Tam Sinh Tam Thế – Bộ Sinh Liên
[Bát Hoang] – Quyển bổ sung: Kim Triêu Tạc Nhật – Chương 1-3
#tamsinhtamthe#bosinhlien#bathoang#kimtrieutacnhat
———————-
(1)
Bát Hoang, ngày hai mươi bảy tháng chín.
Cuối thu.
Nửa đêm.
Giữa giờ Hợi.
Bánh xe thời gian sau khi lùi về bốn vạn năm trước rồi dừng lại một lúc, đã bắt đầu khởi động vào chính khoảnh khắc này. Bánh xe hoàng kim lộc cộc lăn bánh, băng băng hướng đến con đường chưa biết tương lai, khác hẳn lúc trước. Chẳng qua, không ai trong trời đất phát hiện ra bí mật này, bởi vì những người trở về quá khứ đều không giữ lại được ký ức đã bị thời không bóc tách, ngoại trừ Tổ Thị. Nhưng Quang Thần đã chết rồi.
Thế nên, với Thần, Ma, Yêu, Quỷ trong tứ hải bát hoang này mà nói, ngày khởi đầu cột mốc thời gian mang ý nghĩa trọng đại này chẳng qua chỉ là một ngày cuối thu bình thường đến không thể bình thường hơn. Ai nấy cũng đều không ý thức được rằng chuyện trên tay đang làm thực ra trước đó đều đã làm qua một lần vào bốn vạn năm trước ở thời không kia rồi.
Liên Tống cũng không ý thức được.
Khoảnh khắc bánh xe thời gian đổi hướng, Tam điện hạ hơn ba vạn năm tuổi vẫn còn là một thiếu niên đang uốn gối ngồi trước cửa sổ ngắm cảnh trong điện Tức Tâm, giở xem một quyển kinh Phật.
Ngoài song có trồng một cây Huyền Hoa thanh tú mấy ngày trước vừa được chàng ghép từ cái cây ở Đồ Sơn Nam Hoang về.
Chân trời truyền đến tiếng sấm, đêm nay e là sẽ có mưa. Tam điện hạ khép sách lại, nhấc tay lên, thêm một cái hiên trú mưa cho gốc Huyền Hoa nhỏ, sau đó đóng cửa sổ lại, đặt sách xuống, bước về phía giường mây ở nơi sâu nhất trong tẩm điện. Chàng hơi buồn ngủ rồi.
Mưa thu miên man. Tam điện hạ say ngủ trong tiếng mưa dai dẳng.
Với một người đã quên hết mọi chuyện như chàng mà nói, đêm nay hoàn toàn không có gì đặc biệt, hết sức bình thường. Bình thường đến mức có phần nhạt nhẽo.
(2)
Thời gian như bóng câu, vùn vụt trôi mau, thắm thoắt bể dâu, hè qua đông tới, thoắt cái đã gần vạn năm qua.
Trong vạn năm này, cách cục của đất trời không có gì thay đổi, dường như mọi thứ đều lặp lại những gì đã qua.
Những thứ thay đổi hoàn toàn bộ mặt, tuyệt nhiên khác hẳn trước đây, chỉ là những thứ mà so với vũ trụ hồng hoang mà nói, chỉ là cát bụi, ví như, vận mệnh của một số người.
Chiếu theo tuần tự thời gian, những người này, phải nói từ các thần sứ đã đi theo Tổ Thị từ đầu và chúng hoa yêu.
Giây phút Tổ Thị chết đi, Sương Hòa, Tuyết Ý say ngủ ở phàm thế và Ân Lâm còn tỉnh táo ở Nam Hoang cùng bị ánh sáng nguyên sơ đưa về Cô Dao. Giây phút bước vào phòng Quan Nam, Ân Lâm và Tuyết Ý, Sương Hòa đều rơi vào giấc ngủ triền miên không biết khi nào thức tỉnh, thế nên trong vạn năm sau đó, hoàn toàn không có ai đi đến phàm thế dẫn dắt Diêu Hoàng, Lê Hưởng và các hoa yêu xem bảo vệ Hoa Chủ tu hành là sứ mệnh. Các hoa yêu không đợi được Hoa Chủ của bọn họ giáng thế, mặc dù khó hiểu trăm bề, nhưng cũng không còn cách khác, chỉ đành vừa tu hành, vừa tiếp tục lặng lẽ đợi chờ.
