Tam Sinh Tam Thế – Bộ Sinh Liên
[Bát Hoang] – Quyển 4: Vĩnh Sinh Hoa – Chương 22
#tamsinhtamthe #bosinhlien #bathoang #vinhsinhhoa
Dịch (láo): A Tĩnh
———————-
Bảy ngày sau.
Trên Cửu Trùng Thiên.
Đây không phải lần đầu Ân Lâm đến cung Nguyên Cực. Trước đây khi đến nơi này, bất luận là để tìm Tổ Thị hay là tìm Liên Tống, y đều quen đường thuộc lối đi thẳng đến điện Kiến Tâm dùng để nghị sự ngồi chờ, nhưng hôm nay y lại không bước vào điện Kiến Tâm mà chỉ đứng dưới gốc cây Bồ Đề lớn ngoài vườn hoa chờ Liên Tống.
Tán cây Bồ Đề như mây, tán cây tựa áng mây kia tỏa ra bóng râm dày cao ngút, Ân Lâm nghiêm mặt đứng bên mép bóng cây, nghĩ đến chuyện xảy ra mấy ngày này, chỉ cảm thấy lòng nặng trĩu.
Ba ngày trước khi đang ở xa tận Nam Hoang, y nhận được thư do chim truyền tin của Tuyết Ý mang đến, nói Tổ Thị xảy ra chuyện rồi. Nhưng rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, Tuyết Ý lại không nói rõ, chỉ bảo y khẩn cấp về Cô Dao một chuyến. Y vội đi không nghỉ, ngay đêm hôm đó đã về đến trong đầm. Tuyết Ý chờ y trước đại trận bảo vệ Cô Dao, nhìn thấy y bèn thở dài: “Tôn Thượng đã biết chuyện lúc xưa giữa Ngài và Tam hoàng tử rồi.”
Y ngẩn người: “Sao thế được?”
Tuyết Ý mặt ủ mày chau dẫn y đến một nơi yên tĩnh, kể lại tường tận những chuyện xảy ra mấy ngày này.
Tuyết Ý dây dây thái dương: “Sau khi ta tìm thấy Sương Hòa bị nhốt ở núi Phát Sảng thì cùng với Sương Hòa đi theo ký hiệu do Tôn Thượng để lại mà tìm được Ngài và Cốt Dung ở bãi cây Thì Là nơi cửa núi Trà My. Ta không biết trong núi Trà My rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, nói chung là, Tôn Thượng trông cực kỳ bất ổn, người như mất hồn, hỏi Ngài cái gì, Ngài cũng như không nghe thấy. Nói thật, từ ngày được Tôn Thượng điểm hóa theo Ngài đến nay, ta chưa từng thấy Ngài như thế bao giờ.”
“Về đến Cô Dao, Ngài bèn lập tức vào phòng Quan Nam. Sau khi Tôn Thượng vào phòng Quan Nam không lâu thì Dung Dung tỉnh. Ta có hỏi Dung Dung trong núi Trà My rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, nhưng Dung Dung cũng chỉ nhớ mình bị Ma tộc bắt đi ở bãi Thì Là, sau đó như nào, Dung Dung hôn mê không biết gì cả.
“Tôn Thượng nhốt mình trong phòng Quan Nam một ngày hai đêm, hôm qua trời vừa sáng, cuối cùng cũng ra khỏi phòng. Tuy trông Ngài rất tiều tụy, nhưng dẫu sao cũng không thất hồn lạc phách như trước nữa, còn chủ động nói chuyện với ta, hỏi ta hai vấn đề.”
Tuyết Ý ngập ngừng, cảm giác nặng nề tràn ngập giữa đôi chân mày: “Ngài hỏi ta có biết năm xưa tại sao Ngài lại vứt bỏ quá khứ ở phàm thế giữa Ngài và Tam hoàng tử không, lại nói một ngày hai đêm này, Ngài đã kiểm tra thần hồn, phát hiện mình đã trúng phải chú thuật tâm lý, sau khi giải trừ chú thuật tâm lý xong, Ngài phát hiện ký ức của mình quả thật có kẽ hở.”
Nghe thấy tin tức này, đầu óc Ân Lâm ầm ầm chấn động, nhìn về phía Tuyết Ý.
Thấy y như vậy, Tuyết Ý thở dài: “Lúc đó ta cũng kinh ngạc giống như ngươi vậy. Núi Khảo Ma đó không phải có thể nghiệm tâm à, ta đoán có lẽ những cảnh nghiệm tâm đó đã gây ra vấn đề. Nhưng Ngài đã cảm nhận được đến mức này, ta cũng không tiện giấu nữa, chỉ đành nói hết cho Ngài nghe. Bao gồm cả tiền duyên giữa Ngài và Tam hoàng tử ở phàm thế, nguyên nhân Ngài bóc tách kí ức, sắp xếp của Ngài với Tam hoàng tử trước khi Ngài ngủ say, cùng với việc tại sao Đông Hoa Đế Quân lại thay đổi ký ức của Tam hoàng tử, Tam hoàng tử nhớ lại chuyện lúc xưa với Ngài lúc nào, ta đều nói hết cả, nhưng ta không đề cập đến chuyện ngươi và Chiêu Hi lừa gạt Tam hoàng tử.
“Sau khi nghe xong Ngài chẳng nói chẳng rằng, ngơ ngác lặng người ngồi một lúc lâu, đến khi ta lỡ tay đánh rơi chén trà Ngài mới hoàn hồn, hỏi ta câu hỏi thứ hai — Tượng người năm xưa Ngài sắp xếp cho Tam hoàng tử giờ đang ở nơi nào. Ta nói với Ngài hẳn là đang ở chỗ Đông Hoa Đế Quân. Ngài gật đầu, không nói năng gì liền ra khỏi cửa, biến mất một đêm, trưa nay mới vừa quay về.” Tuyết Ý nuốt nước bọt, “Khi quay về, còn mang theo tượng người đó.”
.
Trên trời có gió thổi qua, lá cây bồ đề múa may trong gió, sau lưng chợt có tiếng bước chân vang lên, ngắt dòng tư tưởng của Ân Lâm. Ân Lâm xoay người, nhìn về phía Liên Tống đang bước khoan thai chậm rãi. Chắc là thanh niên đi thẳng từ đan phòng đến đây, còn chưa thay áo bào tay hẹp cổ bạc đang mặc trên người, chẳng qua vóc người được trùm trong trường bào thẳng tắp vừa luyện chế hợp lực của năm nguyên tố càng tôn thêm vẻ cao lớn thanh tao của chàng.
Ân Lâm bước lên một bước, mở lời trước: “Tam hoàng tử.”
Thanh niên dừng lại ở chỗ cách y ba trượng: “Không biết Tôn sứ đến đây có điều chi dạy bảo.”
Sắc mặt thanh niên bình thản, nhẹ nhàng như gió thoảng mây bay, dường như chuyện xảy ra mấy ngày gần đây chưa từng xảy ra bao giờ. Việc này khiến cho Ân Lâm chứng kiến cảnh Tổ Thị thất thường ngơ ngẩn mấy ngày liền bỗng bùng lên lửa giận, nhưng y đè nén một bụng lửa giận này, chỉ nói: “Có vấn đề này ta không hiểu nên cố tình đến đây thỉnh giáo Tam hoàng tử.”
Có vài con chim sẻ bay tới, miệng ngậm một mảnh gấm hoa dệt nổi. Gấm hoa rơi xuống từ khoảng không, trải lên bàn ngọc và ghế ngọc gần đó. Thanh niên cúi người ngồi xuống ghế ngọc, một con chim sẻ màu xanh đáp xuống giữa ngón tay chàng, chàng gãi nhẹ lên chiếc cổ phủ đầy lông nhung của chú chim sẻ xanh kia: “Ồ? Vậy thì mời Tôn sứ nói thẳng ra, bản quân rửa tai chờ nghe kính cẩn.”
Ân Lâm chăm chú nhìn thanh niên mang vẻ thờ ơ lạnh nhạt, nhíu chặt mày: “Liên Tống quân.” Đây là lần đầu tiên y gọi thẳng tên thanh niên, “Ta vốn cho rằng ngươi đã buông bỏ được duyên pháp với Tôn Thượng, không còn lưu luyến quá khứ với Ngài nữa. Mười ngày trước nghe nói Thiên Quân muốn cầu thân Cô Dao, nói thật thì, ta vô cùng kinh ngạc. Nhưng lúc đó ta nghĩ, tuy rằng ngươi oán hận Tôn Thượng, nhưng càng yêu Tôn Thượng hơn. Có lẽ dưới sự giằng co tranh đấu, rốt cuộc tình yêu với Ngài vẫn lớn hơn hờn giận, vì thế ngươi đã tha thứ cho việc Ngài vứt bỏ ngươi, lựa chọn tiếp tục theo đuổi Ngài, còn nghĩ cách khiến Ngài chấp nhận ở bên ngươi. Ta tưởng rằng chuyện này mười phần đã có tám chín phần là vậy, thế nên cho dù thấy hai người không có tương lai tốt đẹp, ta cũng không ngăn cản Thiên Quân cầu thân Cô Dao.”
Ân Lâm cực lực khống chế nét mặt, đè nén phẫn nộ tận đáy lòng: “Nhưng hôm nay ta lại rất hoài nghi, Liên Tống quân, chiếu lý, ngươi và Tôn Thượng đôi bên có tình, hẹn ước uyên ương, chính là sở nguyện xưa nay của ngươi mới phải. Nguyện vọng trước nay đã thành sự thật rồi, không phải ngươi nên vui sướng sao, tại sao lại chính tay hủy đi duyên phận khó khăn lắm mới giành lại được này?
“Ta đã nghĩ rất lâu, cuối cùng chỉ nghĩ ra được một khả năng. Ngay thời điểm này, nói rõ cho Tôn Thượng vốn không biết chút gì về tiền duyên của ngươi với Ngài, rằng Ngươi nhận sai người, yêu sai người rồi, Ngài và Thành Ngọc không phải một người, còn bảo Ngài trả lại người phàm Thành Ngọc cho ngươi, là ngươi rắp tâm sắp đặt từ lâu, đúng không?”
Y nhìn thẳng vào mắt thanh niên, ánh mắt tối tăm: “Là ngươi đang trả thù Tôn Thượng, đúng không?”
