, lấy giùm trái tròn đi!” “Bánh ngọc lộ này làm đẹp quá, các cô ăn không?” “Ối chà, kẹo hổ phách này ngọt ghê!” Gian phòng này giờ như là cái chợ. Thực ra tôi đã quen rồi, nhưng dù sao trên đài cũng còn đang biểu diễn, tuy rằng tiết mục nhạt nhẽo nhưng lỡ như khách khứa hai gian phòng sát bên chúng tôi thích xem thì sao? Không thể không lên tiếng nhắc nhở bọn chúng: “Đừng ồn quá, có ý thức chút đi.”

Lầu Thủy Nguyệt là ổ tiêu tiền số một thượng kinh, không gian không tính là lớn, chỉ có hai tầng, nhưng vị trí kín đáo — ẩn sau đình viện thăm thẳm sâu, trốn sau thạch lâm mờ mịt tối. Vị trí ưu việt như này, rất thích hợp làm mấy chuyện mua bán phi pháp “ngày xây sạn đạo, đêm vượt Trần Thương” [2]. Chẳng qua, khi Lạc Tinh Nhi giới thiệu lầu Thủy Nguyệt với chúng tôi đã nói, nơi này của bọn họ chỉ tổ chức đấu giá cao cấp, một năm đấu giá bốn lần, tất cả hoạt động đấu giá đều được lập hồ sơ trình quan phủ trước, hoàn toàn hợp pháp. Ôn Linh Lộc nghe giới thiệu xong, lập tức thở dài: “Thật là đáng tiếc.” Mọi người chẳng hiểu vì sao, chỉ có thân biểu tỷ như tôi hiểu nó.

Từ cửa chính của lầu một đi vào, vòng qua một chiếu bích, có thể thấy một đài cao. Ba mặt đài cao bày biện mấy chục cái ghế đơn dành cho khách hàng không đặt được phòng ngồi — Toàn bộ lầu Thủy Nguyệt chỉ có mười sáu gian phòng, quá khó đặt.

Mười sáu gian phòng ở lầu hai được đặt tên theo mười sáu thú vui tao nhã, gian của chúng tôi tên Tỉnh Thạch [3], do Lạc Tinh Nhi mượn danh mẹ mình đặt trước, cọc trước hai vạn lượng bạc. Nếu đấu giá được món gì có thể trừ vô hai vạn lượng này, còn đấu không được, coi như phí bao phòng. Tục ngữ nói giết người cướp của, thường cũng phải giết người xong mới cướp được của, bọn họ moi tiền kiểu này cũng chẳng khác gì cướp của, nhưng lại không cần phải giết mấy người, thực là rất biết cách làm ăn.

Nghĩ đến việc bao gian phòng này phải tốn bao nhiêu bạc, chợt cảm thấy lòng đau âm ĩ, tôi xoay đầu nói với ba người Ôn Linh Lộc: “Bỏ đi, cũng không cần ý thức lắm đâu.”

Ba cô nương ở đằng sau rôm rả ăn bánh ngọt, trái cây; bảy anh em Thải Phách đứng bên hầu hạ. Thôi thiếu quân chăm chú nhìn anh em Thải Phách, ánh mắt dần dần bốc lửa, trông thấy Tử Phách dùng một que ngọc xuyên qua miếng khóm đút cho Ôn Linh Lộc ăn bèn đứng bật dậy, lớn tiếng nói: “Bảy người các ngươi qua đây chút. Chỗ biểu tỷ không có ai hầu hạ. Ngươi, rót trà cho biểu tỷ uống. Ngươi, đút trái cây cho biểu tỷ ăn. Ngươi, đấm lưng. Ngươi, bóp chân. Hai người các ngươi hầu quạt. Ngươi, bưng ống nhổ ngồi kế bên.”

Anh em Thải Phách nín lặng, nhanh chóng buông đồ trên tay xuống chạy qua hầu hạ tôi. Bảy anh em vây kín chung quanh tôi, Sở sư muội muốn đưa nửa miếng dưa hấu qua cho tôi còn không có chỗ đâu mà đứng.

Tống cổ mấy người Thải Phách qua chỗ tôi xong, Thôi thiếu quân lạnh lùng bước đến bên Ôn Linh Lộc, lạnh lùng nói với Ôn Linh Lộc: “Ờ, quả nho này không dễ bóc, ta bóc cho nàng ăn.”

Ôn Linh Lộc sụt sịt miếng khóm trong miệng, nói: “Bảy người bọn họ…”

Thôi thiếu quân lập tức nói: “Biểu tỷ bôn ba vất vả bên ngoài nửa tháng, chưa được nghỉ ngơi, vừa về cốc Tứ Vọng đã phải dẫn chúng ta bôn ba đến kinh thành, lát nữa đợi tiết mục nhảm nhí này diễn xong còn phải đấu trí đấu dũng đấu giá <Quy Nhân Kinh> về, không nên để biểu tỷ lão nhân gia được hầu hạ đàng hoàng nghỉ ngơi một lát sao?”

Ôn Linh Lộc hiếm khi không thốt nên lời, cắn hết miếng khóm trong miệng mới tìm ra chỗ phản bác, không khách khí hỏi: “Chỉ lớn hơn ta hai tuổi cũng coi là lão nhân gia à?”

Thôi thiếu quân nói: “Lớn hơn hai tuổi cũng là lớn mà.”

Tôi dằn kích động muốn đánh người ta lại.

Ôn Linh Lộc “ồ” một tiếng, sụt sịt nhai quả nho Thôi thiếu quân bóc cho, bình luận: “Quả nho này cũng bình thường.” Con bé chỉ huy Thôi thiếu quân mà không có chút trở ngại tâm lý, “Bóc quả nho đỏ kia giúp ta, bóc quả lớn kia ấy.”

Hiển nhiên quan hệ của hai người bây giờ không tệ, đã không phải kiểu ‘không phải ngươi chết thì ta băng hà’ một tháng trước đây. Rốt cuộc làm sao lại biến thành thế này, cũng không nói rõ được.