Tiếp đó là Tịch Tử Tự.
Tổ Thị chết đi, đương nhiên không thể tiếp tục nhập phàm chuyển thế, vì vậy Tịch Tử Tự sớm mất song thân, gian nan sống sót ở Hạo Thiên môn cũng không gặp được sư thúc Hồng Ngọc giúp hắn vượt qua bể khổ. Tịch Tử Tự trưởng thành trong sự lăng mạ của đồng môn đến năm trăm tuổi thì gặp được kỳ duyên, giải trừ phong ấn yêu lực trong người, sau đó khổ sở tu hành nghìn năm, cuối cùng đột phá hư không phi thăng chứng đạo. Trong giây phút phi thăng, hắn hồi phục được ký ức có liên quan đến thân thế của mình, vì vậy không đến Cửu Trùng Thiên nghe phong mà trở về Phong Tự Ngọc Môn, tiếp nhận trách nhiệm người bảo vệ núi thánh. Tịch Tử Tự sống lại kiếp này chưa từng yêu bất cứ ai, trải nghiệm ở phàm thế với hắn mà nói chẳng qua chỉ là phong cảnh trên đường không hề quan trọng, chưa từng để lại chút ấn tượng nào trong cuộc đời của hắn. Mà hai anh em Ôn Phục, Ôn Phù trước kia có vướng mắc cực sâu với hắn cũng không còn xuất hiện trong cuộc đời hắn nữa. Cả đời họ chưa lần nào gặp hắn. Ôn Phù chết sớm, còn Ôn Phục chết già trong bí cảnh Tê Vân.
Ngoài ra, cuộc đời của Trường Y cũng xảy ra một vài biến hóa.
Trường Y xem Ân Lâm như đứa em thơ. Ân Lâm đột nhiên mất tích khiến Trường Y đau lòng rất lâu. Nàng tìm kiếm Ân Lâm hai nghìn năm, nhưng một chút đầu mối cũng không tìm được, cuối cùng không thể không rầu rĩ buông xuôi. Không có Ân Lâm săn sóc, Trường Y thường xuyên gặp phải hiểm nguy, sống ở Nam Hoang rất gian khổ. Lần gặp nguy hiểm cuối cùng chính là lần nàng vì muốn hái linh dược mà xông nhầm vào động Thất U của hổ hai cánh, bị mãnh hổ giận dữ đánh trọng thương. Không có Ân Lâm đến cứu, tuy rằng dựa vào cơ trí và vận may của mình nên cũng thoát được ra khỏi động Thất U nhưng Trường Y cũng bị thương nặng. Lần này, người cần đến bạch trạch của Thần tộc làm chất dẫn, phối với cỏ Tây Nhung sinh trưởng bên bờ biển Vô Vọng trên cảnh trời thứ ba mươi sáu rồi dùng lò bát quái của Lão Quân luyện thành đan, uống linh đan liên tục ba trăm năm đã biến thành chính bản thân nàng.
Vẫn là trên tiệc rượu do Thanh La quân sắp xếp, Trường Y gặp được Liên Tống lần đầu tiên. Tình cảnh trong thời không đã bị xóa bỏ tái hiện trong tiểu viện trên vách núi Tây Phong không khác chút gì. Trong ánh nến trập trùng, Trường Y hơi ngẩng đầu, nhìn thanh niên khoan thai bước đến, nhẹ nhàng gọi ra tôn hiệu của thanh niên: “Tam điện hạ.” Ánh mắt Liên Tống lạnh nhạt quét qua nàng, thờ ơ hờ hững nói ra thân phận của nàng: “Trường Y.” Sự việc phát triển không sai không khác trước kia, chuyện duy nhất không giống chính là, lần này, vì trong người có nội thương, gương mặt mỹ lệ của Trường Y được ánh lên dưới ánh đèn mờ mờ tỏ tỏ hiện ra vẻ tái nhợt bệnh tật, yếu ớt rõ ràng.
