Tam Sinh Tam Thế – Bộ Sinh Liên
[Bát Hoang] – Quyển 3: Túc hạ thiên kiếp – Chương 2
#tamsinhtamthe #bosinhlien #bathoang #tuchathienkiep
Dịch (láo): A Tĩnh
———————-
Sau đó, lại hai nghìn năm trăm năm mươi bảy năm nữa qua đi, chính là năm thứ hai vạn chín nghìn chín trăm chín mươi ba năm sau khi Tổ Thị ngủ say.
Trước khi Tổ Thị ngủ say từng nói, ba vạn năm sau, khi trận đại kiếp khuynh đảo bốn biển hủy diệt bát hoang kia đến gần, nàng tự sẽ thức tỉnh. Hôm nay, còn cách thời gian ba vạn năm mà nàng nói bảy năm nữa, thời gian đã sắp đến gần rồi.
Bởi vì lúc đầu đưa ra lời dự báo này, Tổ Thị hoàn toàn không nhìn ra trận đại kiếp đó phát sinh do nguyên nhân nào, thế nên chúng thần sứ Cô Dao cũng hoàn toàn mờ mịt, nhiều năm nay chỉ bảo vệ Cô Dao, bị động đợi cái ngày trong dự ngôn đó đến, những cái khác có rất nhiều cái chẳng làm gì được. Vậy mà hơn hai vạn năm gần ba vạn năm đã qua, thế nhưng bát hoang lại chẳng phát sinh chuyện lớn gì có thể có liên quan đến kiếp ấy.
Thân làm thần sứ, đương nhiên không thể hoài nghi lời dự đoán của thần chủ. Với tư cách người đứng đầu bốn thần sứ, phán đoán của Ân Lâm chính là nếu như thời kỳ ba vạn năm đã đến gần, vậy đại kiếp kia cũng đã đến lúc xuất hiện manh mối, bát hoang bề ngoài nhìn thì vô sự, nhưng ai biết được không có dị biến ở chỗ âm thầm?
Tính chủ động của Ân Lâm cực cao, sau khi phán đoán như vậy không lâu liền lần lượt an bài ba vị thần sứ xuất sơn, lệnh bọn họ thâm nhập vào các tộc, dò thám những sự kiện lạ trong bát hoang. Nhưng cũng không biết là do dự cảm của y chuẩn hay là vận may của y tốt, chính vào tháng tiếp theo sau khi ba thần sứ lần lượt xuất sơn, tám cõi liền xảy ra chuyện lớn khiến bốn biển hốt hoảng, trời đất kinh hoàng — Ám Chi Ma Quân Khánh Khương mất tích hai mươi bốn vạn năm trước đã trở về rồi.
Tin tức này truyền đến lỗ tai các thần sứ Cô Dao, bọn họ lập tức hiểu ra chuyện này chính là chuyện lạ mà bọn họ vẫn luôn chờ đợi, cũng hiểu ra kẻ khởi xướng trận đại kiếp kia trong lời dự ngôn của Tổ Thị là ai. Nhưng Tổ Thị chưa tỉnh, các thần sứ không dám làm bừa, thế nên sau khi thương nghị, bốn thần sứ chỉ đơn giản là đến thông báo tin tức cho Đông Hoa Đế Quân trong cung Thái Thần một tiếng, sau đó về núi, tiếp tục đóng cửa Cô Dao.
Cô Dao đóng cửa, bốn năm thoáng cái qua đi.
Về sau Sương Hòa nhiều lần nhắc đến buổi sáng này, trước sau đều cảm thấy nó và vô số buổi sáng khác trước đây ở núi Cô Dao hoàn toàn không có gì khác biệt.
Hôm nay trời vừa sáng, Ân Lâm và Chiêu Hi liền đến bên bờ biển Trường Sinh đả tọa tu hành. Tuyết Ý thì đến phòng thuốc. Sương Hòa là một người tính tình không yên cho được, đã không muốn đi đả tọa với Ân Lâm, cũng không muốn đến phòng thuốc làm sai vặt cho Tuyết Ý, liền đến bên động Lan Nhân để luyện đao ở đó chơi.
Kết quả là vừa bắt đầu luyện thì nhận ra sợi thừng quấn trên cán đao bị lỏng, y bèn ngồi xuống thảm cỏ cạnh bên động, cúi đầu thắt lại sợi thừng trên đao.
Y vụng về, thắt cả nửa ngày cũng chưa thắt xong, đang muốn phát cáu, đột nhiên có một cánh tay thò ra từ bên cạnh: “Để ta xem giúp ngươi.”
Y giật bắn người, ngẩng đầu nhìn lên, mới phát hiện bên cạnh không biết từ khi nào đã có một người ngồi.
Người đó mỉm cười với y, y kinh ngạc, dụi dụi mắt.
Người đó thấy y ngớ người, nhún nhún vai không nói thêm gì, rút cây đao đá tím vân nghiêng mà y yêu thích khỏi bàn tay y, cúi đầu giúp y thắt lại thừng đao bị lỏng một cách khéo léo.
Y trừng mắt nhìn người đó, há miệng mấy lần mới có thể thuận lợi thốt ra mấy lời nghẹn mãi trong cổ họng: “Tôn, tôn, tôn, tôn thượng, ngài, ngài, ngài tỉnh rồi?”
Người đó ngẩng đầu nhìn y mỉm cười, đặt lại thanh đao đá tím vân nghiêng đã được sửa lại vào tay y. “Ha, tỉnh rồi.” Nàng nói.