Ngày mười bảy tháng trước là ngày Ôn Linh Lộc về nhà mẹ đẻ. Theo quy tắc của giới tu chân, thường cô dâu mới sẽ đi từ nhà chồng về nhà mẹ đẻ vào ngày thứ bảy sau ngày chính thức thành thân. Tôi vốn muốn về cốc Tứ Vọng trước lo liệu tiệc thăm nhà cho bọn họ nhưng bị Ôn Linh Lộc cản lại. Ôn Linh Lộc chân thành khẩn khoản nói với tôi: “Biểu tỷ, người em rể này không đáng để biểu tỷ bận tới bận lui đâu, cứ ở thêm mấy ngày, chúng ta cùng về một thể, đến lúc đó bảo Lâm tẩu nấu nướng đại vài món làm cơm, cho hắn có cái ăn không bị đói chết là được, hừ, lẽ nào hắn còn dám méc tiểu sư thúc cái này?”

Tôi tiếp thu ý kiến của Ôn Linh Lộc, bởi vì làm thế bớt được không ít việc, cũng bớt được ít tiền.

Về sau chúng tôi cùng nhau về cốc Tứ Vọng.

Kết quả là vừa bước chân vào cốc, còn chưa kịp căn dặn Lâm tẩu nấu cơm thì đã cảm ứng được dị động của Minh Kính Đài. Tôi chỉ đành hớt hải đến gác Khí Trân lấy Minh Kính Đài lao vào dị giới.

Dị giới lần này đi có thời gian trôi qua nhanh hơn chỗ chúng tôi, ở bên đó hai tháng mà bên này chỉ mới chừng mười ngày trôi qua. Đến khi quay về, trông thấy Ôn Linh Lộc và Thôi thiếu quân không chỉ không về Linh Trạch môn mà còn gọi cả Sở sư muội đến.

Ôn Linh Lộc nói: “Đương nhiên phải gọi Sở Sở đến rồi. Em và tiểu Thôi không muốn quét gác Trân Thú nữa, không muốn về, nhưng cũng không thể để Sở Sở một mình quét gác Trân Thú được đúng không. Tiểu Ôn em có khi nào không trượng nghĩa vậy chứ?” Ôn Linh Lộc vỗ ngực, “Tiểu Ôn không làm. Thế là gửi cho tiểu sư thúc một phong thư, nói bọn em muốn xuống núi rèn luyện, dẫn theo Sở Sở cho có bạn trên đường. Linh Trạch môn vẫn luôn khuyến khích đệ tử xuống núi rèn luyện, tiểu sư thúc không từ chối, sau đó Sở Sở đến đây!”

Lúc ấy, tôi vừa được một cao nhân có kinh nghiệm tình cảm phong phú chỉ điểm, gần như đã hiểu cái ‘vừa gặp đã yêu’ mà Bách Lý Tuế Hàn nói với tôi là chuyện thế nào, còn chưa nghĩ thông phải làm sao xử lý được tình huống này, tạm thời không muốn đối diện với người có liên quan với Bách Lý Tuế Hàn lắm, thế nên không hề chất vấn Ôn Linh Lộc cái gọi là rèn luyện của các em chính là ở cốc Tứ Vọng gọi mèo chọc chó đó à. Nhưng Ôn Linh Lộc đã tự mình trả lời câu hỏi của tôi.

Con bé nhận lấy trái quýt đã được Thôi thiếu quân ở bên cạnh bóc cho, chia cho tôi một nửa, vừa ăn vừa nói tiếp: “Sau khi Sở Sở đến đây, em muốn xuống núi rèn luyện làm sao lại có thể không đưa biểu tỷ theo cùng, biểu tỷ mới là người thân nhất của em! Thế nên vẫn ở đây chờ chị!”

Tôi dồn toàn bộ sức chú ý vào Thôi thiếu quân vẫn còn đang lột quýt cho Ôn Linh Lộc, quan sát vẻ mặt Thôi thiếu quân, cảm thấy không giống như trúng phải cổ con rối, nên quyết định phải cấp tốc nhờ Sở sư muội giải thích tình huống cho.

Ôn Linh Lộc thò đầu qua, hỏi tôi: “Biểu tỷ có nghe em nói không?”

Tôi trả lời: “Em nói em đợi ta trở về, cùng nhau ra ngoài chơi, ta không ý kiến, chẳng qua đợi ta nghỉ ngơi xong đã.”

Giữa trưa hôm đó, tôi tìm đến Sở sư muội, hỏi con bé: “Thôi thiếu quân trông không có vẻ gì là ghét Linh Lộc, vậy sao lúc đầu cứ nằng nặc đòi thoái hôn thế?”

Sở sư muội đang bóc hạt thông, nghĩ ngợi một hồi, nói: “Lúc đó ầm ĩ đòi thoái hôn chắc là vì Đình sư huynh vẫn muốn lấy đệ nhất mỹ nhân của tu chân giới.”

Chuyện này lần đầu mới nghe, tôi hỏi: “Đệ nhất mỹ nhân của tu chân giới? Là ai?”

Sở sư muội bỏ hạt thông vừa bóc xong vào chiếc đĩa nhỏ bên cạnh, nhỏ tiếng nói: “Còn chưa ai công nhận, có người nói Thiền Quyên tiên tử Phòng Tố Ảnh đẹp nhất, có người nói Diệu Ý tiên tử Văn Nhân Lục đẹp nhất. Nhưng em cảm thấy bọn họ cũng bình thường.”

Tôi nói: “Vậy người Thôi thiếu quân muốn lấy là…”

Sở sư muội lại móc mấy quả thông từ trong chiếc túi nhỏ ra bắt đầu bóc tiếp, hồn nhiên nói: “Chắc là ai giành được danh hiệu đệ nhất mỹ nhân thì Đình sư huynh muốn lấy người đó thôi.”

Tôi phân vân một lúc, hỏi: “Vậy bây giờ Thôi thiếu quân không muốn lấy đệ nhất mỹ nhân nữa đúng không? Bằng không sao lại đối xử với Linh Lộc nhà ta như vậy?”

Bàn tay bóc vỏ thông của Sở sư muội chậm lại, như thể mới vừa nhận ra: “Đúng ha, bây giờ Đình sư huynh rất tốt với Linh Lộc.” Lặng người một lát, con bé đập tay phải vào tay trái, gật đầu thật mạnh, “Chắc chắn là bởi vì cuối cùng Đình sư huynh chưa mù, thành thật đối diện với nội tâm của mình mà thừa nhận Linh Lộc còn đẹp hơn cả Phòng Tố Ảnh và Văn Nhân Lục!” Đôi mắt to tròn như trái nho đen của con bé sáng rỡ lên, “Nhất định là thế rồi!”