Sau khi Tổ Thị đem tượng người kia về Cô Dao liền tiếp tục bế quan trong phòng Quan Nam, hai ngày ba đêm sau mới ra ngoài. Sau khi ra ngoài, Tổ Thị chủ động tìm y, nói với y rất nhiều chuyện, căn dặn y một vài điều. Nhưng, cũng giống như Tuyết Ý, y cũng không thể thăm dò được Tổ Thị rốt cuộc trong núi Trà My đã xảy ra chuyện gì. Chẳng qua y hiểu rằng Liên Tống đã nói cho Tổ Thị biết giữa hai người từng có một đoạn quá khứ, cũng chính Liên Tống đòi tượng người kia từ chỗ Tổ Thị. Nhưng tại sao Liên Tống lại làm vậy, Tổ Thị tuyệt nhiên không nhắc.
Vì lúc đó thần sắc của Tổ Thị thật sự không tốt lắm, y cũng không dám hỏi nhiều, chỉ đành âm thầm suy đoán sau lưng, mà đáp án y đoán ra chính là thế này: “Ngươi đang trả thù Tôn Thượng, đúng không?”
“Ta không biết Tôn sứ đang nói cái gì.” Thanh niên điềm nhiên đáp.
Ân Lâm siết chặt nắm tay, không còn đè nén được lửa giận tận sâu đáy lòng: “Đừng giả vờ ngây thơ nữa, lẽ nào không phải ngươi vẫn luôn hận Tôn Thượng ngày đó đã vứt bỏ ngươi? Trăm phương ngàn kế mê hoặc Ngài với tư cách là thần, khiến Ngài thêm một lần nữa yêu ngươi, sau đó vào lúc Ngài cuối cùng cũng thừa nhận yêu ngươi, ngươi lại vứt bỏ Ngài, nói cái gì đã tìm sai người, yêu sai người rồi, người phàm mà ngươi yêu đó không phải Ngài, Ha,” Y “xì” ra một tiếng chế giễu lạnh lùng, “Lẽ nào không phải là cách báo thù tuyệt hảo, đặc sắc nhất à?”
Cách đó ba trượng, thanh niên hơi ngẩng đầu, gương mặt vốn dĩ bình thản tựa mây trôi lúc này đã lạnh như sương giá: “Ân Lâm, ta khó lòng bỏ qua được chuyện nàng đã vứt bỏ ta, cùng từng vì thế mà trách nàng, thậm chí từng hận nàng, nhưng ta chưa từng làm chuyện bỉ ổi như vậy.” Thanh niên dừng lại, gương mặt toát ra vẻ ngờ vực, giống như thật lòng cảm thấy khó hiểu, hỏi y, “Hôm đó không phải ngươi cũng đồng ý rằng nàng là nàng, Thành Ngọc là Thành Ngọc, hai người hoàn toàn không phải một à? Hôm nay, khó khăn lắm ta mới nghĩ thông, dự định chấp nhận sắp xếp của nàng, thỏa lòng cho cả đôi bên, không phải ngươi nên cảm thấy hân hoan mới đúng ư? Tại sao lại cảm thấy ta muốn Thành Ngọc trở về là sự báo thù đơn phương dành cho nàng chứ?”
Ân Lâm nghẹn họng. Y không trả lời được câu hỏi này, nhất thời không biết phải nói sao mới phải. Trầm mặc khiến y bình tĩnh hơn rất nhiều. Thực ra chuyến này y lên trời cũng không phải vì để quở trách Liên Tống, đây là chuyện Tổ Thị căn dặn y làm, chẳng qua y có lòng riêng mà thôi. Tổ Thị sai y đến cung Nguyên Cực là vì một chuyện khác.
Ân Lâm nhớ ra sau khi Tổ Thị rời khỏi phòng Quan Nam đã nói với y những gì.
.
Là cuối giờ Mão sáng nay.
Cuối giờ Mão, nắng mai lờ mờ ló dạng, trong đình đá ngoài phòng Quan Nam, Tổ Thị đưa mấy ngón tay không còn chút máu đẩy chiếc túi gấm màu đỏ gác trên bàn đá đến trước mặt y.
Vì lâu rồi không nói chuyện, giọng nói vốn dĩ trong trẻo của nàng đã hơi khản đi: “Ngươi đến Cửu Trùng Thiên một chuyến, giao chiếc túi gấm lâm lang này cho Tiểu Tam Lang, trong túi gấm này có chứa…”
Y không nhận lấy túi gấm đó, chỉ chăm chú nhìn gương mặt đã tái nhợt đến gần như trong suốt của Tổ Thị, ngắt lời nàng: “Mấy ngày này, Tôn Thượng nhốt mình với tượng người kia trong phòng Quan Nam để làm gì?”
Tổ Thị trầm mặc hồi lâu, ngước mắt nhìn ban mai cuối trời, trả lời y: “Ta tìm thấy được hồn châu còn chưa được gọi tỉnh trong thân thể tượng người kia, thâu lại ký ức chứa trong hồn châu, khiến nó nhập vào trong biển ký ức của ta lần nữa.”
Nghe Tổ Thị nói vậy, y kinh ngạc đến mức hồi lâu không thốt nên lời: “Ngài nói, Ngài đã đưa những ký ức đó trở lại trong thân thể Ngài…”
“Đúng vậy.” Tổ Thị gật đầu. Nàng ngồi tựa người trên ghế đá. Tóc mái thấm đẫm sương mai dán trên mép trán khiến nàng trông giống như một đóa hoa quỳnh vừa trải gió mưa, tuy vẫn đẹp đẽ như xưa, nhưng bị bệnh trạng làm cho suy nhược.
“Ta đã nghĩ rất lâu,” Nàng tiếp tục nói với giọng đã khản đi, “Duy chỉ có như vậy, mới có thể khiến ta triệt để hiểu được quá khứ đó rốt cuộc là thế nào. Mà hôm nay, ta đích thực cũng đã hiểu rõ hết thảy mọi thứ rốt cuộc là chuyện ra sao. Buồn cười biết bao.” Nàng thu hồi tầm mắt nhìn về phía xa, “Nếu như lúc đó ta biết ta sẽ tỉnh dậy sớm hơn, có cơ hội thay đổi vận mệnh của mình, sao ta có thể bóc tách ký ức liên quan đến chàng ra, sắp xếp một tượng người cho chàng. Nhưng có lẽ đây chính là vận mệnh.”
Nàng giơ tay đỡ trán, giống như một tượng ngọc thánh khiết được cung phụng trên vách núi cao, diễm lệ nhưng mỏng manh, bất cứ lúc nào cũng có thể rơi khỏi vách đá vỡ tan tành: “Dù sao thì nằm ngoài dự đoán, mới chính là vận mệnh.” Nàng lẩm bẩm như vậy, mày mắt cúi thấp, đôi mắt xưa nay sinh động đẹp xinh khép hờ, trong mắt không có lấy lờ mờ một tia sáng, “Lúc xưa, khi quyết tâm tạo ra tượng người đó cho chàng, ta chưa từng nghĩ sẽ có ngày này, đặt chính mình và tượng người kia ở trước mặt chàng cho chàng chọn lựa; ta cũng chưa từng nghĩ chàng sẽ muốn có tượng người đó còn hơn cả muốn ta; ta càng không ngờ rằng, chàng sẽ cảm thấy tượng người kia mới là A Ngọc mà không phải ta.” Bàn tay đỡ trán của nàng chầm chậm dời xuống, che hai mắt lại.
Lúc nói những lời này, gương mặt diễm lệ yếu đuối kia hoàn toàn không có biểu cảm gì lớn, đúng là khiến người ta không nhận ra được nàng có đau khổ hay không, nhưng Ân Lâm có thể cảm nhận được nỗi đau của Tổ Thị. Những đau đớn chưa từng bật thốt thành lời giống như đầm lầy ẩn tàng ở nơi thẳm sâu trong rừng rậm, vào lúc nó cắn nuốt chính nàng, nó cũng khiến người đến gần khiếp đảm.
Ân Lâm cảm thấy nghẹn ngào, gần như không thở nổi, mà những tin tức được tiết lộ qua lời Tổ Thị càng khiến Ân Lâm trong cơn nghẹt thở cảm thấy sợ hãi khôn cùng: “Nói Tam hoàng tử chọn tượng người kia, Ngài và Tam hoàng tử… sao rồi?”
Tổ Thị không trả lời câu hỏi của y. Rất lâu sau, nàng xòe bàn tay đang che mắt ra, thuận thế đưa xuống chống lên má phải, nghiêng đầu nhìn ra ngoài đình. Y không thấy rõ mặt nàng, chỉ có thể thấy ngón tay trắng nõn của nàng và chiếc mũi cao thẳng nhỏ xinh.
“Thực ra ta biết, hẳn các ngươi đã lừa Tiểu Tam Lang, mới khiến chàng hiểu lầm rằng ba vạn năm trước, ta vì cái gọi là đạo tâm nên mới vứt bỏ chàng. Có lẽ, tâm ma của chàng cũng sinh ra từ đó.” Hỏi một đằng đáp một nẻo, nàng chưa xoay đầu lại, chỉ để lại cho y thấy một bên mặt bị ngón tay giấu đi.
Ân Lâm ngừng thở. Tuyết Ý nói mình không nói cho Tổ Thị biết chuyện này. Nhưng Ân Lâm không ngờ được Tổ Thị còn đoán ra được cả chi tiết ấy. “Đó là bởi vì…” Y muốn giải thích.
Nhưng Tổ Thị không cho y nói tiếp. Nàng hơi nhấc tay ngăn y lại. “Cũng không trách các ngươi được, ta hiểu tại sao các ngươi phải nói thế, là muốn chàng hoàn toàn tuyệt vọng về ta, đúng không? Quả thật, đứng trên lập trường của các ngươi, ta và chàng còn tiếp tục dây dưa tuyệt đối chẳng có gì tốt đẹp. Nhưng ta vẫn không kìm được mà nghĩ, lúc đó, Tiểu Tam Lang nghe thấy những lời này hẳn đã đau khổ biết nhường nào, tuyệt vọng biết nhường nào, mà ta…” Nói đến đây, nàng dừng lại.
Ân Lâm nhạy bén phát hiện ra trong ngữ khí vẫn luôn điềm đạm tựa như vô cùng bình tĩnh đó của nàng đã xuất hiện đôi phần run rẩy. Y chau mày, chăm chú nhìn hình bóng nghiêng nghiêng của nàng một lát, đột nhiên nhấc tay giữ lấy cổ tay phải của nàng, ép nàng lấy bàn tay đang che nửa gương mặt đó ra. Tổ Thị ngây người, không tránh né, bình tĩnh nhìn y. Bấy giờ y mới phát hiện đôi mắt như quả hạnh của Tổ Thị đã đỏ hoe, đôi mắt âm u ngập tràn nước mắt.