Chính vào buổi sáng tinh mơ bình thường không có gì đáng kể, trước sau không tìm ra được bất cứ điểm sáng nào mà sau này Sương Hòa nhắc lại nhiều lần, Tổ Thị đã thức tỉnh từ trong giấc ngủ say ba vạn năm nàng tự định ra ngày trước.
Nàng rời khỏi động Lan Nhân, nhìn thấy Sương Hòa khờ khạo đang giằng co với thừng đao, lại đi đến ngồi cạnh Sương Hòa, tốt bụng vươn tay giúp y một trận, cũng giống như hai mươi vạn năm trước cửa Nhược Mộc còn chưa mở ra, nàng vẫn chưa vì tộc Người mà hiến tế, bọn họ sống qua những ngày thanh bình ở Cô Dao, khi nàng nhìn thấy thừng bện đao của Sương Hòa bị lỏng cũng sẽ làm như thế này.
Chuyện này khiến Sương Hòa có chút hoang mang.
Chính vào lúc Sương Hòa còn hoang mang, Tổ Thị đã mở lời hỏi y một câu: “Ngươi có thấy mặt nạ của ta không?”
Sương Hòa vốn còn chưa nghe rõ nàng đang hỏi cái gì. Ánh mắt y dừng lại trên gương mặt nàng, hơi kinh ngạc bởi gương mặt này hoàn toàn không có chỗ khác biệt nào so với lúc y gặp nàng lần đầu tiên trên núi Đại Ngôn ba mươi vạn năm trước. Thời điểm đó, nàng vừa tròn ba vạn năm nghìn tuổi, còn chưa thành niên, vẫn là bộ dạng của một người phàm mười lăm mười sáu tuổi, kỳ thực cũng chưa hoàn toàn trưởng thành, thế nhưng gương mặt đó đã xinh đẹp đến mức không sao tin nổi. Y được nàng điểm hóa, cùng nàng trở về núi Cô Dao, mỗi ngày ngắm gương mặt nàng, cơm cũng ăn nhiều thêm được hai chén. Chỉ tiếc ngày vui chẳng dài, không bao lâu sau nàng gặp được Cốt Dung, từ đó về sau nàng liền mang mặt nạ, y cũng chưa từng thấy qua gương mặt của nàng thêm lần nào nữa. Không ngờ rằng mấy chục vạn năm qua đi, bốn thần sứ Cô Dao bọn họ đã rủ bỏ thanh xuân, từ thiếu niên lớn thành thanh niên, mà với cương vị thần chủ của bọn họ, nàng vẫn duy trì được dáng vẻ niên thiếu đơn thuần mỹ lệ.
Sương Hòa không nói nên lời.
Tổ Thị nhìn y một lúc, nhẹ nhàng nắm lấy cánh tay phải của y, không dùng nhiều sức ấn một cái: “Sương Hòa, ta đang hỏi ngươi.”
Sương Hòa cuối cùng cũng hồi phục tinh thần: “À, mặt nạ.” Đương nhiên y vẫn nhớ chiếc mặt nạ ngọc xanh với hoa văn phức tạp mà từ khi gặp được Cốt Dung, nàng liền đeo lên mặt, chưa từng gỡ ra. Nhưng ba vạn năm trước Tổ Thị trở lại, khi bọn họ chạy về đến Cô Dao, nàng đã bước vào động Lan Nhân, y vốn dĩ còn chưa thấy được mặt nàng, càng không biết mặt nạ của nàng đã đi đâu. Nhưng y thầm cảm thấy nàng không mang mặt nạ càng tốt.
Sương Hòa ngồi xếp bằng trên mặt đất, ấp úng nhìn Tổ Thị, thần sắc mờ mịt vì quá mừng quá sợ: “Tôi không biết đâu Tôn Thượng, chuyện mặt nạ chắc là phải hỏi Ân Lâm, bởi vì ngày ngài ngủ say chỉ có y ở bên ngài, chúng tôi đều ở bên ngoài động.” Nhắc đến Ân Lâm, y mới nhớ ra phải đi báo cho Ân Lâm chuyện Tổ Thị đã tỉnh, vừa lẩm bẩm “Tôn Thượng tỉnh rồi, đám Ân Lâm không biết sẽ vui biết chừng nào, tôi phải mau đi báo cho bọn họ”, vừa vội vã đứng dậy. Nhưng lại bị Tổ Thị cản lại.
Tựa như nàng không hề cảm thấy bản thân ngủ say hai vạn chín nghìn chín trăm chín mươi bảy năm thì có gì phải vội, tỉnh lại rồi lại là chuyện gì lớn lao, nhổ một cọng cỏ đuôi chó lên nghịch: “Đừng gấp, chúng ta nói chuyện trước đi, ta có chút chuyện muốn hỏi ngươi.” Nàng ngừng lại một chút, thần sắc có chút kỳ lạ, giống như đã biết được đáp án, lại sợ biết được đáp án: “Cốt Dung thế nào rồi? Vẫn còn ngủ ở Ba Trủng chứ?”
Sau khi Tổ Thị tỉnh lại, vấn đề đầu tiên nàng hỏi là mặt nạ của nàng đâu, người nàng quan tâm đầu tiên là Cốt Dung, chuyện này khiến cho trái tim tập trung cao độ đang treo lên của Sương Hòa có phần khó xử, ngừng một lúc mới có phản ứng: “Cốt Dung, Tôn Thượng đang hỏi Cốt Dung à? Ồ, Cốt Dung, cổ không sao, vẫn ngủ yên ở Ba Trủng, năm ngoái tôi còn đến hang động cô ấy ngủ để nhìn một một cái, ngủ rất say.”