Sau đó, trên chiến trường Bắc Hoang do Thiên tộc bình loạn, Trường Y lại gặp Liên Tống thêm lần nữa. Người giỏi chế tạo thảo dược như nàng vô tình cứu được một vài tướng sĩ dưới trướng Liên Tống, thế là Liên Tống nợ nàng một ân tình. Những chuyện này cũng chẳng khác chi chuyện ở thời không đó. Nhưng lần này, lại không phải Trường Y chủ động tìm kiếm con đường thành tiên nơi Liên Tống. Vì cứu Ân Lâm, nàng có thể mặt dày mày dạn thi ân đòi báo, xin Liên Tống giúp nàng thành tiên, vì cứu chính mình, nàng lại không làm được chuyện không biết xấu hổ như vậy. Khi Liên Tống hỏi nàng muốn chàng báo đáp thế nào, nàng chỉ xin chàng bảy mươi năm bạch trạch và cỏ Tây Nhung.
Vẫn là Tam điện hạ đang cầm lệnh bài hành quân nghịch chơi phải chủ động suy nghĩ giúp nàng: “Nếu cô vẫn sống tiếp ở Nam Hoang với yêu thân, cho dù có cho cô hai bảo vật này, cô cũng chưa hẳn giữ được mình.” Tam điện hạ thả lệnh bài hành quân vào trong hộp lệnh, mỉm cười, “Chi bằng bản quân giúp cô thành tiên. Chứng được tiên quả, đăng lên cửu thiên, đừng nói là bạch trạch hay cỏ Tây Nhung đâu đâu cũng có, cho dù là thứ cũng cần thiết chẳng kém như lò bát quái của Lão Quân, cô cũng có thể với tay lấy được, như vậy há chẳng tốt hơn chăng?”
Nàng kinh ngạc nhìn thanh niên: “Sao Tam điện hạ biết tôi cũng cần lò Bát Quái…” Nói đoạn, nàng gượng cười nói, “Đúng vậy, Tam điện hạ thần cơ diệu toán, há lại đoán không ra.”
Liên Tống giúp Trường Y thành tiên, một mặt là vì muốn báo ơn nàng, mặt khác là vì chàng cảm thấy khiến một đóa hồng liên bị toàn thể Ma tộc Nam Hoang khinh rẻ, vốn không thể nở hoa mà có thể thành tiên, vẫn là một chuyện hết sức thú vị. Tam điện hạ vẫn là một Tam điện hạ tùy tâm tùy tính. Chẳng qua cũng còn may mà chàng tùy tâm tùy tính mới khiến cho vận mệnh dĩ nhiên lầm đường, đi về phía mất mạng mặc nhiên của Trường Y trở về đúng quỹ đạo.
Không lâu sau, Trường Y đăng tiên thành công, trở thành Hoa Chủ của thần kỷ mới. Hơn bảy trăm năm Trường Y tại vị, công đức ân trạch tạo ra trải đều khắp tứ hải bát hoang, ban phát cho thương sinh lục giới. Nàng là Hoa Chủ vạn người xưng tụng. Cho dù thời gian có lặp lại lần nữa, nàng vẫn chỉ làm Hoa Chủ được bảy trăm hai mươi năm — Bảy trăm hai mươi năm sau, nàng lại giẫm lên vết xe đổ, vì giúp Tang Tịch cứu Thiếu Tân mà táng mạng trong tháp Tỏa Yêu. Dường như kết cục này là số mệnh mà nàng tránh không thoát, chạy không khỏi.
Lúc nàng lâm chung, Liên Tống đến bên cạnh nàng, tiễn nàng chặng đường sau cuối. Lúc thanh niên khom mình đến trước mặt nàng, chau mày nói “Ta chẳng qua chỉ đi có mấy ngày, cô đã biến bản thân nhếch nhác ra thế này”, khóe mắt nàng chảy ra giọt lệ tựa như giọt máu. Nàng lấy hết dũng khí nắm lấy tay thanh niên, nói ra câu nói ấy: “Nếu có kiếp sau… Tam điện hạ… Nếu có kiếp sau…” Nhưng cho dù thời gian trở lại, nàng vẫn chưa thể nói trọn cả câu này. Hồng liên nở khắp cảnh trời hai mươi bảy thoắt chốc điêu tàn, nàng cũng vĩnh viễn nhắm mắt lại.