Ân Lâm đột nhiên không biết nói gì, qua một lúc lâu, mới có thể cất lời: “Nếu như Tam hoàng tử vì hiểu lầm này mới giận dỗi Tôn Thượng, tôi có thể lập tức đi giải thích với hắn.” Y trịnh trọng nhìn nàng, “Lúc đó, tôi cảm thấy quên nhau giữa sông hồ với hai người mà nói mới là chuyện tốt nhất, nhưng bây giờ hai người đã đính hôn rồi, nên nói chuyện này cho rõ ràng ra, trừ bỏ hiểu lầm, cùng nhau đối mặt với kiếp số sắp đến đây cũng có thể xem như…”
Tổ Thị lắc đầu. “Không cần.” Nàng nhỏ giọng ngắt lời y, “Ngươi không hiểu.” Nàng ngừng lại, “Chàng cảm thấy ta đã vứt bỏ chàng.”
Nàng dõi mắt ra ngoài đình: “Ta chưa từng nghĩ chàng sẽ xem quyết định năm xưa của ta là vứt bỏ, nhưng nghĩ cho thật kĩ, dường như đó đích thực là một loại vứt bỏ. Đối với người đang có tâm ma trong người như chàng mà nói, năm xưa tại sao ta lại vứt bỏ chàng thật ra không quan trọng, quan trọng là kết quả ta đã vì một việc khác, một vật khác mà vứt bỏ chàng.”
Giọng nàng rõ ràng, nét mặt bình tĩnh, nhưng vành mắt càng lúc càng đỏ lên mà dường như cả nàng cũng không ý thức được: “Hai ngày nay bế quan trong phòng Quan Nam, ta không ngừng suy nghĩ, phải chăng ta nên nói với chàng nỗi khổ của ta, để chàng biết được ngày đó ta ra quyết định ấy cũng là bất đắc dĩ, ta cũng rất đau lòng, như thế, phải chăng chàng sẽ hiểu được ta, tha thứ cho ta? Nhưng mỗi lần như vậy, trong thâm tâm ta lại vang lên thêm một lời chất vấn khác – Chàng tha thứ cho cô, thì sao nữa? Khi trận đại kiếp kia sắp đến, nếu cô không thể thay đổi được số mệnh, cuối cùng vẫn phải lựa chọn giữa chàng và “đạo”, lúc ấy cô sẽ chọn thế nào? Cô có thể cam đoan sẽ không vứt bỏ chàng nữa không?”
Nói hết những lời này, nàng im lặng thật lâu. “Câu hỏi này, ta chỉ nghĩ một lần, nhưng đã nghĩ rất lâu. Cuối cùng ta phát hiện, ta không có cách nào đảm bảo mình sẽ không vứt bỏ chàng lần nữa.”
Nàng đưa mắt nhìn Ân Lâm đang ngồi trước mặt: “Mà lúc đó, Tiểu Tam Lang phải làm sao? Ngươi cảm thấy người đang có tâm ma như chàng, có thể chấp nhận bị ta vứt bỏ thêm lần nữa không?”
Ân Lâm lặng người.
“Chàng không thể đâu.” Nàng trả lời thay y. Mà cùng lúc khi thốt ra bốn chữ này, giọt lệ ngân ngấn trong mắt cuối cùng cũng trượt xuống theo đuôi mắt đỏ hoe, “Phải làm sao mới đúng đây, ta đã nghĩ hai ngày, cũng không nghĩ ra đáp án. Đây là một câu hỏi không sao giải đáp được.” Nàng hơi thở dài, “Chẳng qua may mà Tiểu Tam Lang đã tìm được lối ra cho chính mình, dùng lý do ta không phải Thành Ngọc để an ủi tâm ma đang xáo động. Tuy rằng chàng nghĩ vậy khiến ta rất đau khổ, nhưng nếu như chàng đã có thể lấy lại bình tĩnh nhờ nó, thôi thì cứ để chàng nghĩ vậy đi. Chàng muốn có một Thành Ngọc toàn tâm toàn ý yêu chàng, vĩnh viễn không tổn thương chàng, vứt bỏ chàng, thế thì… Cho chàng vậy.” Nàng nhắm mắt, lại đưa tay lên che mặt thêm lần nữa, lẩm bẩm, như tự nói với mình, “Giữa hai người bọn ta, xem thì có vẻ như quyền chủ động nằm trong tay ta, ta có thể có rất nhiều lựa chọn, nhưng thực ra, ta chẳng còn lựa chọn nào khác.”
Tổ Thị trước mặt đã hợp lại làm một với Tổ Thị hai vạn chín nghìn chín trăm chín mươi tám năm trước đứng ngoài động Lan Nhân, gắng gượng đau đớn nói với y duyên của nàng và Liên Tống chỉ đành dừng ở kiếp Thành Ngọc này thôi. Cả hai đều bi thương u uất, đều yếu đuối mong manh, đều tuyệt vọng, bơ vơ, bất lực, cũng đều khiến Ân Lâm cảm thấy buồn lòng.
Nội tâm Ân Lâm cực kỳ buồn bã. Y cảm thấy mình đang dấn thân vào một cánh rừng rậm rạp không một tơ gió lọt, trải ra trước mắt là một mảnh đầm lầy hoang vu nhưng hung hiểm, mà Tổ Thị đang đứng chính giữa đầm lầy, âm thầm chìm xuống.
“Chỉ vì không muốn khiến Ngài trải qua nỗi đau thế này thêm lần nào nữa, lúc ấy tôi mới chọn lừa gạt Tam hoàng tử.” Y khàn giọng nói. Khi nói lời này, ánh mắt lơ đãng quét qua bàn đá trước mặt, hơi dừng lại trên chiếc túi gấm màu đỏ gác trên bàn, vẻ như được chân lý sáng soi, Ân Lâm bất chợt hiểu ra trong túi gấm đó có gì.
“Ngài mới vừa nói, Ngài sẽ đưa Thành Ngọc cho Tam hoàng tử…” Y ra sức giữ bình tĩnh, nói từng câu từng chữ, “Nên trong túi gấm này, là chứa “Thành Ngọc” đó? Ngài đã gọi tỉnh linh hồn đó rồi à?” Yết hầu không kìm được liên tục nuốt xuống, y không sao tin được nhìn Tổ Thị, “Ngài thật sự muốn đưa cô ấy đến cung Nguyên Cực, để cô ấy thay Ngài làm chim liền cánh với người Ngài yêu? Ngài thật sự có thể trơ mắt nhìn hai người làm một đôi chim liền cánh cây liền cành, mà không hối hận?”
Trong đình cực kỳ yên tĩnh, duy chỉ có một cơn gió núi quét qua khẽ thổi lên một tiếng thở dài. Hồi lâu sau, Tổ Thị mới có động tĩnh. Nàng đặt bàn tay che mắt xuống, đôi mắt đã không còn giọt lệ nào nữa, nhưng xương chân mày và đuôi mắt vẫn ửng hồng. “Ta không gọi tượng người đó tỉnh.” Nàng đáp.
“Ba vạn năm trước, ta ra quyết định tạo ra tượng người đó cho chàng, hoàn toàn không phải vì ta không ích kỷ. Ngược lại, lòng ta rất ích kỷ, cũng có ý chiếm hữu mãnh liệt.
“Ta có thể chấp nhận cho tượng người đó thay ta ở bên chàng sau khi ta vũ hóa, bởi vì đó là chuyện bất đắc dĩ. Nhưng trước mắt, chẳng phải ta vẫn đang sống sờ sờ trên thế giới này, còn chưa vũ hóa sao? Bảo ta làm sao chấp nhận bị một tượng người thay thế chứ?”
“Nhưng nếu như chàng đã muốn, ta không có cách gì cự tuyệt.
“Ta có thể cho chàng một Thành Ngọc, toại nguyện cho khát vọng của chàng, nhưng ta không có cách gì gọi tỉnh cô ấy được cho chàng, ta làm không được.” Nàng tiếp tục tỏ bày, giọng điệu rất khẽ, cũng rất bình tĩnh. Chẳng qua Ân Lâm có thể phân biệt được, đó là loại bình tĩnh lạnh lùng khi mọi hi vọng đã tan thành tro bụi.
Bất luận là vận mệnh này cũng vậy, hay là cảm xúc của Tổ Thị cũng vậy, hết thảy đều quá mức nặng nề. Phải làm sao mới đúng, giống như nàng nói, là một vấn đề nan giải.
Ân Lâm muốn an ủi nàng, nhưng lại không biết nói chi. “Không làm được mới là chuyện bình thường.” Cuối cùng y nói thế.
“Ừm.” Tổ Thị thờ ơ đáp lại một tiếng, cụp mắt nhìn chiếc túi gấm, nhưng rất nhanh đã dời mắt đi, giống như nàng thực sự không hề muốn nhìn thấy nó, “Trong này không chỉ có mỗi tượng người đó, còn có máu và linh lực của ta nữa. Những ký ức ở phàm thế đó, ta cũng đã sao ra một bản, đặt vào trong hồn châu của tượng người kia. Dùng máu ta để tế, lấy linh lực để dẫn, đi kèm với chú ngôn, sẽ có thể gọi cô ấy tỉnh dậy. Chú ngôn ta đã viết ở trong túi gấm kia rồi. Ngươi đem chiếc túi gấm này đưa cho Tiểu Tam Lang, bảo chàng… đích thân gọi tỉnh cô ấy đi.”
Chuyện cần dặn dò y gần như đã dặn xong, nàng liền đứng dậy, chuẩn bị rời đi, nhưng lúc cất bước lại hơi ngập ngừng: “Đúng rồi.” Nàng căn dặn y một câu cuối cùng bằng giọng khàn khàn, “Nếu Tiểu Tam Lang hỏi tại sao không phải do ta gọi tượng người này tỉnh dậy, ngươi nói với chàng, rằng… Người yêu chàng lựa chọn cho mình, phải do chính tay chàng gọi tỉnh, mới càng có ý nghĩa.”
Ký ức liên quan đến sáng ngày hôm nay, đến đây bất chợt dừng.
.
“Sao Tôn sứ không trả lời?” Lúc choàng tỉnh, câu hỏi của Liên Tống rót vào tai y một cách rõ ràng.
Ân Lâm ổn định tinh thần.
Cách ngoài ba trượng, Thủy thần trẻ tuổi dựa người trên ghế ngọc yên tĩnh nhìn y. Thanh niên bình thản thong dong, dường như quả thật đã tự tìm được an tĩnh trong tâm hồn.