“Vậy sao?” Đôi chân mày hơi chau lại của Tổ Thị giãn ra, mỉm cười, “Vậy thì tốt.” Như có chút cảm khái, “Đã hai mươi bốn vạn năm rồi, Cốt Dung ở Ba Trủng lâu như vậy, cũng nên tỉnh rồi.” Trong lúc nói chuyện, nàng biến ra một cái bình ngọc trắng, cắn đầu ngón tay, nhỏ một giọt máu vào trong bình, rồi động ngón tay dán kín bình ngọc lại, đưa qua, nói, “Lát nữa, ngươi xem lúc nào được thì mang theo giọt máu này đến Ba Trủng gọi Cốt Dung tỉnh dậy đi, biết ta trở về, hẳn em ấy rất vui mừng.”
Sau khi căn dặn xong, nàng đứng dậy, Sương Hòa cũng đứng dậy, theo kinh nghiệm trước đây, đây đã xem như nói xong chính sự rồi. Sương Hòa đang suy tư tiếp theo có phải nên đề nghị cùng đi với nàng đến biển Trường Sinh tìm Ân Lâm không thì Tổ Thị đang đi trước mặt bỗng nhiên xoay người lại.
Nàng đứng đối diện y, sắc mặt có mấy phần lơ đễnh, giống như đột nhiên nghĩ ra nên thuận tiện hỏi: “Đúng rồi, vừa rồi ngươi cho rằng ta muốn nói đến ai?”
Bởi vì trong lòng có quỷ nên Sương Hòa phản ứng cực nhanh, y lập tức hiểu ra ý của Tổ Thị, da đầu bỗng nhiên tê rần.
Tổ Thị nói không sai, vừa rồi khi nàng nói muốn hỏi Sương Hòa chút chuyện, Sương Hòa đích thực không ngờ rằng nàng sẽ hỏi đến Cốt Dung, mà cho rằng nàng hỏi đến Liên Tống. Mà khi nàng biểu lộ thái độ phức tạp muốn biết đáp án lại sợ biết được đáp án, Sương Hòa thực sự cho rằng điều Ân Lâm lo lắng đã thành sự thực — trước khi rơi vào giấc ngủ say, Tôn Thượng của bọn họ vẫn chưa thành công bóc tách ký ức có liên quan đến Thủy Thần, nàng vẫn nhớ được Thủy Thần.
Giây phút đó Sương Hòa chỉ cảm thấy tuyệt vọng, trong đầu nổi lên hàng chữ — “Thủy Thần đã quên Tôn Thượng của chúng ta rồi, nhưng Tôn Thượng chúng ta vẫn còn nhớ hắn, thôi rồi thôi rồi, đây là O kịch nhân gian gì đây!” “O kịch” chính là “thảm kịch”, bởi vì Sương Hòa không biết mặt chữ lắm, không biết chữ thảm viết thế nào, cho nên chữ thảm in đậm trong đầu được đại diện bằng một vòng tròn in đậm. O kịch nhân gian. Thảm kịch nhân gian.
Hàng chữ này trôi nổi trong đầu Sương Hòa xấp xỉ hai mươi lần, Tổ Thị mới lên tiếng. Y không ngờ rằng người nàng hỏi lại là Cốt Dung. Nói thật thì mối quan hệ giữa Sương Hòa và Cốt Dung cũng như vậy, hơn hai mươi vạn năm trước khi cùng nhau ở Cô Dao, hai người ba ngày gây một trận nhỏ, bảy ngày gây một trận to, nửa tháng đánh nhau một lần. Cho nên nghe Tổ Thị quan tâm Cốt Dung, Sương Hòa tuyệt đối không hề cao hứng, nhưng y lại thở phào. Là thở phào thực sự. Tổ Thị tỉnh, người quan tâm nhất rõ ràng chính là Cốt Dung, vậy chắc chắn là đã quên Thủy Thần rồi.
Lộ trình cảm xúc của y lúc đó chính là như vậy.
Y tự cảm thấy nội tâm mình tuy rằng kinh tâm động phách, nhưng trên mặt không biểu lộ gì, y nghĩ không ra Tổ Thị vì sao có thể phát hiện được. Nhưng dù sao Tổ Thị cũng phát hiện rồi. Y không khỏi phải tìm cách lấp liếm.
Bởi thế, y mỉm cười gượng gạo che đậy chân tướng: “Đâu có ai đâu, tôi cho rằng ngài muốn nói tới Cốt Dung đó chứ. Haha.”
Tổ Thị khẽ thở dài: “Hơn hai mươi vạn năm không gặp, không ngờ Sương Hòa cũng biết nói dối rồi, còn nói rất giống nữa cơ chứ,” Nàng hoàn toàn không quở trách y, thậm chí còn bật cười, sau đó nói, “Nhưng vậy thì không tốt.”
Thế nhưng câu này đã đủ tác dụng với Sương Hòa, y lập tức sững người, “Tôi không đủ tốt á?” Sương Hòa ngơ ngác hỏi.
Từ khi được Tổ Thị điểm hóa, Sương Hòa liền xem chuyện trở thành một thần sứ tốt khiến cho thần chủ hài lòng chính là mục tiêu lớn nhất đời thần của mình, luôn hướng về mục tiêu này mà phấn đấu. Mấy vạn năm qua, Tổ Thị vẫn luôn cảm thấy y tốt lắm, y cũng luôn vì vậy mà đắc ý, nhưng vừa rồi Tổ Thị lại bảo y không được tốt lắm, làm bầu trời của Sương Hòa đổ sập. Trời đã sập thì y chẳng còn giữ được bí mật gì: “Tôi, tôi cho rằng ngài muốn hỏi Thủy Thần.”