Liên Tống cụp mắt nhìn nàng một lúc, nén giọng than: “Nếu có kiếp sau, cô sẽ làm thế nào, Trường Y?”
Tam điện hạ thực sự hiếu kỳ, nếu có kiếp sau, phải chăng nàng vẫn sẽ tiếp tục yêu Tang Tịch đến chết không phai. Nàng vừa mất, nếu bỏ hết nửa thân tu vi nhặt lại cho nàng một hơi thở, sau đó dùng đèn Kết Phách để kết hồn tạo phách cho nàng, vẫn có khả năng cứu nàng sống lại. Chuyện này tuy rằng vi phạm tiên luật Cửu Thiên, một khi chàng làm vậy, nhất định sẽ phải chịu hình phạt, nhưng hình phạt ấy cũng không phải chàng chịu đựng không được.
Chàng rất nhanh đã có quyết định. Nhưng khi chàng giơ tay kết ấn, dự định thu thập khí tức của Trường Y, bỗng nhiên có một dự cảm chẳng lành ập tới. Ngón tay kết ấn bỗng chốc tê dại, dường như đang cảnh cáo chàng rằng, cứu sống Trường Y hoàn toàn không phải việc làm lý trí. Trong quá khứ vạn năm qua, chàng từng có biết bao nhiêu lần trải qua cảm giác thế này. Chàng cũng từng thử phớt lờ những dự cảm này mà mặc sức làm liều, kết quả chính là không chỉ khó lòng làm được việc muốn làm, hơn nữa kết cục đón nhận còn tồi tệ hơn mấy lần. Bây giờ, chàng đã không thể coi nhẹ dự cảm chẳng lành này, bởi thế chàng ngừng động tác kết ấn lại. Cuối cùng, chàng chỉ thu dọn tiên thể của Trường Y.
Một lần sống lại này, khi Trường Y táng mạng trong tháp Tỏa Yêu, Tam điện hạ đã đưa ra một lựa chọn khác, vì vậy từ khoảnh khoắc này trở đi, cuộc sống của rất nhiều người đều bị thay đổi.
Liên Tống không cứu Trường Y, đương nhiên, hai mươi tám năm sau, chàng cũng không vào phàm thế.
Năm đó, Liên quý phi của Hi Triều hạ sinh một vị công chúa, tiểu công chúa được đặt tên là Yên Lan, nhưng Yên Lan này đã không còn là Yên Lan trước. Vị Yên Lan công chúa này không bẩm sinh bị tật ở chân, cũng không có năng lực vẽ ra được cung khuyết trên trời, nàng chỉ là một công chúa người phàm khỏe mạnh bình thường. Mà vợ chồng Tĩnh An vương đến cuối đời vẫn không con không cái. Cùng năm đó, hai người chưa từng hạ sinh một tiểu quận chúa nào tên Thành Ngọc, thế nên cũng không có tòa lầu cao mười tầng nào chứa đầy các yêu hoa được dựng lên trong thành Bình An.
Kiếp này, Chiêu Hi chuyển thế thành Quý Minh Phong cũng chưa từng gặp được Thành Ngọc và Liên Tống, bởi vậy y cũng chưa từng thức tỉnh sớm hơn. Sau khi vững vàng bước hết một đời của Quý Minh Phong, y lại tiếp tục nhập luân hồi. Mà bởi vì Liên Tống chưa từng hạ phàm, khi Đại Hi và Bắc Vệ bùng nổ chiến tranh, người xuất chinh cũng không còn là Đại Tướng Quân — mà là Thiên tử Thành Quân quyết định ngự giá thân chinh. Yên Lan công chúa mười tám tuổi phải hòa thân gả đến Ô Na Tố xa xôi. Đại Hi và Ô Na Tố kết minh, cuối cùng đẩy lùi Bắc Vệ.