Trong lòng Ân Lâm ngổn ngang bao cảm xúc, ít lâu sau, rút ra túi gấm lâm lang mà Tổ Thị đã giao lại cho y. Túi gấm bị mở ra, một chiếc quan tài bằng băng hoa mỹ bất ngờ xuất hiện dưới bóng râm của tán cây bồ đề to lớn, nhìn xuyên qua chiếc quan tài này, có thể nhìn thấy một tượng người sống động như thật nằm bên trong.
“Ta chẳng có gì để nói cả, Tam hoàng tử.” Ân Lâm dây dây thái dương, “Nếu ngươi đã tin chắc bản thân mình yêu sai người rồi, thứ ngươi thật sự muốn quả thật chính là tượng người này, vậy thì chúc mừng ngươi, ngươi được toại nguyện rồi.”
Sau khi đổ ngược chiếc quan tài băng kia ra, thấy trong túi lâm lang còn có thêm vài vật khác, Ân Lâm tiếp tục đổ những vật còn thừa ra, bày lên trên mặt chiếc quan tài băng: “Có điều Tôn Thượng nói, người yêu ngươi lựa chọn cho mình, phải do chính tay ngươi gọi tỉnh, mới càng có ý nghĩa.” Y bình thản nói, “Trong chiếc bình thủy tinh tím này có chứa máu và linh lực của Tôn Thượng, trên giấy lá cọ này có chép cách thức gọi tỉnh tượng người ấy. Tam hoàng tử quý nhân nhiều việc, ta không tiếp tục quấy rầy nữa.” Khách khí nói xong lời từ biệt, Ân Lâm xoay người liền đi.
Nhưng thanh niên bất ngờ hỏi: “Những lời này, thật sự do nàng nói?”
Ân Lâm dừng bước: “Chứ không thì sao?”
‘Sạt.’ Đằng sau bất chợt truyền đến tiếng chim sẻ kêu lên vì kinh động, Ân Lâm hơi nghiêng mắt, liền thấy con chim sẻ màu xanh đậu giữa ngón tay Liên Tống không biết cớ gì đã hốt hoảng bay đi.
Thanh niên im lặng một chốc, rút từ trong tay áo ra một chiếc khăn lụa trắng muốt. “Nàng quả thật có lòng.” Chàng vừa dùng khăn lụa lau mấy ngón tay vừa được chú chim sẻ kia đậu lên, vừa lạnh nhạt nói, “Ta nên cảm tạ nàng lo nghĩ cho ta thế này không?”
Ân Lâm ngoái đầu nhìn thanh niên, thanh niên cúi đầu, dường như đang lau ngón tay rất nghiêm túc, y nhìn không rõ nét mặt của thanh niên. Nhưng y mơ hồ cảm thấy, dường như thanh niên không cao hứng lắm.
Y không biết có phải mình bị ảo giác không, nhưng y không nói gì, sải bước rời đi.
.
Sau chuyện ở núi Trà My, Ma tộc im hơi lặng tiếng một hồi, không có thêm một động tác nhỏ nào nữa. Một là vì Thần tộc đã tăng cường cảnh giác, hai là Tiêm Điệp cảm thấy tuy rằng ả chưa thể diệt được Liên Tống và Tổ Thị trong núi Trà My nhưng ván cờ này cũng xem như đạt được mục đích, ít nhất đã khơi dậy được tâm ma của Liên Tống, cũng ly gián được mối quan hệ giữa Liên Tống và Tổ Thị. Hai vị thần Tự Nhiên quan trọng của Thần tộc đồng thời có biến, ắt hẳn sẽ ảnh hưởng đến chính sự họ đang trù tính hiện nay. Tuy rằng ả không biết chính sự đó rốt cuộc là gì, nhưng cũng có thể đoán ra được tám chín phần mười là để đối phó với Ma tộc, ngăn cản Ma tôn xưng hùng xưng bá. Như vậy, cũng xem như ả đã thông qua cục diện ở núi Trà My mà giúp cho Ma Tôn tranh thủ được thêm thời gian mưu cầu đại sự. Nghĩ đến đây, Tiêm Điệp không khỏi có phần tự đắc.
Có thể suy xét sự việc này lạc quan như vậy, là vì Tiêm Điệp không hiểu Tổ Thị, cũng không hiểu Liên Tống. Tổ Thị thì khỏi phải bàn, còn cái vị Tam điện hạ này, vì mang cái danh tùy tiện trên người, có đôi khi sẽ cho người ta cảm giác không đứng đắn. Tiêm Điệp cho rằng sau khi tâm ma phát tác chàng sẽ bị cảm xúc thao túng, từ đó sa ngã chán chường, buông hết mọi sự, cũng là chuyện hợp lý hợp tình. Chẳng qua, nếu dùng binh khí ví von Tam điện hạ, Tam điện hạ thực sự chính là một thanh kiếm, quân tử trong các thứ binh khí, lúc bình thường trông thì ấm áp rảnh rang, đến khi tháo vỏ, sẽ tự biến thành một thứ sắc bén khiến người ta không dời mắt được. Mà nay tâm ma trỗi dậy từ đáy lòng chàng, tâm ma trỗi dậy tuốt đi vỏ kiếm trói chặt lấy chàng, ngược lại làm lộ ra mũi kiếm bén nhọn, trên người mang càng nhiều áp lực thì càng kiên quyết bức người. Cho nên chàng không chỉ không sa sút đến nỗi không màng chính sự mà ngược lại còn luyện chế xong hợp lực của năm nguyên tố sớm hơn dự kiến nhiều ngày.
Trưa hôm Liên Tống đem hợp lực của năm nguyên tố đã luyện chế xong đến cung Thái Thần, Yêu Quân Oánh Lưu Phong lại lên trời thêm lần nữa.
Ngày tiếp theo, hai trăm năm mươi vạn đại quân Thiên tộc và hai trăm vạn đại quân nước Thanh Khâu tập hợp ở Đông Nam Hoang, tuyên chiến với Ma tộc.
Sau thần kỷ mới, Thần tộc không tiến hành các cuộc chiến tranh phi nghĩa, bốn trăm năm mươi vạn đại quân Thần tộc áp sát biên cảnh tiếp giáp giữa Đông Nam Hoang nơi tộc Cửu Vĩ Hồ cai quản và Nam Hoang nơi Ma tộc quản lý tuyên chiến với Ma tộc, đồng thời cũng chiếu cáo lý do thảo phạt Ma tộc với bát hoang — Tuy Yêu tộc lệ thuộc vào Ma tộc, nhưng con dân Yêu tộc nào phải nô lệ của Ma Tôn, vậy mà Ma tôn đối đãi với Yêu tộc chẳng khác chi nô lệ của mình, hành hạ Yêu Đăng trắng trợn, giết chết Yêu thị bạo tàn. Yêu Quân không cam tâm để Ma Tôn bạo hành nên đã quỳ mãi ngoài cổng Nam Thiên môn, cầu xin Thần tộc giúp đỡ. Sự khinh khi và bức hại của Ma Tôn với Yêu tộc đã làm rối loạn trời đất hòa bình. Thần tộc cũng sống trong bát hoang, cai Cửu Thiên, quản tứ hải, có nghĩa vụ duy trì trời đất thanh bình. Ngăn cản hành vi bạo ngược của Ma tôn, làm cho đất trời thái bình trở lại, là chức trách của Thần tộc không sai. Thực hiện chiến tranh chính nghĩa, Thần tộc không lãnh thì còn ai.
Thần tộc đã có hơn mười vạn năm chưa từng chủ động khai chiến với tộc khác, càng đừng nói chi là Thiên tộc và Hồ tộc Thanh Khâu liên hợp xuất binh, tin tức khi đã truyền ra, đất trời khắp nơi náo động. Cửu Vỹ Hồ tộc vậy mà cũng đã xuất binh rồi. Chuyện này chính là sự kiện khiến mọi người cảm thấy kinh ngạc nhất. Cần phải biết tộc Cửu Vỹ Hồ định cư ở nước Thanh Khâu trước nay chưa từng ưa thích chiến tranh, sau khi trật tự thiên địa cơ bản được xác lập, cực hiếm khi thấy bóng dáng của họ trong các cuộc chiến tranh tám cõi. Chỉ khi nào địa vị của Thần tộc gặp phải sự khiêu chiến quyết liệt, tộc Cửu Vỹ Hồ mới xuất hiện, chẳng qua bọn họ cũng luôn hiện thân với vai trò cứu viện nửa đoạn sau chiến sự mà thôi. Thế nhưng lần này, tộc Cửu Vỹ Hồ lại phái ra hai trăm vạn đại quân chi viện cho Thiên tộc ngay từ lúc bắt đầu, dường như đã xuất ra toàn bộ binh lực của nước Thanh Khâu, việc này đã không thể hình dung bằng bốn chữ không giống bình thường được nữa.
Có cao nhân khứu giác nhạy bén đã đoán ra Thần tộc xuất binh ồ ạt thế này nhất định không phải chỉ vì Ma Tôn sỉ nhục ức hiếp Yêu tộc, mà rất có khả năng là vì Thần tộc phát hiện ra Ma tộc đang âm mưu đại sự gì đe dọa trời đất. Một vị cao nhân trong số những người suy đoán ra tình tiết này chính là Quỷ Quân Ly Kính. Ly Kính tự biết trận chiến này Quỷ Tộc tuyệt đối xen vào không nổi, ngay trong ngày liền đóng chặt cửa cung, tuyên cáo bản thân mình phải bế tử quan.
Hành động của Thần tộc cực kỳ thần tốc.
Giữa Đông Nam Hoang và Nam Hoang có một cái hồ lớn, tên là Sương Lăng Bạc, trong bãi cát vàng mênh mông giữa Sương Lăng Bạc hình thành nên một châu lục rộng lớn, các đời Yêu tộc đều ở tại nơi này, bát hoang gọi mảnh lục địa này là nước Sương Lăng. Sau khi liên quân Thiên tộc và Cửu Vỹ Hồ tộc tuyên chiến ở biên cảnh Đông Nam Hoang, mượn đường của nước Sương Lăng, hỏa tốc tiến thẳng vào Nam Hoang.
Bất luận là lời tuyên chiến của Thần tộc hay đội quân tốc hành của Thần tộc, đều xảy ra quá nhanh quá bất ngờ. Ma tộc tuy rằng cũng từng nghĩ đến Thần tộc có khả năng khai chiến trước nhưng hoàn toàn không ngờ rằng bọn họ lại nhanh tay thế này, hơn nữa còn huy động hết binh lực toàn bộ áp sát, bảy vị Ma quân đều cảm thấy rất mông lung. Khánh Khương xem như phản ứng cũng rất nhanh, tức thì truyền lệnh cho Phàn Lâm đang đốc quân ở biên cảnh triệu tập quân đội biên cảnh ra ngăn cản, nhưng binh lực Ma tộc trấn thủ ở phía đông biên cảnh chẳng qua chỉ có năm mươi vạn, làm sao có thể cản được bốn trăm năm mươi vạn đại quân Thần tộc. Thần tộc lấy binh lực áp đảo làm ưu thế, đánh cho tan tác suốt dọc đường, tối ngày hôm đó đã giết đến Xích Thủy.