Sở sư muội quên béng chuyện bóc hạt thông, phân tích cho tôi nghe kiểu rất chi là ‘chuyện là thế đó’: “Trước khi ầm ĩ đòi thoái hôn, thực ra Đình sư huynh chưa hề gặp qua Linh Lộc, cũng không biết Linh Lộc trông như thế nào.” Sở sư muội giải thích, “Sau khi Đình sư huynh trúng độc cứ mãi mê man, được Linh Lộc chữa khỏi. Lúc tỉnh dậy trong cốc Tứ Vọng, trùng hợp là Linh Lộc không có ở đó. Sư cốc chủ nói không sao nữa rồi, thế là bọn em đưa Đình sư huynh đi. Sau này Đình sư huynh muốn thoái hôn cũng không phải vì có ý kiến với Linh Lộc. Đại sư huynh nói Đình sư huynh từ nhỏ đã được môn chủ quản giáo rất nghiêm, vừa tỉnh dậy phát hiện mọi người ai cũng có quyền tự do hôn nhân mà mình thì không có, nhất thời nghĩ không thông, mới sinh lòng chống đối.”

Tôi đưa cho con bé chén nước, con bé nhận lấy chén nước uống một ngụm, nói ‘cảm ơn biểu tỷ’, lại uống thêm một ngụm rồi đặt chén nước xuống, tiếp tục nói: “Em cũng nói với Đình sư huynh rồi, Linh Lộc đẹp lắm, đẹp hơn cả đệ nhất đệ nhị mỹ nhân của giới tu chân, anh ta vốn cũng có thích ai đâu, chỉ là muốn cưới người đẹp về, lần này coi như vớ bở rồi. Em còn cho rằng mình khuyên nhủ rất hay, thế mà anh ta cứ nằng nặc không chịu tin, cho rằng em vì không muốn giúp anh ta đào hôn mà bịa chuyện. Em nói em không bịa chuyện, rồi lại cố gắng khuyên, Đình sư huynh mất kiên nhẫn, nói nếu em chịu giúp anh ta, xong chuyện sẽ tặng em một quyển bí tịch,” Nói đến đây, giọng của Sở sư muội nhỏ xuống, “Em, em nhịn thôi không khuyên nữa.” Con bé cúi đầu, chột dạ móc ra mấy hạt thông bóc tiếp.

Tôi chẳng biết nói gì, muốn mắng một câu: “Cái tên Thôi Yến Đình này sao lại thô thiển vậy.” Nhưng để tay lên ngực tự hỏi, bản thân tôi cũng thô thiển thế mà, có sâu sắc hơn tiểu Thôi là bao đâu, có tư cách gì mắng tiểu Thôi chứ. Lại nói, lẽ nào tôi hi vọng tiểu Thôi đối xử tốt với Ôn Linh Lộc là bởi vì phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn của Ôn Linh Lộc ư. Nếu như tiểu ma vương có thứ thú vị như vẻ đẹp tâm hồn thì đã không có bí danh là tiểu ma vương rồi. Bỏ đi, mặc kệ bọn chúng.

Sở sư muội bóc xong một mớ hạt thông rồi đặt nhân hạt thông vào lòng bàn tay tôi, hạ giọng nói: “Cho biểu tỷ ăn nè.”

Tôi thở dài, chia lại một nửa hạt thông cho con bé, nói: “Em cũng ăn đi.”

Ăn hạt thông xong, Sở sư muội đi ngay.

Sau khi Sở sư muội đi, tôi ngủ trưa một giấc. Ngủ đang lúc mê man thì bị mẹ tôi lay tỉnh. Mẹ đưa cho tôi một rương ngân phiếu, dặn dò tôi lúc lên thượng kinh mừng sinh nhật Thái tử thì thuận tiện đấu giá giúp mẹ <Quy Nhân Kinh> về, nói nếu đấu giá được, sẽ cho tôi mỗi tháng thêm một trăm lượng tiền tiêu vặt.

Đây chính là nguyên nhân lúc này tôi ngồi trong lầu Thủy Nguyệt.

Âm thanh lả lướt trên đài ru người vào giấc ngủ, chỉ đành liên tục uống hai chén trà cho tỉnh thần. Trong mắt người thường, món đem ra đấu giá quý giá nhất đêm nay chính là ba món: Đàn Sương Chung mà Cầm Thánh Độc Cô Diểu yêu thích nhất để lại, tác phẩm tiêu biểu của Mai Hạc Cư Sĩ là <Đêm viếng Tùng Khê> , và tác phẩm tâm huyết <Bức bình phong cấy lúa vụ xuân ở Lang Sơn> của đại gia điêu khắc ngọc Công Tôn Phục.

Chiếu lý <Quy Nhân Thập Nhị Kinh> không đáng được gọi tên, bởi vì người trần thế không ý thức được giá trị của nó, thế nên chắc không khó đấu giá lắm, nhưng sợ là sợ người trần thế tuy rằng không hiểu được chỗ trân quý của nó nhưng máu hơn thua của kẻ ngốc lắm tiền vốn cao, nhất định phải tranh với tôi cho được.

Tôi ra hiệu với tiểu bá vương kinh thành là Lạc Tinh Nhi. Lạc Tinh Nhi bưng nửa miếng dưa hấu chạy qua, hỏi tôi: “Có gì không, biểu tỷ?”

Tôi tỏ ý bảo con bé nhìn bức rèm the cách đó năm sáu bước, nói: “Em đi tìm lầu chủ lầu Thủy Nguyệt, hỏi gã một chút, phòng nào phòng nấy đều treo một tấm màn cản trở tầm nhìn người ta thế là như nào? Lẽ nào có tên tham quan lắm tiền nhiều của nào ở đây, không thể bại lộ thân phận, mới dùng rèm che lại, chắn đi tầm mắt của người ngoài đúng không? Bảo gã cuốn hết mấy cái rèm này lên, nếu có khách trong phòng nào không chịu thì nói với bọn họ đây là ý của Ninh vương gia trong phòng Tỉnh Thạch.”