Thời gian đằng đẵng trôi qua vạn năm, bất luận là ở thế giới thần tiên tứ hải bát hoang hay là trăm vạn phàm thế bên ngoài bát hoang, mọi chuyện diễn ra đều không có chỗ nào không hợp lý, bởi vậy không ai phát hiện đây là thời không đã được lặp lại một lần.
Năm ấy là năm thứ ba mươi hai sau khi Trường Y chết.
Năm đó, cây Huyền Hoa ngoài cửa sổ cung Nguyên Cực đã phát triển cực kỳ cao lớn, còn chưa vào thu đã trổ ra toàn bộ số hoa nó có lần đầu tiên trong đời.
Tam điện hạ ngồi dưới gốc cây lật xem một quyển sách sử.
Mấy ngày nay Thiên Quân lại có ý chỉnh sử. Thượng thần Tấn Văn mệt bở hơi tai, thế là đề nghị giao lại chuyện biên soạn, chỉnh lý kiến giải này cho người học thức sâu xa nhưng lúc nào cũng rảnh chính là Tam điện hạ.
Trước khi phác thảo phải biên soạn kiến giải thế nào, ắt phải mang toàn bộ sách sử hiện có ra phê phán một lần. Mấy ngày này Tam điện hạ đang làm chuyện đó.
Hôm nay chàng vừa hay lật đến đoạn lịch sử giao thoa giữa thần kỷ cũ và mới, đọc đến chi tiết thần Tổ Thị hiến tế hỗn độn, giúp tộc Người định cư nơi phàm thế, liếc thấy bên trái có bức tranh nhỏ minh họa bóng lưng rất khoan thai của Tổ Thị, đáy lòng bỗng nhiên xuất hiện cảm giác bất thường, vô duyên vô cớ cảm thấy bóng lưng này lẽ ra không như vậy.
Ngón tay thon dài vô thức miết qua hình ảnh trong tranh, Tam điện hạ thẩn thờ một lúc, không sao hiểu được bản thân mình tại sao lại nảy sinh cách nghĩ thế này, buồn cười lắc lắc đầu, nhanh chóng lật sang trang khác.
(3)
Chim bay thú chạy, ngày rồi lại đêm, bánh xe thời gian sắc vàng vẫn tự mình tiến lên phía trước, chầm chậm trôi qua thêm được ba vạn năm.
Gần đây, trên Cửu Trùng Thiên có hai chuyện lạ kỳ khiến các tiểu tiên nhiệt tình buôn dưa không ngừng nghị luận.
Một chuyện trong đó chính là Thương Phách thần quân một đời liêm khiết, chí công vô tư trứ danh Cửu Thiên gia môn bất hạnh, nuôi ra thằng nghiệt tử cưỡng chiếm con gái nhà lành. Nghe nói nữ yêu Địch Cơ bị thằng nghiệt tử Ngu Anh tiên quân của Thương Phách thần quân cưỡng chiếm chính là người được Tri Hạc công chúa của cung Thái Thần mang lên trời từ Nam Hoang. Tri Hạc công chúa cực kỳ thích nghe Địch Cơ thổi sáo, xưa nay vẫn yêu quý Địch Cơ. Biết được Ngu Anh tiên quân cưỡng ép Địch Cơ đến nỗi có thai xong sợ mọi chuyện vỡ lỡ, bèn ra tay giết hại Địch Cơ một cách dã man. Tri Hạc công chúa tính tình nóng nảy nổi trận lôi đình, dưới cơn thịnh nộ đã đem Ngu Anh tiên quân và Thương Phách thần quân không biết dạy con ra tố một lượt trên điện Lăng Tiêu. Thi thể Địch Cơ nằm lê lết trước điện Lăng Tiêu, kế bên còn có huyết thư ả lưu lại chỉ chứng Ngu Anh bày ra trước mắt, chứng cứ rành rành, Thiên Quân có muốn nể mặt Thương Phách thần quân cũng không nể được. Cuối cùng Ngu Anh tiên quân lâm vào kết cục bị tước bỏ tiên tịch, phạt xuống phàm giới; Thương Phách thần quân cũng bị trách tội phạt đóng cửa sám hối.