Nghe đến cái tên này, Tổ Thị từ từ mở to mắt. “Thủy Thần?” Nàng hỏi, “Ngươi đang nói đến Thủy Thần à?” Nàng hỏi ngược lại hai lần.
Sương Hòa kiên trì đến cùng, nói “Phải.”
Tổ Thị hơi nhíu mày, giống như đang suy tư, tiếp đó, nàng ngẩng đầu lên hỏi Sương Hòa: “Tại sao ngươi lại cảm thấy ta sẽ hỏi ngươi về Thủy Thần?” Nàng ngừng một chút, đôi mắt toát lên nghi hoặc, “Có lẽ bởi vì chuyển kiếp rồi lại ngủ say, có rất nhiều chuyện trước đây ta không nhớ rõ nữa. Lẽ nào trong quá khứ mà ta không nhớ được rõ ràng ấy, Thủy Thần đã giáng sinh rồi, hơn nữa còn có giao thiệp gì với ta?”
Trong lòng Sương Hòa vang lên tiếng ‘lộp độp’. Y đơn thuần, cẩu thả, có khả năng còn không quá thông minh, nhưng y không ngốc. Từ phản ứng của Tổ Thị xem ra, nàng thực sự quên mất Thủy Thần rồi, nhưng nhờ ơn y, trong tình huống hoàn toàn quên mất Thủy Thần, nàng dường như lại nảy sinh hứng thú với hắn… Sương Hòa muốn chết cho xong. Nàng xưa nay thông tuệ, y nên nói thế nào mới có thể khiến nàng tin nàng kỳ thực không có mối quan hệ gì đặc biệt với Thủy Thần? Tuy rằng nàng ngây thơ, nhưng cực kỳ khó lừa, cả cái Cô Dao này có thể lừa được nàng chỉ có mình Tuyết Ý, bây giờ y đi vời Tuyết Ý đến làm cứu binh có còn kịp nữa hay không?
Đương lúc mồ hôi của Sương Hòa đổ ra như tắm, thanh âm của Tuyết Ý được y nhắc đến bỗng nhiên đúng lúc xen vào: “Thời đại Hồng Hoang, trong năm đại thần Tự Nhiên duy chỉ có mỗi Thủy Thần là chậm trễ chưa giáng sinh, trước khi cửa Nhược Mộc mở ra, không phải Tôn Thượng luôn ghi nhớ chuyện này sao?”
Sương Hòa ngẩng đầu nhìn sang, thấy Tuyết Y đi theo Ân Lâm và Chiêu Hi cùng nhau đến đây. Ngoài ba trượng, ba người đứng vững, cúi đầu bái Tổ Thị. Đến đây, Sương Hòa mới nhớ ra vừa rồi y còn chưa bái thần chủ, vội vã làm theo mọi người bái một lần, tuy là cúi đầu mà bái, nhưng ánh mắt vẫn không nỡ rời xa gương mặt của Tổ Thị, chỉ thấy thần chủ của bọn họ hơi mỉm cười, ngón tay trắng như bạch ngọc từ trong ống tay áo lưu vân thò ra một chút, hơi ấn nhẹ xuống, là động tác nàng vẫn thường làm, nhằm bảo họ miễn lễ, sau đó nàng nhìn Tuyết Ý, dường như rất hiếu kỳ: “Lúc đó ta rất trông đợi Thủy Thần giáng sinh sao?” Lại giống như ngỡ ngàng, “Ta không nhớ được chút nào hết.”
Thấy phản ứng này của Tổ Thị, Sương Hòa lập tức cảm thấy căng thẳng, nhưng Tuyết Ý, không thẹn là chúa trong làng đường hoàng ăn nói linh tinh, điệu bộ của y chẳng có chút căng thẳng gì, biểu cảm trên mặt như thể cả bốn bể tám cõi này chỉ mình y thành thật nhất: “Dù sao cũng là chuyện xảy ra rất lâu rồi,” Tuyết Ý mỉm cười nói, “Hơn nữa sau khi hồn phách của Tôn Thượng phục sinh từ trong ánh sáng thì liền bước vào phàm thế luân hồi, luân hồi quấy nhiễu, những chuyện đã qua không quan trọng, Tôn Thượng nhớ không được cũng bình thường thôi. Chẳng qua là ngày xưa Tôn Thượng trông chờ Thủy Thần giáng sinh, chúng tôi đều nhìn thấy rõ, Sương Hòa thì càng nhớ rõ trong lòng. Bảy vạn năm trước, Thủy Thần đã giáng sinh rồi, chắc hắn nghĩ ngài sẽ quan tâm đến chuyện này, cho nên mới cho rằng ngài muốn hỏi đến Thủy Thần.” Nói đến đây, giống như bất đắc dĩ mà bật cười, “Sương Hòa chính là thế ấy, không giấu được chuyện ở trong lòng, Tôn Thượng cũng biết rõ mà.”
Sương Hòa khâm phục chết Tuyết Ý, ăn nói linh tinh đến mức vừa chân thành vừa có lý như vầy, y nghe mà còn ngẩn người ngơ ngác, tự mình cũng tin bản thân là bởi nhớ rất rõ chuyện Tổ Thị trông đợi Thủy Thần giáng sinh nên mới cho rằng Tổ Thị sẽ chủ động nhắc đến Thủy Thần với mình.