Lạc Tinh Nhi ăn một miếng dưa, nhổ hạt dưa ra, ngơ ngác nói: “Hả? Ninh vương không phải đang tu hành ở tiên sơn à, bình thường có về thượng kinh đâu? Ngài ấy cũng đến à? Ngài ấy không thích rèm sao?”

“Nhỏ tiếng chút đi.” Tôi làm thế tay “suỵt” cho con bé xem, nén giọng, nhẫn nại giải thích thâm ý của mình, “Ninh vương gia không đến, cái này chỉ là mượn danh nghĩa y mà làm. Vai vế cao nhất thượng kinh chính là đế hậu, tiếp đó là thái tử và Ninh vương với tư cách là em út của bệ hạ. Nói Ninh vương không thích mấy tấm rèm này chỉ là vì hôm nay quý khách trong lầu Thủy Nguyệt không có đế hậu. Bởi vậy cho dù ngồi đối diện có là thái tử thì tấm rèm này cũng cuốn được lên.”

Nếu như là Ôn Linh Lộc, nói tới đây, tám phần mười đã hiểu ý rồi, nhưng Lạc Tinh Nhi không hiểu, còn rất mơ hồ, ngây ra một lúc lâu, thì thầm hỏi: “Nhưng mà, tại sao bắt buộc phải cuốn rèm lên?”

Ôn Linh Lộc đang ăn dưa lưới cách đó hai bước chân nghe không nổi nữa, bước qua cốc lên trán Lạc Tinh Nhi một cái, nén giọng: “Ngốc, rèm cuốn hết lên, biết người ngồi trong mỗi phòng kia là ai, không phải ai nấy đều âm thầm tính toán được à? Tiết lộ cho chúng biết tiểu sư thúc đang ở phòng Tỉnh Thạch, vậy chúng ta còn phải đấu cái gì nữa, ai dám giành với chúng ta? Làm vậy không phải có thể đảm bảo <Quy Nhân Kinh> thuận lợi đến tay ta rồi à?” Hậm hực nói, “Cũng do danh tiếng tôi ở kinh thành không lớn bằng cô, nếu tôi cũng vang danh khắp thành, bọn họ thấy tôi thì đã trốn biệt đi, thế thì biểu tỷ đã phái tôi đi cảnh cáo lầu chủ rồi.” Thần sắc vừa tiu nghỉu vừa nuối tiếc. Tôi cảm thấy con bé thực ra không cần phải thấy tiếc. Ôn Linh Lộc chính là kiểu đó, mỗi lần tôi làm chuyện bàng môn tà đạo, con bé lập tức có thể nhạy bén ngay, thoắt chốc biến thành tri âm của tôi rồi. Cũng khó nói chuyện này rốt cuộc có phải chuyện tốt hay không.

Lạc Tinh Nhi vui sướng bước đi.

Thôi thiếu quân lặng lẽ ghé người qua, nhíu mày nhắc đến một vấn đề: “Chỉ là biểu tỷ mượn danh nghĩa của tiểu sư thúc làm việc, nếu bị tiểu sư thúc biết có phải không hay lắm không.” Không thẹn là đệ tử danh môn chính phái, cương trực thẳng thắn ăn sâu vào xương tủy mới hỏi ra được câu hỏi này. Bằng như Ôn Linh Lộc, hoàn toàn không nghĩ đến hướng này đâu.

Quả nhiên, Ôn Linh Lộc cực kỳ kinh ngạc hỏi Thôi thiếu quân: “Tại sao phải cho tiểu sư thúc biết, không cho biết không được à?”

Tôi và Ôn Linh Lộc như nhau, không quá có chân thiện mỹ gì, không phải người có tâm hồn cao thượng, thế nên hổ thẹn quá, tôi cũng nghĩ y như con bé.

Tiểu Thôi dùng dằn nói: “Nhưng lỡ như tiểu sư thúc biết thì sao?”

Tôi và Ôn Linh Lộc nhìn nhau, cùng nhún vai: “Vậy coi như bọn mình xui thôi, cùng lắm thì bị mắng cho một trận.”

Tiểu Thôi trố mắt: “Cứ, cứ thế à?”

“Chứ không thì muốn sao?” Tôi nói, “Chi bằng… nói xin lỗi y, hỏi y có cần bồi thường gì đó không?”

Ôn Linh Lộc lập tức nói: “Sao tiểu sư thúc lại nhỏ nhen vậy chứ, chắc chắn không cần đâu. Mượn danh nghĩa thôi mà, có rước họa gì cho tiểu sư thúc đâu. Mọi người đều là người trượng nghĩa, nếu tiểu sư thúc mà so đo từng tí như thế, ta khinh thường y. Trước đó tiểu sư thúc cần tích điểm, không phải biểu tỷ cũng không nói hai lời mà giúp tích cho à?”

Tiểu Thôi không còn gì để nói.

Sở sư muội chen vào, đưa cho chúng tôi một đĩa hạt dẻ rang đã bóc xong, gật đầu chắc như đinh đóng cột: “Ừ, đúng là kiểu như Linh Lộc nói đó!”

Lạc Tinh Nhi mới đi đã về.

Danh tiếng của Bách Lý Tuế Hàn quả nhiên hữu dụng, rèm của mười lăm gian phòng khác đều lục tục kéo lên.

Ôn Linh Lộc đưa cho hai người Lạc Tinh Nhi quả tỳ bà đã bóc xong. Hai người vừa ăn quả tỳ bà vừa nói chuyện. Lạc Tinh Nhi buôn dưa vô cùng thích thú: “Xem đi, có năm gian phòng trống. Có lẽ đều là tham quan ô lại, không dám cho ai biết bọn chúng gia tài bạc vạn, thế nên trước lúc rèm được kéo lên thì đã lặng lẽ chuồn rồi.” Con bé chỉ chỉ trỏ trỏ, “Mấy gian xéo phía bên kia em biết, toàn là quý tộc gia đình quyền thế, ấy?” Con bé ngoái đầu thật mạnh, nhìn tôi, “Biểu tỷ! Thái tử!”