Từ nước Sương Lăng phi nước đại đến Nam Hoang, đẩy nhanh tốc độ thẳng tiến Tây Hoang, vạn dặm hành quân, liền có thể trực tiếp tấn công vào Ma cung Linh Cừ nơi Ma Tôn đang ngự. Một vạn dặm đường này suôn sẻ có thừa, không có bất kỳ hiểm nguy nào phải xử lý, duy chỉ có hai con sông lớn chắn đường, một là Xích Thủy cách nước Sương Lăng một nghìn năm trăm dặm, một khác là Úc Thủy cách Xích Thủy ba nghìn bảy trăm dặm.
Với Thần tộc mà nói, tuyến đường này là tuyến đường thích hợp tác chiến nhanh nhất. Ma tộc cũng biết tuyến đường này phòng thủ bất lợi, thế nên đã xây dựng rất nhiều thành quách phòng thủ suốt dọc đường đi, còn cắt cử thêm nhiều quân binh bảo vệ. Nhưng không có rãnh hào nào có thể dựa vào, thành quách và quân thủ hộ dù nhiều nhưng cũng khó lòng chống đỡ khi đối diện với thế công vũ bão của binh lực bốn trăm năm mươi vạn quân Thần tộc khí thế như gió thu quét lá.
Vũ lực áp đảo các tộc, lựa chọn tuyến đường gần nhất, lấy binh lực áp đảo làm ưu thế tốc chiến bất ngờ, chính là chiến lược của Thần tộc trong trận chiến này. Lựa chọn chiến lược này, là vì mục tiêu hành quân chuyến này của Thần tộc chỉ có một — Ép Ma Tôn Khánh Khương và đội Ma quân bất tử hắn đang luyện chế ra xuất hiện một cách nhanh nhất.
Có sức mạnh của Bát Đầu Ma Hoa bảo hộ, Khánh Khương và nhánh Ma quân bất tử do hắn luyện chế ra không thể bị giết chết, cách duy nhất có thể đối phó hắn chính là đại trận Lưỡng Nghi Hoàn Chân do ba người Đông Hoa, Tổ Thị, Liên Tống hợp lực chế ra. Nhưng muốn dùng đại trận Lưỡng Nghi Hoàn Chân trấn áp Khánh Khương và Ma quân của hắn, vẫn cần một bước ngoặt nữa — ít nhất phải dẫn dắt Khánh Khương và nhánh Ma quân không biết số lượng kia cùng đến một nơi.
Bốn trăm năm mươi vạn đại quân Thần tộc dũng mãnh tiến thẳng Nam Hoang chính là vì thế.
Chiến lược này do Liên Tống đề xuất, sau đó do Liên Tống, Tổ Thị, Đông Hoa cùng nhau quyết định, nhưng ba người vạch ra kế hoạch cho trận chiến này lại không đi theo quân đội mà ở lại nước Sương Lăng với tư cách hậu phương. Vì đại trận Lưỡng Nghi Hoàn Chân chuyên chế tạo để trấn áp Khánh Khương vẫn chưa thể xem như triệt để hoàn thành, còn cần dẫn hợp lực năm nguyên tố mà Liên Tống luyện ra vào trong trận, mà chuyện này cần phải dựa vào cả ba người cùng nhau hợp tác, tìm một nơi an tĩnh cùng nhau bế quan mới thành.
Đây là chuyện tuyệt mật, người biết chuyện lác đác, chẳng qua Túc Cập tiên giả trong cung Thái Thần vừa hay là một trong số những người biết chuyện này.
Túc Cập là một vị tiên bảo thủ, càng đắn đo thì càng lo lắng, lúc riêng tư âm thầm hỏi nhỏ Trọng Lâm: “Đại trận khắc chế còn chưa hoàn thành, chúng ta đã tuyên chiến với Ma tộc, việc này phải chăng quá ư mạo hiểm rồi?”
Trọng Lâm từ nhỏ đã theo hầu Đế Quân, nhìn việc thấu triệt hơn Túc Cập: “Ba vị tôn thần quyết đoán như vậy là muốn chiếm được tiên cơ. Dù sao thì ai tuyên chiến trước, người đó nắm quyền chủ động hơn. Nếu để Ma tộc chiếm được tiên cơ này, ai biết bọn chúng sẽ châm ngòi chiến hỏa cháy đến nơi đâu, lúc đó chúng ta không phải bị động à? Hơn nữa, dựa vào năng lực của ba vị Tôn thần, dùng hợp lực của năm nguyên tố gia cố pháp trận đó, tối đa chẳng qua chỉ là chuyện của hai ba ngày thôi. Cho dù trong hai ba ngày này, Ma tộc luyện xong Ma quân bất tử trước, chạm trán trực diện với quân ta, vậy thì bốn trăm năm mươi vạn đại quân ta có trì hoãn hai ba ngày thời gian dẫu sao cũng không thành vấn đề. Đợi hai ba ngày sau đại trận hoàn thành, tự nhiên có thể một lần phân thấp cao với chúng, làm sao có thể nói có nguy hiểm gì được?”
Túc Cập nghe đến thẩn thơ ngơ ngác, nghĩ một hồi, gật đầu: “Nói vậy cũng đúng.”
Trọng Lâm chân thành ngỏ lời mời: “Thái tử điện hạ đã gửi chiến thư đến, tôi phải mang đến cho Đế Quân, Ngài đi chung không? Thuận đường nghe xem Đế Quân còn chỉ thị gì khác nữa?”
Túc Cập mới vừa giúp Đế Quân chạy hết một vòng Tây Thiên Phạn cảnh về đây, thực ra cũng không có lòng cầu tiến như vậy, dè dặt lùi một bước: “… Thôi tôi không đi nữa đâu.”
Đã vào cuối thu, các kỳ hoa dị thảo trong vương uyển Yêu tộc đều sắp sửa lụi tàn theo tiết khí, duy chỉ có cây thánh của Yêu tộc là Đế Hưu [1] mọc ở giữa rừng cây là ngoại lệ, dưới gió đao sương kiếm, vẫn cứ rậm lá dày hoa.
Cây Đế Hưu này cao đến nghìn xích, thân cây to khỏe, phải mười người vây quanh ôm mới xuể. Nơi cổ của rễ cây khổng lồ có một cái hang. Hang động có hình vòng cung, to như một cái đình, trong đó linh khí dồi dào, cực kỳ thích hợp để tĩnh tu, chính là nơi Yêu Quân chuẩn bị cho ba người Đế Quân bế quan.
Màn đêm dần xuống, ba người bế quan đã đến ngày thứ hai. Dù là Đế Quân thì đến thời khắc này cũng rất tận lực, bởi thế hợp lực của năm nguyên tố đã gần như được dẫn hết vào trong pháp trận vào khắc cuối của giờ Mùi. Có điều Tổ Thị cảm thấy nên dùng thêm ánh sáng hằng cổ bất diệt để gia cố pháp trận này sẽ càng thêm thỏa đáng. Thế nên lúc này chỉ có một mình nàng ở lại trong cây Đế Hưu. Đế Quân và Tam điện hạ đều đợi ở bên ngoài cây thánh.
Hai người ngồi dưới gốc cây cũng không có việc gì, vừa vặn có chiến báo từ tiền tuyến Trọng Lâm mới vừa đưa đến, Đế Quân liền biến ra một chiếc chiếu trà, vừa uống trà vừa đọc chiến báo với Tam điện hạ.
Chiến báo viết rất đơn giản, nói may mà Thượng thần Bạch Chân của nước Thanh Khâu có kinh nghiệm vượt sông chiến đấu phong phú vô cùng, nên bốn trăm năm mươi vạn đại quân Thần tộc đêm qua đã thuận lợi vượt qua Xích Thủy. Nhưng động tác của Khánh Khương phải nói là nhanh. Ngắn ngủi một ngày đã tập kết được trăm vạn Ma quân liều chết cản đường ở giữa Úc Thủy và Xích Thủy. Có điều đại quân Thần tộc vẫn có ưu thế áp đảo trên phương diện binh lực, thế nên hôm nay tiến quân tuy rằng không tốc hành bằng hôm trước, nhưng hành trình vẫn được chín trăm dặm có dư.
Đế Quân cầm ấm trà một quai lên, vừa rót trà vừa chậm chạp từ tốn bình luận: “Tổng cộng binh lực các tộc của Ma tộc tối đa là hai trăm vạn, cho dù Khánh Khương điều động hết toàn bộ Ma binh có thể điều được ngoài nhánh ma quân bất tử của hắn ra ngăn cản, binh lực cản lối quân ta cũng không quá hai trăm vạn. Về mặt số lượng bọn chúng ít hơn người ta hai ba lần, mà ta bị làm chậm tốc độ hành quân đến gần một nửa, còn cảm thấy mình hành quân thần tốc nữa chăng?”
Tam điện hạ ngồi đối diện Đế Quân, giúp Thượng thần Bạch Chân và Dạ Hoa quân thống lĩnh quân binh nói câu công bằng: “Hành trình chín trăm dặm một ngày cũng không phải chậm mà. Dẫu sao người lĩnh binh đối diện cũng là Phàn Lâm, hơn nữa còn là chúng ta đánh vào địa bàn người ta nữa.” Tam điện hạ gấp tờ giấy mỏng manh kia lại, “Chiếu theo chiến báo này mà xem, chậm nhất là đến ngày mốt, đội quân của chúng ta có thể tiến đến Úc Thủy. Nếu lúc đó Khánh Khương vẫn chưa luyện xong nhánh Ma binh bất tử kia, hắn sẽ muốn tranh thủ thêm càng nhiều thời gian càng tốt, chỉ đành hoa ngôn trên kết giới ở sông Úc Thủy thôi.”
Tuyến đường mà Thần tộc chọn ra này chỉ có duy nhất một vật cản đường hóc búa chính là Úc Thủy. Úc Thủy là một con sông lớn quấn quanh đất mẹ Ma tộc, tuy không rộng lớn hơn Xích Thủy là bao, nhưng khó vượt hơn Xích Thủy rất nhiều, vì trên Úc Thủy có một kết giới bảo vệ sừng sững được dựng lên từ hơn hai mươi vạn năm trước. Kết giới này là kết tinh công sức của mấy đời tổ tiên Ma tộc giỏi trận pháp kết thành cùng với linh khí của sông Úc, vào thời khắc mấu chốt có thể bảo hộ tổ địa của Ma tộc không bị xâm lăng. Kết giới của sông Úc một khi khởi động, cho dù bốn trăm năm mươi vạn đại quân Thần tộc toàn lực tấn công cũng phải mất một hai tháng mới có thể công phá được.