May mắn chính là, Tổ Thị cũng tin, vẻ bừng tỉnh lộ ra trên gương mặt nàng: “Hóa ra là vậy.” Nàng lẩm bẩm nói. Cụp mắt nhớ lại một lúc, tiếp đó, nàng nhìn về phía Ân Lâm và Chiêu Hi vẫn đang im lặng đứng một bên: “Dường như ta có hơi nhớ ra rồi, hẳn là ta đã từng trông đợi Thủy Thần giáng sinh,” Lại mỉm cười, “Đúng rồi, có phải ta còn làm cho y một cái trống bỏi, chờ đến khi y giáng sinh rồi tặng y không?”
Ân Lâm lặng người, không lập tức hồi đáp, Chiêu Hi nhìn Ân Lâm một cái, nói trước: “Thời gian tôi ở cạnh Tôn Thượng không lâu bằng Ân Lâm, hoàn toàn không biết chuyện cái trống bỏi này. Nếu Tôn Thượng sớm đã làm vật ấy tặng cho Thủy Thần, vậy chắc Ân Lâm biết.” Nói xong liền nhìn Ân Lâm một cái, tiếp đó liếc mắt sang Tuyết Ý. Bốn đại thần sứ ngoại trừ Sương Hòa đầu óc không được tốt lắm, ba người còn lại xưa nay đều ngầm hiểu ý nhau, mọi người đều hiểu rõ trong lòng, lời này của Chiêu Hi cộng thêm hai cái liếc mắt tiếp đó, chính là hi vọng Ân Lâm có thể phát huy cho tốt, nếu như phát huy không tốt, Tuyết Ý có thể kịp thời giúp Ân Lâm lấp liếm vào.
Ân Lâm đưa mắt nhìn lại Chiêu Hi, chuyện cái trống bỏi này, đích thực y có biết một chút.
Y là thần sứ được Tổ Thị điểm hóa sớm nhất, khi nàng mới tròn hai vạn tuổi, y đã đi theo nàng. Lúc ấy Tổ Thị không có thất tình lục dục, nhìn qua tuy rằng tĩnh lặng lạnh lùng, nhưng thực tế cực kỳ ngây thơ, thường xuyên có cử chỉ rất non nớt. Trong núi Cô Dao có một cây đàn hương già, trước khi Tổ Thị giáng sinh thì đã cắm rễ ở bờ biển Trường Sinh, thỉnh thoảng sẽ kể cho y nghe chuyện Tổ Thị lúc nhỏ.
Nghe nói khi Tổ Thị được hơn bảy nghìn tuổi, có một buổi tối nằm mộng tiên tri, dự kiến được Hỏa Thần sắp sửa giáng thế, bởi vậy ngày tiếp theo nàng liền ra sau núi, tìm một loại ngọc tốt, nói với cây đàn hương già rằng nàng muốn làm một cái trống bỏi tặng cho Hỏa Thần làm quà sinh nhật. Tổ Thị lúc đó, kỳ thực vốn dĩ không hiểu tình bạn là gì, chỉ là vào dịp nàng giáng sinh, Mẫu Thần từng đến Cô Dao, tặng cho nàng một cái cửu liên hoàn, đó chính là món quà mừng sinh thần mà vị thần Tự Nhiên đầu tiên của thế gian — thần Nữ Oa trước khi vá trời mà ngủ say từng chính tay làm tặng cho nàng. Sau khi có được cái cửu liên hoàn đó, bé Tổ Thị liền tự nảy ra chủ ý cần phải làm một món đồ chơi thú vị tặng cho các thần Tự Nhiên giáng sinh sau để mừng ngày bọn họ giáng thế.
Sau khi làm xong cái trống bỏi không lâu, cây đàn hương già cùng Tổ Thị ra khỏi đầm lần đầu tiên, thăm viếng Tạ Minh.
Bọn họ đến bên vực Thiếu Hòa ở Nam Hoang, gặp bé Hỏa Thần Tạ Minh được Người Cai Quản Gió Sắt Già ôm trong lòng. Bé gái an tĩnh mở to đôi mắt đen láy hiếu kỳ nhìn Tổ Thị. Tổ Thị lắc lắc cái trống bỏi màu đỏ chọc ghẹo bé, chọc được một lúc, rồi ngẩng đầu hiếu kỳ hỏi Sắt Già: “Năm đại thần Tự Nhiên đã giáng sinh được bốn người, chỉ còn mỗi Thủy Thần chưa giáng sinh thôi, Sắt Già ca ca có biết Thủy Thần bao giờ sẽ giáng sinh không?”
Bé Tạ Minh mở to đôi mắt nằm trong lòng Sắt Già tức khắc vươn tay đánh vào cái trống bỏi trước mặt một cái, hừ hừ hai tiếng, Sắt Già buồn cười vuốt ve trán bé, rồi nhìn Tổ Thị: “Em không thể gọi ta là ca ca, con bé sẽ giận đó.” Lại nói, “Em là thần dự tri, ngay cả em còn không có cách nào biết được Thủy Thần dự kiến bao giờ giáng sinh, thì ta càng không thể biết.”
Nghe Sắt Già trả lời, Tổ Thị thất vọng cảm thán: “Em chưa từng nằm mộng tiên tri chuyện có liên quan đến Thủy Thần.” Nghĩ một lúc, “Nhưng em cảm thấy chắc sẽ nhanh giáng sinh thôi,” Lại thơ ngây hỏi Sắt Già, “Em đang nghĩ có nên làm tặng cho Thủy Thần một cái trống bỏi nữa không, Sắt Già ca…” Mắt thấy gương mặt an tĩnh của bé Tạ Minh bắt đầu nhíu lại, sắp sửa vươn tay đánh vào trống bỏi, nàng lập tức chữa lại, “Sắt Già,” Hơn nữa còn lui về sau hai bước, cách Sắt Già một khoảng khá xa, “Anh nghĩ nếu em làm một cái trống bỏi màu xanh tặng cho Thủy Thần, y có thích không?”