Một chuyện lạ lùng khác khiến các tiểu tiên tán gẫu hăng say thì không gió tanh mưa máu như bản án của Ngu Anh, nhưng sóng gió gây nên trên Cửu Trùng Thiên chẳng kém cạnh cái trước xíu nào. Khả năng chủ yếu là vì chuyện này có liên quan đến Tam hoàng tử, mà ai ai cũng biết tiên trong ba mươi sáu cảnh trời Cửu Trùng Thiên hôm nay thì đã có hết mười hai cảnh trời là người hâm mộ cuồng nhiệt Tam hoàng tử, hai mươi bốn cảnh trời còn lại là người hâm mộ cuồng nhiệt Đông Hoa Đế Quân và Thái tử Dạ Hoa. Tóm lại, chuyện khiến cho ai nấy không có cách gì bình tĩnh này nói cho đơn giản thì là vầy — Yêu Quân vì muốn kết thân với Thiên tộc đã xin được liên hôn, Thiên Quân chấp nhận thiện ý của Yêu Quân, chỉ hôn con gái út mà Yêu Quân dâng lên là Nhược Gia làm trắc phi của Tam hoàng tử. Mà Tam hoàng tử phong lưu ngang ngạnh dường như không vì bất cứ người nào mà dừng bước vậy mà không hề phản đối, vào mùng tám tháng chín hai tháng sau, hai người sẽ thành thân.
Tin tức cung Nguyên Cực sắp nghênh đón trắc phi danh chính ngôn thuận vừa mới truyền ra, khắp mọi nẻo đường Cửu Trùng Thiên bỗng nhiên khó đi hơn hẳn, tùy tiện đi ba năm bước cũng có thể hái được một tấm lòng son vỡ nát.
Tri Hạc công chúa một lòng ái mộ nghĩa huynh mình là Đông Hoa Đế Quân, đối với chuyện Liên Tống nạp phi này, nàng chẳng có chút hứng thú, nhưng ngẫu nhiên nghe được tin đồn này, nàng hết sức kinh ngạc, bởi vậy nhân dịp Quận chúa Yêu tộc là Oánh Thiên Hạ lên trời bèn kéo người ta qua một bên: “Sao tôi lại nghe nghĩa huynh tôi nói, ban đầu Yêu Quân muốn đem cô ra liên hôn với Thiên tộc chúng tôi? Thế nào mà cuối cùng lại đổi thành đường muội kia của cô vậy hả?”
Oánh Thiên Hạ lắc lắc đầu: “Haiz, đáng sợ quá đi mà.”
Tri Hạc chẳng hiểu mô tê: “Cái gì quá đáng sợ hả?”
Oánh Thiên Hạ tìm một chiếc ghế ngồi xuống: “Quân Thượng không nỡ xa Nhược Gia, đích thực dự tính sẽ tiễn tôi đi, nhưng không biết Nhược Gia nghe ngóng được ở đâu rằng Thiên Quân có ý muốn tôi vào cung Nguyên Cực, bèn khóc lóc thảm thiết làm ầm làm ĩ với Quân Thượng, muốn đi thay tôi. Bấy giờ chúng tôi mới biết không ngờ con bé vẫn luôn ái mộ Tam hoàng tử. Haiz, đáng sợ.”
Tri Hạc vẫn không tài nào lý giải chuyện này đáng sợ chỗ nào, hai người bốn mắt nhìn nhau.
Oánh Thiên Hạ ngờ vực nhìn Tri Hạc: “Không ngờ Oánh Nhược Gia lại thật lòng với Tam hoàng tử, bởi vì thật lòng, mới xin được gả đi, này còn không đáng sợ hay gì? Theo tôi được biết, những thần nữ vào cung Nguyên Cực, sau cùng có thể toàn thân trở ra đều là những người không trao đi trái tim mình, người thật lòng đều chẳng có kết cục tốt.”