Không cần con bé nhắc, tôi đã trông thấy rồi. Vừa rồi tôi mới nói gì với Lạc Tinh Nhi thế nhỉ? Hình như nói cho dù đằng đối diện có là thái tử, hôm nay cái rèm đó cũng có thể cuốn lên. Ai ngờ rằng ngồi đối diện thế mà là thái tử thật. May mà rèm đích thực được cuốn lên, danh dự của tôi trước mặt Lạc Tinh Nhi mới được đảm bảo.

Thái tử mình khoác áo trơn, một tay cầm quạt, ngồi bên một chiếc bàn bán nguyệt, đang ngước mắt nhìn về phía chúng tôi, thần sắc lạnh nhạt cực kỳ. Bên cạnh hắn là một thiếu nữ thanh lệ áo trắng váy xanh, nghĩ ắt chính là Diêu Nguyên Nhi cháu gái của Trung Thư Lệnh.

Người trong phòng chúng tôi đây, ngoại trừ Lạc Tinh Nhi ra thì không có người trần tục đơn thuần, mọi người đều bớt phần tôn kính hoàng quyền, đến nỗi tuy rằng nghe thấy tiếng kêu kinh ngạc của Lạc Tinh Nhi nhưng cũng chỉ dừng lại nhìn về phía đối diện ngắn ngủi một ánh mắt, sau đó tiếp tục mạnh ai nấy làm chuyện của mình, hoàn toàn không hề cách một sân khấu mà tức thì hành đại lễ với thái tử giống như Lạc Tinh Nhi.

Biểu hiện của anh em Thải Phách càng vượt khỏi ý thức giá trị tự thân của họ, thấy tôi nằm trên ghế bập bênh không động đậy, ngay cả liếc mắt nhìn đối phương bọn họ cũng chả có. Bảy anh em tập trung hầu hạ tôi. Xích Phách, Tranh Phách đấm lưng, Thanh Phách, Hoàng Phách quạt mát, Lam Phách rót nước, Tử Phách mặt không đổi sắc nghênh đón ánh mắt như lạnh như băng của thái tử mà đút khóm cho tôi ăn. Tôi vịn lấy mặt nạ trên mặt, ăn xong miếng khóm trên tay Tử Phách còn bảo y lấy cho tôi thêm miếng nữa.

Trước đó đến dị giới điều phục tam độc, bất cẩn làm mặt bị thương, hồi phục cần thời gian, vì không muốn dọa người khác nên mới bảo Ôn Linh Lộc làm cho chiếc mặt nạ. Hôm qua lúc gặp thái tử ở chỗ hoàng hậu cũng mang chiếc mặt nạ này, cam đoan thái tử nhận ra tôi. Càng đừng nói tới trong phòng này có một Ôn Linh Lộc. Hắn cũng mới gặp Ôn Linh Lộc hôm qua.

Lạc Tinh Nhi choàng tỉnh, lật đật bước lên hai bước, chắn trước chiếc ghế bập bênh của tôi, cuống quýt nói: “Ánh mắt thái tử điện hạ sao lạnh lùng đáng sợ vậy, có khi nào là thấy biểu tỷ được bảy chàng trai tuấn tú vây quanh hầu hạ nên giận rồi không, cảm thấy biểu tỷ phóng túng không giữ phép tắc khuê phòng. Em che giúp cho, biểu tỷ thu dọn rồi chuồn lẹ đi!”

Ôn Linh Lộc cắn hạt dưa nhìn Lạc Tinh Nhi: “Không phải chứ, cô đó, còn có chút quan niệm sai đúng nào không? Cho thái tử dẫn theo cô nương khác ra ngoài như hình với bóng là đúng? Còn biểu tỷ tôi có mấy người hầu hạ chứng tỏ biểu tỷ không giữ phép tắc khuê khòng? Biểu tỷ tôi không giữ phép tắc khuê phòng hồi nào? Tôi có tiền mời về mấy người hầu hạ, biểu tỷ tôi không được à? Phạm pháp à?” Vừa nói vừa khinh miệt nhìn đằng kia một cái, kéo Lạc Tinh Nhi ra, “Hừ, hắn nhìn thấy biểu tỷ tôi thì tức, được, vậy cứ cho hắn nhìn cho đã, tức chết hắn đi!”

Tuy rằng Ôn Linh Lộc không nói đạo lý thành quen, nhưng lần này con bé nói cũng có lý.

Rèm của mười sáu gian phòng tuy rằng đã cuốn lên, làm cho mọi người không ẩn danh được nữa, nhưng tôi đến thượng kinh mới có hai ngày, vốn dĩ không có người nào nhận ra tôi, gian phòng này lại dùng danh nghĩa của Trùng Minh quân, hoàn toàn không ai hay biết thái tử phi tương lai ở đây, ngồi đối diện với thái tử và người trong lòng của thái tử hết. Vờ như không nhìn thấy tôi thì chẳng có gì ầm ĩ cả, đôi bên thế là giữ được mặt mũi. Nếu cứ nhìn tôi không thuận mắt, nhất quyết kiếm chuyện với tôi, chuyện này ầm ĩ lên, người mất mặt đương nhiên là tôi, nhưng người xui xẻo tuyệt đối không phải tôi. Nói chung thì, nếu thái tử là người thông minh, thực ra nên giả vờ không thấy tôi đi.

Đáng tiếc quá, hắn không làm vậy.

Thái tử nghiêng đầu nói với một hoạn thị theo hầu bên cạnh hắn gì đó, hoạn thị kia khom lưng gật đầu, lùi ra khỏi gian phòng của thái tử. Khả năng cao là phụng lệnh đến kiếm chuyện với tôi rồi.

Có lẽ cũng không phải thái tử không được thông minh, có lẽ chỉ là hắn tự phụ, thấy tôi hôm qua ở chỗ hoàng hậu ra vẻ tương đối lễ độ, bèn quên mất trải nghiệm bị tôi đánh cho nhừ tử hồi còn bé, hiểu nhầm gái lớn đổi thay mười tám lượt, tôi đã từ một quỷ con cọc tính biến thành đại gia khuê tú tam tòng tứ đức cúi đầu nhẫn nhịn rồi.

Vậy tôi đành để hắn thất vọng thôi.