Lúc đó Sắt Già cũng chẳng qua mới có hai vạn tuổi hơn, còn vẫn thích đùa, nghe vậy còn thực sự nghiêm túc suy nghĩ về đề nghị của Tổ Thị, sau đó trịnh trọng hồi đáp câu hỏi của nàng: “Ai mà không thích trống bỏi chứ, trẻ con đều thích cả mà.” Vừa nói vừa nhận lấy cái trống bỏi màu đỏ trên tay nàng, cúi đầu dịu dàng đùa nghịch với bé Tạ Minh trong lòng. Bé Tạ Minh ngáp một cái, nể mặt mỉm cười với Sắt Già.
Sau khi đến vực Thiếu Hòa tặng quà xong, cây đàn hương già theo Tổ Thị trở lại Cô Dao.
Về đến Cô Dao không lâu, Tổ Thị liền làm một cái trống bỏi màu xanh. Đây chắc là duyên phận sớm nhất giữa Tổ Thị và Liên Tống.
Sau khi Ân Lâm trở thành thần sứ Cô Dao, động Linh Lộ là động phủ mà Tổ Thị chứa đồ liền về tay y quản lý. Y từng thấy qua cái trống đó rồi, vòng trống bằng ngọc xanh, mặt trống màu trắng ngà, thân trống có treo hai viên ngọc trai đen tròn trịa, vô cùng tinh xảo mà trẻ con rất thích. Nhưng Ân Lâm chưa từng hỏi Tổ Thị chuyện có liên quan đến cái trống bỏi này.
Lần đầu tiên Tổ Thị nhắc đến Thủy Thần trước mặt Ân Lâm, chính là lúc nàng được bốn vạn tuổi thành niên, nàng nằm mộng tiên tri chuyện có liên quan đến Thủy Thần. Trong giấc mộng đó, nàng dự kiến được tiên duyên giữa nàng và vị thần hơn hai mươi vạn năm sau mới giáng sinh ấy. Tiếp theo, trong những giấc mộng dài suốt mấy vạn năm có liên quan đến Thủy Thần, nàng gần như không phân rõ đâu là mộng đâu là thực. Thủy Thần trong lòng nàng đã không còn là một vị thần trong nhóm thần Tự Nhiên đơn thuần, chàng đã trở thành người đặc biệt nhất với nàng. Nàng đương nhiên không thể dùng món lễ vật đơn giản, trẻ con đó để mừng Thủy Thần giáng sinh được.
Ân Lâm còn nhớ, đó chính là vào hai mươi bốn vạn năm trước, trước khi cửa Nhược Mộc mở ra. Vị thần Sáng Thế cuối cùng của thế gian là thần Thiếu Quán chung quy cũng biết được sứ mệnh của mình, đến Cô Dao tìm Tổ Thị giúp đỡ, hi vọng nàng có thể giúp mình mở cửa Nhược Mộc, đưa tộc Người đến phàm thế.
Tổ Thị chấp nhận lời thỉnh cầu của Thiếu Quán, hơn nữa còn giúp Thiếu Quán trị liệu vết thương do cây độc đâm trúng lúc thăm dò phương pháp mở cửa Nhược Mộc. Thiếu Quán muốn báo đáp Tổ Thị, hỏi nàng muốn gì. Tổ Thị suy tư một lúc, sau đó hỏi Thiếu Quán: “Nghe các hoa cỏ ngoài núi nói, trên phương diện âm luật, thế gian chỉ có Thượng thần Mặc Uyên được xưng tụng là u lan quân tử có thể so bì với cô, chuyện này có thật không?”
Thiếu Quán quân cong mắt cười: “Nếu như là người khác hỏi tôi, tôi nhất định nói cho bọn họ biết trên mọi phương diện tôi đều thắng Mặc Uyên.” Nàng tiến sát gần Tổ Thị hơn một chút, “Nhưng nếu là cô, đương nhiên tôi phải nói thật. Trong tám âm luật, luận Kim, Thạch, Thổ, Cách, Mặc Uyên không bằng tôi, nhưng luận Tơ, Mộc, Bào, Trúc, tôi không bằng chàng.” Nói xong mỉm cười, “có điều cô hỏi tôi cái này, để làm gì chứ?”
Mặt nạ bằng ngọc xanh giấu đi biểu cảm của Tổ Thị, chỉ có thể nghe thấy giọng nói nàng, ấm áp, dịu dàng, không nhanh không chậm vang lên: “Tôi muốn nhờ cô dạy tôi làm sáo, tôi muốn làm ra một cây sáo thiêng tuyệt thế vô song, thiên hạ không có vật gì sánh được.”
Đây hiển nhiên là đáp án nằm ngoài dự liệu của Thiếu Quán quân, nàng nhíu mày: “Ồ? Cần biết sáo tốt xứng với người tài, theo như tôi biết, Quang Thần không hề biết âm luật, hơn nữa cả Cô Dao dường như cũng không có ai đặc biệt tinh thông âm luật, nên,” nàng chống cằm, tràn ngập hứng thú nhìn Tổ Thị, “Sao cô lại muốn làm ra cây sáo thiêng này?”