Mấy ngày trước Đế Quân đặt hết tâm tư vào kết giới trên Úc Thủy, thử qua hết mấy trăm lối suy nghĩ, cuối cùng cũng nghĩ ra được phương pháp phá trận. Chẳng qua dựa vào cách thức phá trận này, cộng thêm quân đội tấn công mạnh mẽ, cũng vẫn phải mất ít nhất bảy ngày thời gian mới triệt để phá vỡ được kết giới.
Tam điện hạ nhận trà Đế Quân rót cho, chỉ vừa nhấp môi thì đã đặt chén trà xuống lại: “Có thể nhanh thêm một chút được không? Bảy ngày, quá dài rồi. Rất có khả năng Khánh Khương sẽ mượn thời gian bảy ngày này để luyện thành Ma quân bất tử. Nếu để hắn đạt được mục đích, sự việc sẽ càng khó xử lý hơn.” Vừa nói, Tam điện hạ vừa nhấc chiếc quạt ở bên cạnh lên, dùng cán quạt chấm lên nước trà, nhẹ nhàng vung một cái, một tấm địa đồ ngưng tụ từ hơi nước tức thời xuất hiện trên không trung.
“Một mạch tấn công thần tốc, chính là muốn nhân lúc Khánh Khương chưa luyện thành Ma quân bất tử ép được Khánh Khương và nhánh quân đó ra. Tấn công vượt qua Úc Thủy trước khi Ma quân còn chưa luyện thành mới là chuyện có lợi với chúng ta nhất. Đối diện Úc Thủy là bình nguyên Phạm Lâm, sau lưng Phạm Lâm chính là núi Chương Vỹ. Núi Chương Vỹ chính là nơi thần Thiếu Quán từng ở, là núi thánh của Ma tộc, Ma tộc tuyệt đối sẽ không cho phép Thần tộc san bằng núi thánh của chúng. Một khi chúng ta tấn công vượt qua được Úc Thủy, uy hiếp đến Chương Vỹ, cho dù Ma quân bất tử còn chưa chuẩn bị xong, Khánh Khương nhất định cũng sẽ quyết chiến với ta ở Phạm Lâm.” Chiếc quạt xếp toàn thân đen tuyền điểm một cái lên chỗ bình nguyên Phạm Lâm trên bản đồ hơi nước, “Việc này với chúng ta mà nói mới là trạng thái lý tưởng nhất.”
Đế Quân cảm thấy khó lòng tưởng tượng: “Nói gì thì cũng là kết giới kết tinh tâm huyết và trí tuệ của mấy đời tổ tiên Ma tộc, ta có thể phá vỡ nó trước ba bốn mươi ngày đã là rất ổn rồi, lẽ nào ngươi còn hi vọng ta có thể nội trong hai ba ngày giải quyết được nó?” Đế Quân không tán thành lắm nhìn về phía Tam điện hạ, “Cách nghĩ này của ngươi có lẽ là không quá tôn trọng ta và Ma tộc lắm rồi.”
Tam điện hạ nhún nhún vai: “Tôi chỉ tùy tiện hỏi, làm không được thì thôi.”
Lúc bình thường chàng nói chuyện thật ra cũng không chọc tức người ta như vậy, Đế Quân nhìn chàng một lúc, thở dài: “Tuy rằng ngày thường tính tình ngươi cũng không phải tốt lắm, nhưng hai ngày nay phải nói là càng xấu đi. Ngươi và Tổ Thị còn chưa giải quyết xong hiểu lầm à?”
Tam điện hạ ngẩn người, cười trừ một cái, thản nhiên nói: “Tôi và thần Tổ Thị có hiểu lầm khi nào?”
Đế Quân nhướng mày. Ngày đó Tổ Thị đến tìm Ngài đòi lại tượng người đó, nói chuyện rất mơ hồ. Ngài chỉ biết Tổ Thị đã khôi phục ký ức, và tâm ma của Liên Tống tái phát. Dưới ảnh hưởng của tâm ma, càng thêm không thể buông bỏ chuyện ba vạn năm trước nàng đã vứt bỏ mình. Đế Quân có trí tuệ cảm xúc không cao mấy, thế nên nhìn việc càng lý trí hơn. Ban đầu Ngài đã cảm thấy Tổ Thị sắp xếp một tượng người cho Liên Tống vốn không phải cách làm thỏa đáng rồi. Trong phòng băng ở Bích Hải Thương Linh, nghe Tổ Thị nói Liên Tống không sao tha thứ được quyết định lúc đó của mình, Ngài cũng không thấy kinh ngạc, còn an ủi Tổ Thị hai câu, nói rằng chuyện này cũng không phải hiểu lầm gì không thể giải quyết được, bảo nàng giải thích với Liên Tống đàng hoàng thôi.
Nói thật lòng, ngày đó tuy rằng bất ngờ vì hai người gây nhau đến mức dữ dội thế này, nhưng Đế Quân không hề cảm thấy chuyện này có hề chi. Có điều liên tiếp ba ngày sớm chiều ở cạnh hai người, lại khiến Đế Quân có phần không chắc chuyện này không to tát lắm, cũng hơi hoài nghi chuyện này phải chăng còn có ẩn tình gì mà mình chưa hiểu được.
Đế Quân dây dây thái dương: “Ngày kia, Tổ Thị được ta mời lên trời nghị sự, ngươi đã không để ý đến cô ấy. Hôm qua và hôm nay ba người chúng ta cùng nhau bế quan, ngươi càng tránh cô ấy thật xa, không nói không rằng. Cô ấy cũng tránh ngươi mọi nơi mọi lúc, hai người thế này giống bộ dạng đã giải quyết hiểu lầm lắm không?”
Tam điện hạ cúi đầu nghịch chén men sứ đen trong tay hồi lâu, nói: “Không phải hiểu lầm.”
Đế Quân đang muốn hỏi tiếp thì thấy trong hốc cây cách đó ba trượng bất ngờ sáng lóa kim quang. Hai người cùng nhau nhìn về hướng phát ra kim quang.
Trong gốc cây vang lên tiếng bước chân, tấm bình phong bằng dây mây rực rỡ rũ xuống ngoài cửa động bị một bàn tay trắng nõn nhẹ nhàng từ tốn vén lên, Tổ Thị xuất hiện dưới hàng dây mây rũ xuống, hòa nhã nói: “Ánh sáng hằng cổ bất diệt cũng đã gia cố xong xuôi, trước đây Khánh Khương cũng xem như rất sợ thứ này, không biết bây giờ thế nào, chẳng qua là đề phòng vạn nhất thôi.” Sắc mặt nàng tự nhiên, giống như không nghe thấy lời hai người mới nói lúc nãy, chuyển chủ đề họ vừa nói với nhau thật ra cũng khéo léo thay.
Đế Quân thấy nàng dựa người vào cửa động, có vẻ hơi mỏi mệt, bảo nàng qua đây uống chén trả nghỉ ngơi một lát.
Tổ Thị bước qua, nhưng cũng không ngồi trên chiếu trà của hai người mà ngồi xuống một chiếc ghế đá cạnh đó. Đế Quân đưa nàng một chén trà, nàng nhận lấy rồi uống một ngụm.
Liên Tống không nói gì thêm.
Tổ Thị cũng không nói gì, chỉ cúi đầu liên tiếp uống trà.
Cho dù lòng dạ Đế Quân bao la nhưng cũng cảm nhận được không khí căng thẳng này khiến người ta ngột ngạt cỡ nào. May mà Thiên Bộ bất ngờ chạy đến, phá vỡ bầu không khí gượng gạo dưới gốc cây. Thiên Bộ gấp gáp làm lễ với chàng và Tổ Thị, do dự một lát, mới bước một bước đến gần nói mấy câu vào tai Liên Tống, chỉ thấy sắc mặt Liên Tống khẽ biến, sau đó đứng lên.
Nơi này lớn như vậy, Thiên Bộ lại cố gắng đè nén âm lượng, nhưng Đế Quân vẫn nghe được phần nào nội dung.
Đại để Thiên Bộ nói là: “Sáng sớm… đã ăn linh quả bình thường, sau đó lại ngủ, giờ Mùi mới dậy, không nhìn thấy Điện hạ, không vui lắm… Sau khi tỉnh dậy vẫn không muốn ăn nữa… Chúng tôi dỗ dành nhưng cũng bó tay. Mới rồi… bất ngờ nôn ra, lại nói toàn thân đau nhức… Thiên Hạ đã niệm chú ngôn tĩnh linh, dường như cũng không có tác dụng…”
Đế Quân nghe không hiểu lắm mấy câu này có ý gì, nhưng Tổ Thị ngồi sau Đế Quân vẫn luôn cúi đầu uống trà lại bất ngờ lỡ tay đánh rơi chén trà vào lúc Liên Tống nhíu mày đứng lên.
‘Bốp’ một tiếng, âm lượng không phải lớn, nhưng vì lúc đó dưới cây cực tĩnh, nên khiến cho âm thanh này rất đinh tai.
Liên Tống chợt dừng bước, hơi nghiêng mình, cười hờ hững, đây là lần đầu tiên chàng mở lời với Tổ Thị trong suốt ba ngày nay: “Thần Tổ Thị làm sao vậy?”
Tổ Thị ngập ngừng một lát: “Nhất thời trượt tay.” Nàng ngẩng đầu lên, cũng cười như đáp lại Liên Tống: “Chắc là hơi mệt rồi.” Nụ cười đó ôn hòa, xen lẫn giữa dịu dàng và xa cách, “Để lát nữa ta và Đế Quân kiểm tra pháp trận thêm lần nữa là được, Tam hoàng tử có việc cứ đi trước mà làm, chớ để người đợi lâu.”
Liên Tống nhìn nàng một lúc, chầm chậm nhướng mày: “Cô cho rằng…” Chẳng qua chàng không nói hết câu này thì đã ngừng lại, bất chợt phì cười, “Nói đúng lắm, không nên để người chờ lâu.” Nói xong thì không nhìn Tổ Thị nữa, ánh mắt dừng lại trên người Đông Hoa: “Đế Quân nếu có việc, cứ bảo Trọng Lâm đến thay tôi là được.” Để lại câu này rồi dắt theo Thiên Bộ cùng đi.