Hoạn thị kia gõ cửa phòng Tỉnh Thạch, lồng hai tay vào nhau đến gần, dừng ở chỗ cách tôi ba bước, cúi đầu lấy lệ: “Ra mắt Sư cô nương, thái tử điện hạ mời Sư cô nương đến phòng Vấn Nguyệt nói chuyện một lát.”

“Ngươi nhận nhầm người rồi.” Tôi nói.

Hoạn thị kia bất giác ngẩng đầu, hai mắt lóe lên, ngoài cười trong không cười: “Sư cô nương nói đùa, tuy rằng nô tài chưa từng gặp Sư cô nương, nhưng nô tài phụng lệnh thái tử điện hạ đến đây, lẽ nào thái tử điện hạ còn có thể nhận nhầm…” Đang nói thì bỗng “á” ra một tiếng quỳ xuống đất. Một tiếng bốp giòn giã vang lên, nghe chừng đau lắm.

Tôi nói: “Không cần hành đại lễ vậy đâu.”

Hoạn thị kia đau đến mặt mày nhăn nhúm, run rẩy hỏi: “Ai, ai ám toán…”

Ôn Linh Lộc đặc biệt vòng đến trước mặt gã: “Không biết dùng mắt thế cơ à?” Rồi ngồi xuống, móc ra một hạt quả tỳ bà, đưa lên lắc lư trước mặt gã, sau đó đứng dậy, lùi về sau hai bước, búng tay một cái. Hạt tỳ bà rơi xuống cách gối hoạn thị kia hai tấc, nảy lên rất cao. Ôn Linh Lộc học gã, ngoài cười trong không cười: “Tiểu công công, vừa rồi thấy ngươi hầu hạ Diêu Nguyên Nhi vô cùng niềm nở, khom cả lưng, thiếu điều quỳ cả xuống đất mà hầu, thế nào mà đến chỗ biểu tỷ ta lại không biết lễ độ vậy?”

Sắc mặt hoạn thị cực kỳ khó coi, chối bay chối biến: “Nô tài hoàn toàn không hề vô lễ với Sư cô nương, xin vị cô nương này chớ ngậm máu phun người!” Chắc là cuối cùng cơn đau cũng dịu bớt đi, gã gắng gượng chống đùi đứng dậy, hết sức đúng mực nói với tôi: “Nô tài phụng lệnh thái tử điện hạ đến đây, mà Sư cô nương lại dung túng người bên cạnh sỉ nhục nô tài như vậy, lẽ nào là muốn bất kính với thái tử điện hạ ư?”

Tôi nói: “Ngươi tránh ra đi, chắn mất tầm mắt của ta rồi.”

Gã đờ người. Ôn Linh Lộc kéo gã ra ngay. Gã nhất thời lảo đảo.

Cuối cùng tầm mắt cũng được khoáng đãng.

Tôi nửa ngồi dậy, dõi mắt nhìn sang đối diện mà nhìn thái tử. Tử Phách múc một miếng dưa ngọt đút lên miệng tôi, tôi ăn, rồi lại nhìn thái tử, nghênh đón ánh mắt như đao của thái tử mà đối mắt với hắn một hồi, sau đó duỗi tay sang phải. Tử Phách biết ý đưa cho tôi chén trà, tôi nhận lấy, thôi không nhìn nữa mà súc miệng. Súc miệng xong lại đòi chén trà khác, uống nửa chén mới bắt đầu nói.

“Ta cảm thấy, thái tử cũng không phải thực sự muốn xung đột với ta ở đây.” Tôi nói với hoạn thị, “Theo ý của hoàng hậu nương nương, thái tử nếu rảnh, nên ở bên cạnh ta nhiều hơn. Nhưng thái tử rảnh, lại không ở bên cạnh ta, thấy ta rảnh rỗi giết thời gian ở đây, dường như còn rất bất mãn. Ta đoán hắn gọi ta qua là muốn mắng ta một trận đuổi ta đi, bảo ta đừng xuất hiện trước mắt hắn làm hắn mất hứng chứ gì? Vậy thì không chiều theo ý hắn được, chắc chắn sẽ cãi với hắn một phen. Hôm nay ở đây nhiều người quyền quý, hai ta mà cãi nhau, chuyện này thế nào cũng ồn ào đến chỗ bệ hạ và nương nương mất. Ta thì không sao, đương nhiên thái tử cũng không gặp chuyện gì to tát, nhưng ắt hẳn Diêu cô nương phải chịu chút khổ sở rồi. Vì để bi kịch này không phải xảy ra, ta đề nghị thái tử hôm nay xem như không trông thấy ta, được chứ? Sau này bẩm lên, ta cũng xem như không thấy hắn và Diêu cô nương. Mọi người mạnh ai nấy chơi, đều được vui lòng, hà tất cứ đòi gây chuyện. Hi vọng ngươi nói lại mấy lời này cho thái tử nghe không sót chữ nào.”

Hoạn thị kinh ngạc nhìn tôi, thần sắc lộ ra một phần e sợ. Tôi không biết gã e sợ cái gì, dù sao thái độ tôi rất ôn hòa, cũng không làm khó gã, từ đầu đến đuôi đều ăn nhẹ nói khẽ. Ngay cả cái câu cứng rắn đuổi đi như ‘Đủ rồi, cút xéo’ còn chả có can hệ gì đến tôi, là Ôn Linh Lộc nói.

Hoạn thị lùi khỏi gian phòng của chúng tôi. Chẳng bao lâu sau, xuất hiện ở gian phòng của thái tử, cúi mình nói chuyện với thái tử một hồi. Thái tử nhíu mày rất chặt, cuối cùng khép quạt lại một cái phạch. Sau khi hoạn thị lẩy ba lẩy bẩy lùi về sau thì mắt hắn dính chặt lấy tôi, trợn mắt nhìn tôi bằng ánh mắt rét buốt.

Tôi nâng chén trà lên, cách không kính hắn một chén.

Mặt thái tử đen xì.

Lạc Tinh Nhi mắt trừng môi há, bụm miệng nhìn tôi, bái phụng khẽ than: “Thái tử là thiếu quân, biểu tỷ, sao lại có thể chẳng sợ y chút nào hết vậy? Còn dám đe dọa y nữa chứ, lợi hại quá!”