Mơ hoài mấy vạn năm khiến Quang Thần hiểu được một chút thất tình, nhưng tuy rằng hiểu được một chút tình, cũng chỉ là cảm tri hết sức mỏng manh nông cạn, bởi thế nàng vẫn giữ được vẻ non nớt, hoàn toàn không biết lúng túng hay bối rối là gì, hết sức chân thành nói với Thiếu Quán: “Bởi vì Thủy Thần giáng sinh vào thời thần kỷ mới cực kỳ giỏi thổi sáo, nhưng chàng kén chọn, tầm nhìn rất cao, thời đại nơi chàng sống không ai có thể làm được một cây sáo hợp ý để chàng sử dụng. Chàng vẫn luôn muốn có một cây sáo vừa tay, tôi thấy chàng thất vọng, cho nên muốn làm một cây sáo hợp với tâm ý chàng để tặng chàng.”
Thiếu Quán vô cùng cảm khái: “Tình cảm giữa thần Tự Nhiên các cô thật là…”
Tổ Thị ngắt lời nàng: “Chàng không phải là thần Tự Nhiên tầm thường, mà là thần có tiên duyên với tôi.”
Thiếu Quán: “…”
Thời điểm đó Ân Lâm đứng một bên hầu hạ, chính tai nghe được đoạn đối thoại này. Thiếu Quán không ngờ Quang Thần vô tình vô dục cũng có tiên duyên được thiên mệnh chú định, hỏi Tổ Thị thêm mấy vấn đề, sau đó chấp nhận dạy nàng làm sáo.
Hai người bế quan trong động Lan Nhân bốn mươi chín ngày, làm ra một cây sáo bạch ngọc toàn thân lấp lánh, chính là sáo Vô Thanh mà hậu thế vẫn gọi. Nhưng bởi vì Tổ Thị trên phương diện nhạc lý thực sự có hơi… thế nên có thể làm ra sáo này, phần lớn là nhờ công sức của Thiếu Quán, vì vậy Tổ Thị hoàn toàn không cảm thấy sáo này là do nàng tạo ra, cũng không muốn mang cái hư danh người làm sáo, ngược lại tặng sáo này cho Thiếu Quán, dự định sẽ làm một vật gì đó khác cho Thủy Thần. Nhưng còn chưa đợi được nàng nghĩ ra phải làm cái gì, thời cơ cửa Nhược Mộc mở ra đã đến.
Ân Lâm vẫn nhớ mãi không quên, thời điểm đó Tổ Thị lòng đầy tiếc nuối, khẽ thở dài, nói quà mừng sinh nhật Thủy Thần, chỉ có thể nợ lại đến khi nàng trở về rồi lại làm cái khác thôi. Nàng không hề nhắc đến cái trống bỏi kia, Ân Lâm cảm thấy nàng đã quên nó mất rồi. Về sau, đêm trước khi cửa Nhược Mộc mở ra, Cốt Dung vẫn luôn âm thầm ghi nhớ chuyện cái trống bỏi kia nên đã lén lút lẻn vào động Linh Lộ, trộm mất cái trống bỏi đó, hơn nữa sau khi cửa Nhược Mộc mở ra, nàng mang theo nó tiến vào trong giấc ngủ triền miên dài đến hai mươi vạn năm hơn mà Tổ Thị đã an bài sẵn cho nàng.
Đó chính là nơi ở cuối cùng của cái trống đó.
Nhớ đến đây, dù là Ân Lâm, cũng khó tránh bùi ngùi.
Chiêu Hi gọi y một tiếng: “Ân Lâm?”
Y mới hồi phục tinh thần.
Ân Lâm sau khi hồi phục tinh thần liền ho nhẹ một tiếng, thế sự lưu chuyển hơn ba mươi vạn năm khiến y vừa thấy thế sự thăng trầm vừa thấy thổn thức, nhưng y hoàn toàn không phải kẻ thương xuân sầu thu gì, nên tức thì chỉnh lý được tâm trạng, trịnh trọng hồi đáp Tổ Thị vấn đề có liên quan đến cái trống bỏi kia: “Khi ấy Tôn Thượng có làm một cái trống bỏi cho Thủy Thần,” Y dừng một lúc, mặt không đổi sắc nói linh tinh, “Nhưng Thủy Thần chậm trễ mãi không giáng sinh, mà Cốt Dung lại thích cái trống đó, nên ngài liền tặng nó cho Cốt Dung rồi.” Đầu mày Tuyết Ý khẽ động, thản nhiên nhìn Ân Lâm một cái, Ân Lâm cũng nhìn trả lại Tuyết Ý một cái, tiếp tục mặt không đổi sắc hướng về phía Tổ Thị: “Sau đó, trời đất có rất nhiều chuyện lớn phải làm, Tôn Thượng cũng không rảnh nghĩ xem sẽ chuẩn bị quà sinh thần nào khác cho Thủy Thần, chuyện này thế là gác lại luôn không nhắc tới nữa.”
Tổ Thị ngẩn người: “Hóa ra là vậy sao?” Nàng hơi nghiêng đầu, nói khẽ, “Vậy hôm nay, nếu ta đã trở về, có phải nên tặng bù lễ vật này không?” Trong giọng nói ẩn chứa một chút mơ hồ không chắc chắn được, giống như tự nói với mình, lại giống như đang thương nghị với bọn họ.