Tổ Thị cúi thấp tầm mắt, đến khi tiếng bước chân của Liên Tống đi xa, nàng mới xòe những ngón tay được giấu trong tay áo rộng ra, khe khẽ nắm lại. Vờ như thờ ơ lãnh đạm, nhưng ngón tay lại run lên dữ dội, ngay cả nhẹ nhàng nắm lại thành quyền cũng thấy phí sức, nàng cảm thấy bản thân rất buồn cười, không khỏi mím chặt môi.
Đế Quân nhấc tay làm các mảnh sứ vỡ dưới đất biến đi, rồi lại rót cho nàng một chén trà khác. Nàng thoáng đờ người, không đưa tay ra với. Đế Quân dò xét nhìn nàng, thấy nàng mím môi không nói, ngón tay đưa lên rồi hơi đẩy tới, chén trà đó liền tự mình bay đến chiếc bàn đá bên cạnh nàng.
“Quá nửa là cô còn chưa giải thích với tên tiểu tử kia chứ gì?” Đế Quân cho rằng khúc mắc của Liên Tống là “Tổ Thị vì thiên hạ mà vứt bỏ mình cũng thôi, còn tạo ra một người rối đùa giỡn mình”, nên thực sự không tài nào hiểu được cả hai sao lại cãi nhau đến mức này, “Theo lý, cô giải thích với hắn thêm mấy lần, nói rằng cô cũng bị ép cho bất đắc dĩ, cũng đau khổ lắm, không phải cố ý đẩy hắn cho người khác, rồi khóc cho một trận, chắc là cũng dỗ dành được hắn thôi. Tên nhóc kia dễ dỗ lắm.”
Tổ Thị im lặng hồi lâu. “Có gì hay để giải thích đâu” Nàng nhắm mắt, mệt mỏi nói, “Khả năng rất cao là, cuối cùng tôi cũng phải chết, sau khi tôi chết, vẫn còn phải nhờ tượng người kia ở bên chàng. Lúc này… chẳng qua chỉ là làm chuyện sau khi tôi chết xảy ra sớm hơn thôi. Nếu chàng và tượng người kia đã thuận hòa êm ấm như vậy, tôi hà tất còn phải thay đổi tình hình hiện tại, khiến sự việc càng phức tạp thêm?”
Nàng giản lược nói bằng đôi ba câu chữ, nhưng khi Đế Quân đã chịu động não thì phản ứng thường rất nhanh, nhìn việc cũng rất thấu triệt. Ngày đó Tổ Thị đến tìm Ngài lấy tượng người đó, Đế Quân không biết ý nàng thế nào, cũng không hỏi tới, nhưng lúc này nghe những lời nàng nói, Đế Quân lập tức hiểu ra nhiều điều, cũng ý thức được bản thân có thể nhìn ra bước ngoặt rồi. “Hóa ra vừa rồi Thiên Bộ đến bẩm báo là chuyện liên quan đến tượng người này.” Đế Quân ngẫm nghĩ, hỏi nàng, “Là cô gọi cô ấy tỉnh à?”
Nàng cụp mắt: “Không phải tôi chính tay làm, nhưng cũng… không khác mấy.”
Đế Quân nhìn nàng, bội phục: “Cô cũng ác với bản thân quá đó.”
Nàng không trả lời.
Đế Quân lại hỏi nàng một câu: “Có điều, làm thế này cô không buồn à, ba vạn năm trước không phải đau khổ muốn chết ư?”
Mặt nàng không chút biểu cảm, trả lời Đế Quân: “Bây giờ tôi cũng đã đau muốn chết rồi mà.”
Đế Quân đánh giá nàng trên dưới một lần: “Nhìn không ra lắm.”
Nghe Đế Quân nói thế, nàng khẽ bật cười thành tiếng: “Đương nhiên không thể để các người nhìn ra được.” Ngừng lại, rồi lẩm bẩm, “Đau khổ là đau khổ, nhưng việc này cũng có phải chuyện gì lớn đâu.” Nàng hơi khép mắt, ngón cái chạm nhẹ lên thái dương, lại nói, “Huống chi, cũng chẳng còn đau thêm bao lâu nữa rồi.”
.
Câu cuối cùng này Tổ Thị nói ra rất khẽ, gần như không thành tiếng, nhưng Đế Quân vẫn nghe được. Câu này có ý gì, đại khái Đế Quân cũng đoán được. Đế Quân trầm mặc nhìn nàng một lúc, chân mày dần dần nhíu chặt lại.
Trong Yêu Cung có một vật, tên là Thiền Ảnh Lộ, đó là một loại rượu, vì nước làm rượu đến từ suối thiêng Thiền Ảnh của Yêu tộc nên mới có cái tên này.
Thiền Ảnh Lộ rất có tiếng trong bát hoang. Truyền thuyết nói uống rượu này, có thể tức khắc quên hết mọi ưu phiền.
Nhưng lúc này Thiên Bộ lại cảm thấy truyền thuyết cũng không tin hết được, bằng không Tam điện hạ nhàn rỗi ngồi dưới bóng tùng uống hết bốn bình Thiền Ảnh Lộ rồi, tại sao trông vẫn ưu phiền như vậy?
Gió đêm thổi qua, hơi lạnh thấu xương. Thiên Bộ không khỏi hắt xì một cái. Vườn cây phong mà Yêu Quân sắp xếp cho Tam điện hạ quả thật là cảnh vật đẹp tươi, nhưng khi trời đã vào đêm thì sẽ có phần giá buốt. Cô dự tính về phòng lấy cho Tam điện hạ chiếc áo choàng, thuận tiện xem xem Côn Bằng vương nhỏ bé trái tính trái nết kia đã ngủ yên chưa, nhưng vừa ngẩng đầu lên đã đụng phải Đế Quân nhàn tản bước đến đây: “Điện hạ ngươi đâu?”
Thiên Bộ khom mình hành lễ: “Bẩm Đế Quân, Điện hạ đang say bí tỉ dưới gốc vân tùng trong vườn.”
Đế Quân dừng bước: “Say bí tỉ?”
Thiên Bộ thở dài: “Mấy ngày này Điện hạ cứ mãi phiền lòng.”
Đế Quân nhướng mày: “Hắn có nói hắn phiền lòng vì chuyện gì không?”
“Vậy thì Điện hạ không nói.” Thiên Bộ do dự chốc lát, “Có điều nô tỳ cảm thấy… mười phần thì có hết tám chín là vì thần Tổ Thị rồi.” Thiên Bộ hơi ngẩng đầu, đắn đo hỏi một câu, “Đế Quân, Điện hạ và thần Tổ Thị có phải… nảy sinh hiềm khích, xảy ra mâu thuẫn gì không?”
“Ngươi cũng nhìn ra rồi.” Đế Quân vừa trả lời cô vừa đi về gốc vân tùng.
Trong vườn trồng toàn phong đỏ, duy chỉ có mỗi góc phía Tây Bắc là có một cây tùng cổ đẹp đẽ biếc xanh. Dưới gốc tùng có đặt một chiếc chiếu ngọc, một cái bàn thấp, Tam điện hạ dựa người lên thân tùng, cong một chân lên ngồi trên chiếu ngọc, mãi đến khi Đế Quân đến trước mặt, chàng mới uể oải ngước mắt lên nhìn Đế Quân một cái.
“Nghe Tổ Thị nói ngươi chọn tượng người kia, làm chim liền cánh với tượng người đó rồi.” Đế Quân ngồi xuống, nhặt bốn cái bình rượu rỗng bày la liệt trên bàn gỗ lên đặt kế bên nhau rồi lắc lắc, “Nhưng nhìn ngươi thế này, thế nào ta cũng không tin tưởng lắm?”
Tam điện hạ ngửa đầu uống cạn rượu trong chén, vẻ mặt lạnh nhạt: “Cuối cùng cũng thoát được tôi, có phải nàng thấy nhẹ nhõm lắm?”
Đế Quân cảm thấy chàng thế này rất vô lý: “Không phải chính ngươi tìm Tổ Thị đòi tượng người đó à?” Vừa nói vừa lục lọi trên bàn, nhưng không tìm được chén rượu nào khác, liền nhấc tay biến ra một cái, vét một bình rượu đã mở nắp kế bên tay Liên Tam ra, tự rót cho mình một chén, “Thế nào, lại hiềm cô ấy bằng lòng sảng khoái quá, giao người dứt khoát quá à? Cô ấy cho cũng không được, mà không cho cũng không được, ngươi muốn cô ấy thế nào?”
Trên trời lửng lơ một vầng trăng lạnh, trong veo lạnh lẽo như băng. Tam điện hạ một tay vắt lên đầu gối, xa xăm nhìn vầng trăng lạnh kia hồi lâu, trả lời: “Tôi chẳng muốn nàng làm sao cả. Chỉ là nàng nhẹ nhàng như gió thổi mây trôi thế, còn dặn tôi đừng để người ấy chờ lâu, khiến tôi bội phục vô cùng.” Khóe môi hơi nhếch lên, giống như đang cười, nhưng một chút ấm áp cũng không có, ngược lại càng tôn thêm sự lạnh lùng tàn nhẫn trên gương mặt tuấn mỹ tuyệt luân kia, “Không thẹn là Quang Thần vô tình vô dục thần hồn trong sạch.”
Dù là người không có trí tuệ cảm xúc như Đế Quân cũng nghe ra ý châm biếm hàm chứa trong lời nói của Liên Tam. Đế Quân nhìn chàng: “Từ khi nghe Chiết Nhan nói ngươi có tâm ma, ta vẫn cảm thấy chẳng phải chuyện gì to tát. Hôm nay xem ra, đích thực ngươi cố chấp quá mức nghiêm trọng rồi.” Nói xong lời này, Đế Quân dừng lại giây lát, hơi trầm ngâm, “Đúng rồi, có một câu hỏi ta vẫn luôn hiếu kỳ, vừa hay hỏi ngươi một thể. Người nảy sinh tâm ma như các ngươi, chính bản thân mình có ý thức được là mình rất cố chấp không? Nếu như ý thức được, ngẫu nhiên có nảy sinh cảm giác chán ghét chính mình không?” Có thể thấy Đế Quân đích thực là một người không biết cách nói năng, thời đại Hồng Hoang có nhiều Thần Ma muốn đánh Ngài như vậy cũng không phải vô lý.
Tam điện hạ mất hết cả kiên nhẫn lườm Đế Quân một cái: “Đêm nay rốt cuộc Ngài đến đây làm gì?”