Con bé chưa hiểu được một vấn đề, cốc Tứ Vọng không sống bằng hoàng quyền của nhà Bách Lý, không thể coi là thị dân của nhà Bách Lý. Thái tử là thiếu quân của bọn họ, không phải thiếu quân của tôi. Tôi gả cho thái tử không phải là hoàng thất ban ơn cho thần tử. Đây là liên hôn chính trị — là nhà Bách Lý muốn cậy vào sự kết hợp giữa đế vương thế gia thực quyền và hậu duệ của chúa tể tộc người củng cố quyền thống trị của bọn họ, để hoàng quyền của nhà Bách Lý như được trời ban, càng thêm chính thống. Thái bình thịnh thế, nhà họ Sư không cần bước lên đài, nhưng một khi thế giới này xảy ra hỗn loạn, nhà họ Sư chính là con át chủ bài để hoàng quyền Bách Lý tiếp tục kéo dài. Thế nên thực ra là nhà Bách Lý cần hôn sự này hơn. Bây giờ, đối diện với hôn sự này, tôi đã phối hợp chặt chẽ, ngược lại là thái tử có người yêu khác muốn quậy cho cả thành đều hay, cực kỳ không muốn cho tôi thể diện. Chỉ cần tôi lặng lẽ thoái hôn, đã có thể coi như nhẫn nhịn trăm bề, hiểu biết đại thể rồi, cần gì sợ thái tử chứ? Người nắm quyền bây giờ lại không phải thái tử. Mà đợi đến khi thái tử nắm quyền, cho dù tôi với hắn oán thù chồng chất, chỉ cần hắn không phải hôn quân sẽ không động đến tôi, bởi vì lúc đó nhất định hắn đã tiếp quản bí mật liên quan đến nhà họ Sư từ chỗ phụ thân hắn, biết rõ con át chủ bài họ Sư quan trọng thế nào với nhà Bách Lý. Nói tóm lại, tôi không cần phải bấm bụng chịu đựng, cho thái tử thể diện làm gì.

Chẳng qua, một đứa bé trẻ người non dạ như Lạc Tinh Nhi không cần hiểu mấy cái này, cứ tiếp tục làm một tiểu bá vương ngây thơ hồn nhiên là đủ.

Tôi qua quýt trả lời: “Thì vốn phải làm vợ chồng với thái tử mà, vợ chồng với nhau, hở một chút là nhịn hắn, sợ hắn, làm sao được chứ? Vẫn nên tôn trọng lẫn nhau đi. Ta thế này cũng đang giúp thái tử tôn trọng ta thôi.”

Lạc Tinh Nhi nghe dạy gật đầu.

Nửa canh giờ sau, Lạc Tinh Nhi ngoái đầu, nghiêm túc nhìn tôi nói: “Thái tử điện hạ ngoài mặt không đến kiếm chuyện nhưng sau lưng dường như không tôn trọng biểu tỷ lắm. Em cảm thấy sự giúp đỡ của biểu tỷ không có tác dụng gì nhiều.”

Tôi nhìn chằm chằm chiếc trâm hồ điệp dát vàng khảm trân châu ngọc đỏ bị thái tử đấu giá cướp đi, lặng người một thoáng mới trả lời con bé: “Ừ, cái tên Bách Lý Huy này, đích thực nhỏ nhen.”

Không còn ai khác dám cướp đi món mà tôi muốn đấu giá. Nhưng thái tử vẫn dám. Từ lúc đấu giá cạnh tranh bắt đầu, tôi mà ra giá, thái tử sẽ chặn tôi ngay. Cây trâm hồ điệp trân châu đó, tôi ra giá hai mươi lăm lượng, thái tử liền ra giá năm mươi lượng. Tôi ra giá năm mươi lăm lượng, hắn liền lên giá tám mươi lượng. Vừa nhìn đã biết là muốn tôi không được vui vẻ rồi. Thấu hiểu việc hắn tuyệt đối không cho tôi đấu giá được cây trâm đó, tôi cố ý nâng giá mười mấy vòng, đôn giá lên bảy nghìn lượng, cho hắn phí mất một vạn lượng đấu giá cây trâm này. Cuối cùng, cây trâm đó đích thực được cài lên đầu Diêu Nguyên Nhi.

Thấy hắn giơ tay cài cây trâm đó lên tóc mai của Diêu Nguyên Nhi, còn trợn mắt nhìn tôi như khiêu khích, tôi không biết nói gì hơn. Nếu như hắn không giành giật với tôi, cây trâm đó tôi phí hai mươi lăm lượng là đã lấy được về tay rồi tặng cho hắn, hắn có thể không tốn một đồng tặng cho Diêu Nguyên Nhi. Tôi tiết kiệm được tiền, hắn càng tiết kiệm được hơn. Thế này hay rồi, vung một vạn lượng mua cây trâm rách đó, ủ mưu gì vậy?

Sở sư muội ngồi kế bên vùi đầu lật tới lật lui sổ đấu giá, lẩm bẩm: “Để xem vừa rồi có phải Linh Lộc xem sót không, có khi còn có món gì trong vòng một trăm lượng có thể đấu giá được…”

Ôn Linh Lộc nộ khí xung thiên cản Sở sư muội lại, hỏi tôi: “Biểu tỷ, còn mua cho thái tử món quà sinh nhật nào một trăm lượng nữa không? Theo em thấy mua cho hắn một món mười lượng đủ rồi!”

“Năm lượng là đủ, nào về em ra phố giúp ta lựa đi.” Tôi trả lời con bé.

Sau đó, chén rượu lông vũ [4] bằng bạch ngọc mà Ôn Linh Lộc muốn đấu giá cũng không đấu được, bị thái tử đấu giá cướp. Trang sức đội đầu bằng bảo thạch đỏ mà Lạc Tinh Nhi muốn đấu giá cũng không đấu được, bị thái tử đấu giá luôn. Quyển bí tịch giúp thân thể tráng kiện mà Sở sư muội muốn đấu giá, vẫn không thể đấu được, bị thái tử đấu mất. Thanh chủy thủ bằng ngọc xanh chuôi khảm bảo thạch mà Thôi thiếu quân muốn đấu giá, cũng không đấu được, bị thái tử hốt về.