Ân Lâm im lặng, vốn dĩ y rất muốn nói với nàng rằng không cần bù lễ, đến khi sắp mở miệng, lại bỗng nhiên nhớ đến trước khi cửa Nhược Mộc mở ra, Tổ Thị nhắc đến Thủy Thần còn chưa giáng sinh nhưng lại khiến nàng không sao buông bỏ được lần cuối cùng. Nàng nói: “Quà sinh nhật nợ chàng, chỉ đành đợi ta quay về lại làm cái khác cho chàng thôi, đến lúc đó ta muốn làm một vật là sở trường của ta, mà chàng cũng rất thích.” Trong ngữ điệu thở than khẽ khàng ấy, hàm chứa cảm xúc tiếc nuối và thất vọng, cũng bao gồm cả sự trông mong yếu ớt, không dễ khiến người ta nhận biết, nhưng rung động lòng người, giống như đây chính là lời nguyện cầu nàng mong mỏi nhất, khao khát nó biến thành sự thật nhất trên thế gian này.
Nhưng chẳng ai ngờ được rằng, khi Quang Thần cuối cùng cũng trở về, thức tỉnh trong thời tân thần kỷ mà Thủy Thần giáng sinh, giữa hai người lại có tình cảnh này. Ân Lâm trầm mặc một lúc, đè nén lý trí lại, nén giọng trả lời Tổ Thị: “Nếu như Tôn Thượng muốn tặng bù món quà này, thì cứ bù đi.” Y ngừng một lúc, dịu giọng bổ sung một câu, “Tôn Thượng có thể làm một vật là sở trường của ngài, mà Thủy Thần cũng rất thích.”
Tuyết Ý hơi ngạc nhiên nhìn Ân Lâm một cái. Lần này, Ân Lâm không đáp lại ánh mắt của y.
Tổ Thị chắp tay vào nhau, đặt cằm trên những ngón tay trắng như băng tuyết. Đây là một động tác hoạt bát, nũng nịu, mà hai mươi vạn năm trước Tổ Thị chưa từng làm.
Quang Thần tuy rằng sinh ra ở thời Hồng Hoang, là thần Hồng Hoang, nhưng bởi vì năng lực tiên tri gây hao tổn tinh thần quá mức, nàng là vị thần động một tí liền cần phải ngủ say nghìn năm vạn năm để nuôi dưỡng lại tinh thần. Thời gian Quang Thần tỉnh táo sống ở thế gian, cộng thêm nhiều vô số kể con số, thì chẳng qua cũng chỉ có năm vạn năm hơn, thực ra có thể xem như một tiểu nữ thần hơn năm vạn tuổi có vai vế cực kỳ cao cũng được.
Một nữ thần thế này, lại mang gương mặt thiếu nữ ngây thơ, ngọt ngào thế này, khi làm động tác thế này, chỉ khiến người ta cảm thấy đáng yêu, hoàn toàn không cảm thấy trái với lẽ thường, thậm chí ngay cả với Ân Lâm, điều này còn khiến y nảy sinh cảm giác tựa như nàng vẫn còn đang lịch kiếp tu hành ở triều Đại Hi nơi phàm thế.
Cô gái ngây thơ ấy hơi nghiêng đầu, nhẹ nhàng nói với y: “Thủy Thần đã là một thanh niên rồi, ta nghĩ hôm nay y cũng không còn thích trống bỏi nữa đâu, thế ta tặng y một cái nỏ vậy, ngươi thấy được không?”
Ân Lâm nhìn nàng, đè nén cảm xúc trong lòng, cố gắng nặn ra một nụ cười: “Người giỏi làm cung nỏ nhất thế gian chính là Tôn Thượng, cung nỏ do Tôn Thượng chế tạo, Thủy Thần nhất định sẽ rất yêu thích.”
Nàng mím môi cười, mắt thường cũng nhìn ra là đang phấn chấn. “Vậy thì tốt.” Nàng nói khẽ, “Rồi, chuyện khiến người ta vui vẻ nói đến đây thôi,” Nàng ngừng lại, nhìn ba người đứng ở trước mặt, “Tiếp theo ta phải nói chính sự rồi.”
Ba người liếc mắt nhìn nhau, sau đó đồng loạt nhìn Tổ Thị.
Nàng vẫn hết sức ôn hòa như cũ, giọng nói thậm chí còn nhẹ hơn vừa nãy, nhưng nội dung trong đó lại khiến cả ba người kia lặng im tại chỗ.
Nàng nói: “Khánh Khương trở lại rồi phải không? Ta mơ thấy hắn giết chết ta, ngay vào lúc ta chuẩn bị hiến tế vì bát hoang lần nữa.”
—————————————–
7 chém: Có ai đó đoán BOSS lớn là Khánh Khương không? Đúng rồi, mọi người còn nhớ Khánh Khương là ai không?


… Khánh Khương hình như là đồng chí Ma quân phát hiện ra cục trứng của chị Quán rơi xuống xong tôn cục trứng lên làm thủy tổ Ma tộc đúng ko nàng?
Huhu Tĩnh dịch hay quá, đọc đã gì đâu. Cuối tuần nằm trong hố truyện này quá thích
“Sau đó, lại hai nghìn năm trăm năm mươi bảy năm nữa qua đi, chính là năm thứ hai vạn chín nghìn chín trăm chín mươi ba năm sau khi Tổ Thị ngủ say.”
Tớ góp ý xíu đoạn này : 3 vạn năm là 30.000 năm.
30.000 – 29.993 = 7 năm à , hông phải 700 năm 😀
À đúng rồi, mình vừa check lại bản gốc. Hic gõ cũng nhầm nữa ngại ghê :((
Mình đã sửa. Cảm ơn bạn nhiều nha ^^