“Ồ.” Bị nhắc nhở, Đế Quân cuối cùng cũng nhớ ra chính sự mình cần làm đêm nay, “Ta đã suy nghĩ kỹ càng, vẫn thấy có chuyện này nên nói cho ngươi biết — Tổ Thị đã tìm lại được ký ức ở phàm thế rồi, cô ấy đã nhớ ra chuyện lúc trước với ngươi.”
‘Lạch cạch’, bình rượu bạc bị Tam điện hạ kẹp giữa ngón tay đùa nghịch rơi xuống chiếu ngọc, rượu dần chảy ra, ướt dẫm màu trúc. Dưới bóng tùng thinh lặng, lát sau, trong bụi cỏ gần đó vang lên tiếng kêu nhè nhẹ của hai con trùng mùa thu. Tam điện hạ cúi người nhặt bình rượu trên chiếu lên: “Ha, tìm lại được thần Tổ Thị vì tị hiềm tôi vấy bẩn thần hồn trong sạch của nàng nên bóc tách sạch sẽ tôi ra khỏi ký ức của nàng không để lại mảy may nào đó à?” Khóe môi chàng nhếch lên, “Tìm được cũng tốt, tìm được, nàng có thể thư thái rồi.” Ngữ khí nhẹ tênh, dường như không để ý chút nào, nhưng bàn tay siết chặt bình rượu, để lại dấu tay rất sâu trên thân bình.
Đế Quân nhấc tay dây dây thái dương, suy nghĩ trăm chiều cũng khó lòng thấu hiểu: “Ta thấy ngươi suy xét chính sự thì cực kỳ lý trí tỉnh táo, sao cứ mỗi lần nhắc chuyện liên quan đến Tổ Thị thì lại cực đoan thế này?”
Tam điện hạ không chút cảm xúc: “Chắc là bởi vì tôi bệnh rồi đó thôi.”
Đế Quân nghẹn họng đến không nói được gì, nhất thời bội phục Liên Tam. Đế Quân sống đã ba mươi tám vạn năm, xưa nay chỉ có Ngài làm người khác nghẹn chứ chưa ai làm Ngài nghẹn được bao giờ. Liên Tam cũng xem như có thể khiến kiếp thần của Ngài có thêm trải nghiệm mới mẻ. Bản tâm Ngài thực ra không hề muốn chen vào nợ tình trăng hoa cắt mãi không đứt còn loạn thêm của hai người, nhưng nhớ đến những lời thiếu may mắn của Tổ Thị vừa rồi lại cảm thấy không đành lòng: “Ngươi cũng đừng lúc nào cũng hiểu lầm Tổ Thị.” Đế Quân nói, “Vừa hay Thần sứ Tuyết Ý của cô ấy còn ở Ma cung, ngày mai mới lên đường, nên trước đó ta có truyền Tuyết Ý vào nói mấy câu, may mắn hắn cũng xem như tương đối hiểu rõ chuyện giữa hai người các ngươi, đại để ta cũng hiểu ra vấn đề giữa hai người rồi.” Đế Quân thở dài, “Ngươi bị các Thần sứ của Tổ Thị lừa rồi. Ban đầu Tổ Thị bóc tách ký ức liên quan đến ngươi ra khỏi hồn thể hoàn toàn không phải xuất phát từ mấy nguyên nhân nhạt nhẽo mà ngươi tin chắc đó. Chuyện này ta rõ hơn ai cả.”
Thanh niên đang tự rót rượu cho mình bỗng ngây ra, từ từ ngẩng đầu lên: “Sao?”
Đế Quân nghịch chiếc chén bạc trong tay: “Ba vạn năm trước Tổ Thị quy vị, bởi vì biết mình sau khi sống lại sẽ phải lập tức ngủ say, hơn nữa còn dự tính được khi mình tỉnh lại trời đất sẽ có một kiếp nạn lớn, cần cô ấy phải lấy thân hiến tế thêm lần nữa, nên Tổ Thị mới đưa ra lựa chọn ấy. Lúc đó cô ấy biết mình và ngươi không thể có tương lai, nhưng lại sợ ngươi không chấp nhận nổi chuyện mất đi cô ấy, mới nghĩ ra chuyện tạo ra tượng người đó cho ngươi.” Đế Quân cũng rất cảm khái, “Aiz, khi ngươi khôi phục ký ức ở phàm thế, nói với ta rằng ngươi đã biết chuyện Tổ Thị làm tượng người đó hòng gạt ngươi, ta còn tưởng rằng ngươi cũng đã biết cô ấy có thể sẽ phải hiến tế thêm lần nữa, ngươi nói ngươi đã buông bỏ quá khứ, ta còn vui mừng vì ngươi nghĩ thoáng ra.” Đế Quân xòe tay, “Vạn vạn không ngờ rằng hóa ra ngươi vốn không biết chuyện này.”
Bất chấp đắn đo của Tổ Thị, thẳng thắn nói với Liên Tống chuyện nàng quyết định giấu giếm Liên Tống, là bởi vì Đế Quân cảm thấy, nếu đúng như lời Tổ Thị đã nói, cuối cùng vẫn cần đến máu của nàng mới có thể bình định trận chiến Thần Ma kia, có khả năng nàng chỉ có một kiếp này. Hơn nữa thời gian cũng không còn nhiều nữa, vậy thì càng phải đem hết nhân quả ra chấm dứt ở đời này, chứ không phải chờ đến khi gần kết thúc rồi còn tạo ra thêm nhân quả mới không sao giải quyết được. Cách nghĩ của Đế Quân thuần phác như vậy đấy. Tổ Thị lo lắng tâm ma của Liên Tống và việc chàng có thể nào chấp nhận được chuyện nàng tiếp tục hiến tế không gì đó, căn bản không nằm trong phạm vi suy xét của Đế Quân.
“Nói nàng phải tiếp tục hiến tế là thế nào…” Thanh niên ngồi ngay lại, cánh môi mím thành một đường thẳng, không còn dáng vẻ chán chường rỗi rãi ngồi dựa thân tùng như ban nãy. Chàng chăm chú nhìn Đế Quân, giọng nói có chút chênh vênh, “Nói vậy là có ý gì? Tôi nghe không hiểu.”
“Năm đó khi Tổ Thị quy vị đã nằm mộng tiên tri, mơ thấy Khánh Khương khơi mào trận đại kiếp đảo điên tám cõi, chuyện này ta ngươi đều biết.” Đế Quân giải thích, “Chẳng qua Tổ Thị không nói với ngươi rằng giấc mộng tiên tri đó còn giáng xuống một chỉ dụ khác, muốn ngăn cản kiếp số này, cần phải nhờ vào Tổ Thị tiếp tục lấy mạng ra tế…” Thấy sau khi được mình giải thích tường tận, gương mặt thanh niên đang ngồi đối diện dần dần cắt không còn chút máu, Đế Quân mới nhớ ra chàng có tâm ma trên người, không chịu nổi kích động lớn. Đế Quân chợt ngừng, thử tìm cách chữa lại, “Có điều, hôm nay đã có rất nhiều chuyện xảy ra biến hóa, không giống như mộng tiên tri của Tổ Thị nữa. Ví như nói, Tổ Thị tỉnh dậy sớm ba năm, chiến tranh cũng mở màn sớm hai năm, hơn nữa bên khơi mào chiến sự này không còn là Ma tộc nữa mà là Thần tộc,” Đế Quân cân nhắc, “Cho nên ta cảm thấy Tổ Thị cũng chưa chắc phải lấy thân tuẫn đạo…”
Thanh niên dùng ống tay áo che miệng, kìm nén ho khan một tiếng. Cánh môi sượt qua mép ống tay áo, để lại một vết màu đỏ trên hoa văn sóng nước thêu chìm trên ống tay. Khi buông tay xuống, mép ống tay áo nhuốm máu bị ép vào bên trong, bởi vậy Đế Quân không phát hiện ra vẻ bất thường của chàng. Thanh niên khàn giọng hỏi Đế Quân: “Những chuyện này, sao nàng không nói với tôi?”
“Bởi vì ngươi đã chọn tượng người kia mà.” Đế Quân nhớ lại những lời Tổ Thị mới nói với mình dưới cây Đế Hưu ban nãy, “Tổ Thị cảm thấy nếu ngươi đã chọn tượng người đó, nghênh đón cuộc sống yên bình mà ngươi muốn có, vậy thì không cần phải quấy nhiễu ngươi nữa.”
Đêm nay, trí tuệ cảm xúc của Đế Quân lúc cao lúc thấp, cuối cùng cũng được đẩy lên đến đỉnh điểm trong suốt ba mươi tám vạn năm đời mình. Đế Quân nghiêng người vỗ vỗ vai Liên Tống: “Tổ Thị không muốn nói chuyện này với ngươi, đại khái là vì cô ấy cảm thấy làm vậy tốt cho ngươi hơn. Vận mệnh đối với cô ấy quá tàn nhẫn, cô ấy không muốn ngươi cùng đau khổ với mình. Nhưng ta cảm thấy nếu ngươi đã thích Tổ Thị, hiển nhiên cũng phải gánh vác chung số mệnh với cô ấy, chấp nhận những đau khổ này, là cái giá của việc ngươi thích cô ấy.”
Sắc mặt thanh niên trắng bệch, đôi mắt màu hổ phách chầm chậm hằn lên tơ máu, giống như một giây tiếp theo sẽ tức thì rỉ máu: “Đúng vậy, cả Đế Quân cũng biết đạo lý này, tại sao nàng không hiểu.” Giọng nói khản đi, “Ba vạn năm trước, nàng cảm thấy tạo ra một tượng người cho tôi mới tốt. Bây giờ, lại cảm thấy giao tôi lại cho tượng người kia mới tốt. Làm như vậy, thật sự là tốt nhất với tôi ư?” Chàng bất chợt phì cười, nụ cười rét buốt, lại như rất thống khổ, “Ngài nói, nàng có phải tự cho mình là đúng, có phải đáng phạt lắm không?”
Đế Quân không trả lời được, một tràng những lời khuyên vừa rồi đã dùng hết toàn bộ trí tuệ của Đế Quân với đoạn tình cảm này của hai người. Cuối cùng, Đế Quân chỉ đành cứng ngắc, tổng kết một câu có còn hơn không: “Cho nên ngươi đừng tiếp tục làm mình làm mẩy với Tổ Thị nữa.”
———————————–
[1] Đế Hưu: Còn gọi là “cây không tàn”, là một loại cây thần kỳ tong truyền thuyết, ăn vào có thể giải mọi ưu phiền. Xuất xứ từ Sơn Hải Kinh – Trung Sơn Kinh (Trích baidu: https://baike.baidu.com/item/%E5%B8%9D%E4%BC%91/10701189)