Mọi người đều rất tức giận, còn tôi vẫn coi như trấn định, nghĩ thái tử muốn một lần phá hỏng hết chuyện tốt của tất cả mọi người chỗ chúng tôi đây, cũng đáng để xả giận rồi. Con nhà giàu có người ta, tính tình bồng bột một chút cũng có thể hiểu được, chỉ cần hắn không ra tay với <Quy Nhân Kinh> thì không cần so đo với hắn làm gì.

Không bao lâu sau, <Quy Nhân Kinh> đã được trình lên sân khấu, giá khởi điểm bảy nghìn lượng. Tử Phách ra giá giúp tôi, hô một vạn lượng. Khách ngồi dưới ghế vốn có người giơ bảng nhưng trông thấy giá phòng Tỉnh Thạch đưa ra thì lập tức hạ xuống, vô cùng hiểu chuyện. Người chủ trì đấu giá cao giọng xướng: “Một vạn lượng lần thứ nhất, một vạn lượng lần thứ hai.” Ngay lúc người chủ trì sắp sửa gõ búa, phòng đối diện bất chợt nói: “Năm vạn lượng.”

Hiếm khi xởi lởi mà trời chẳng để của cho. Vậy thì tôi không thể cứ nhân nhượng mãi được.

Tôi gọi Ôn Linh Lộc đến, nói nhỏ vào tai nó: “Em qua hạ độc phòng thái tử đi, nhưng nhớ đừng gây chết người nhé, làm bọn họ tạm thời mất sạch năng lực hành vi đủ rồi.”

Nghe tôi căn dặn xong, Ôn Linh Lộc hai mắt sáng ngời, có lẽ cũng muốn chơi thái tử từ lâu.

Ôn Linh Lộc xoay người, người chủ trì bấy giờ đang xướng “Hai mươi lăm vạn lượng lần thứ hai”, Tử Phách đã không trấn định nổi nữa, sốt ruột nói với tôi: “Thiếu cốc chủ, đằng kia quá cố chấp, bám riết không buông, không biết…” Tôi không kịp trả lời hắn, gấp gáp nói: “Hai mươi sáu vạn lượng.”

Thái tử khinh miệt nhìn qua, nhếch khóe môi lên: “Ba mươi vạn lượng.” Biểu cảm khiến người ta nhìn mà ngứa hết cả răng.

“Ba mươi mốt…” Vang lên cùng lúc với giọng của tôi chính là một thanh âm quen thuộc: “Năm mươi vạn lượng.”

Nghe thấy tôi nói “Ba mươi mốt”, y khựng lại, nhìn tôi: “Cứ tăng một vạn rồi một vạn, không mệt à?”

Tôi muốn nói bạc chứ có phải vàng mã đâu! Nhưng nói ra miệng lại thành: “Tiểu hoàng thúc, sao ngài lại đến đây?”

Thôi thiếu quân đã nhường cái ghế của mình lại cho Bách Lý Tuế Hàn từ lâu. Ôn Linh Lộc và Sở sư muội đều không dám ngồi xuống, đứng sang một bên. Lạc Tinh Nhi chưa từng gặp qua Bách Lý Tuế Hàn, thấy mọi người đều đứng nên cũng hoang mang đứng dậy.

Cả một gian phòng, nhất thời chỉ có tôi nằm, Bách Lý Tuế Hàn ngồi.

Y nhìn tôi một cái, ánh mắt hờ hững.

Tôi giật bắn mình, lập tức ngồi dậy, đẩy Tử Phách đang đứng gần ra, đồng thời tỏ ý bảo mấy anh em Phách khác cách xa tôi một chút. Sau khi dẹp sạch người xung quanh rồi, tôi lúng túng gọi y lần nữa: “Tiểu hoàng thúc.”

Cuối cùng y cũng trả lời: “Nàng nói mà không giữ lời không đến tìm ta, ta đành đến tìm nàng.”

Trong bụng tôi kêu lên ‘lộp bộp’. Không biết nên nói cái gì.

Y không ngó ngàng đến tôi, nhìn về phía sân khấu tiếp tục ra giá: “Sáu mươi vạn lượng đi.”

[1] Là danh xưng của giới học thuật Trung y, xuất xứ từ chuyện về Đổng Phụng là một trong tam đại thần y Kiến An, theo ghi chép trong <Thần Tiên Truyện>: “Người sống biệt lập trên núi, chữa bệnh cho người ta, không lấy tiền bạc, người mắc bệnh nặng được chữa khỏi thì trồng năm cây mơ, người mắc bệnh nhẹ thì một cây mơ. Cứ thế qua nhiều năm, số cây đã lên đến mười vạn, thế nên thành rừng.”

[2] Chắc mọi người nghe quen câu Hán Việt của nó là “minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương” hơn. Thành ngữ này nói đến điển tích Lưu Bang ngày xưa vì muốn chứng minh cho Hạng Vũ thấy mình không có ý đánh sang phía đông tranh giành thiên hạ mà đốt con đường lót ván (sạn đạo) đến Hán Trung. Về sau, Lưu Bang phản công, bên ngoài cho người đến xây sửa con đường đó, nhưng bên trong âm thầm dẫn quân đánh đến Trần Thương, chiếm được Quan Trung một cách bất ngờ. Về sau thành ngữ này được dùng để chỉ bên ngoài làm chuyện này hòng che giấu chuyện lén lút khác được làm phía sau.

[3] Liên quan đến câu chuyện phía đông nơi ở của Đào Uyên Minh, hay Đào Tiềm (TN: một nhà thơ lớn thời Tấn, gần như là biểu tượng về thơ ca và cả lối sống, ảnh hưởng tương đối sâu rộng mà hầu như thế hệ ngày nay cứ muốn ‘cành cao’ là lại nhắc tên ông, có thể tìm thêm thông tin trên GG) có một tảng đá lớn, mỗi lần uống say ông hay gối đầu ngủ trên đó, nên đặt tên là Tỉnh thạch – đá thức giấc. Gối đầu ngủ trên đá thế là cũng được xem như một thú vui.

[4] Một kiểu chén rượu thời cổ, bụng nông, đáy phẳng, hai bên có quai hình bán nguyệt, hình dạng trông như một cặp cánh chim nên được gọi là chén lông vũ.

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x