Tri Hạc trầm mặc một lúc: “Thứ cô nghe được hình như không phải đang nói tốt về Liên Tam. Tôi nhớ không phải cô còn có một bức tranh bản gốc ‘Nhận thư hàng trên sông Tế Lương’ của Liên Tam đúng không nhỉ, tôi còn tưởng cô cũng tán thưởng hắn chứ.”
Oánh Thiên Hạ lôi ra một quyển sách nhỏ trong túi áo, phành phạch mở ra. Tri Hạc ló đầu qua, xem từng trang từng trang sách, chỉ thấy trong quyển sách dày dày không chỉ sưu tầm mỗi tranh Tam hoàng tử nhận thư hàng trên sông Tế Lương, mà còn sưu tầm cả tranh Thái tử Dạ Hoa luyện kiếm, tranh Đế Quân phẩm trà, tranh Hắc Minh Chủ Tạ Cô Châu rời khỏi Minh Ti… tóm lại là mỹ nam tử nào có tiếng trong bát hoang đều có thể được tìm thấy trong quyển sách tranh này. Tri Hạc nhất thời không biết nói sao cho vừa.
Oánh Thiên Hạ nâng niu thu sách về: “Tôi tán thưởng mỗi một người bọn họ bình đẳng như nhau. Đương nhiên, Tam hoàng tử cũng được tôi tán thưởng, nhưng này không cản trở việc tôi thấy thật lòng thật dạ thích y sẽ không có kết cục gì tốt.”
Cô dây dây ấn đường: “Tuy rằng đại đa số thời gian tôi đều cảm thấy Oánh Nhược Gia rất phiền, ngốc nghếch ngọt ngào trắng trẻo khỏi bàn, cả ngày từ sáng đến tối chỉ biết gây họa, nhưng ôm tấm chân tình chờ mong gả cho Tam điện hạ thì…” Cô thở dài, “Này thì quá thảm rồi, tôi thật sự cảm thấy con bé tội không đến thế.”
Tri Hạc nhìn Oánh Thiên Hạ, thậm sâu cảm thấy cô quả nhiên là một người tỉnh táo hiếm có trên đời, ánh mắt ngập tràn thán phục.
Nơi hai người nói chuyện cũng không phải hẻo lánh lắm, chính là trong rừng trúc nhỏ ở góc tây bắc của cảnh trời thứ mười ba. Đế Quân và Tam điện hạ vừa khéo đi ngang. Ánh mắt Đế Quân dừng một chút trên bóng lưng của Oánh Thiên Hạ, đợi đi qua cánh rừng trúc kia rồi mới ngoái đầu chọc ghẹo Liên Tống: “Trình độ bình phẩm của đường tỷ của vị trắc phi kia của ngươi cũng không cao lắm.”
Tam điện hạ chẳng lấy làm điều: “Nhưng nói cũng chẳng phải sai.”
Đế Quân dẫn Tam điện hạ đến một ngôi đình nhỏ gần đó mà mình ưa tới, thiết lập chú Tĩnh Âm, lại biến ra một chiếc chiếu trà: “Nói mới nhớ, Túc Cập và Trọng Lâm đã đánh cược với nhau.” Đế Quân ngồi hướng về phía đông, vừa bày trà cụ đun trà, vừa nhàn nhã nói, “Túc Cập cược ngươi tuyệt đối không chấp nhận hôn sự này, nói ngươi làm tiên mặc ý, không tài nào chịu ước thúc được.” Đế Quân mỉm cười, “Xem ra tuy rằng hắn theo ngươi đã hai vạn năm, nhưng vẫn hiểu ngươi chưa đủ. Nội tâm ngươi là cõi cô liêu, lấy hay không lấy, lẽ nào ngươi để ý?”
Tam điện hạ tựa người ngồi đối diện, đang chọn chén trà, chàng chọn hai chén trà sứ men đen, so sánh màu sắc men của hai chén trà này: “Từ lúc Đế Quân rời khỏi vị trí Thiên Địa Cộng Chủ mà vẫn trông coi các tộc đến nay đã được mười vạn năm rồi. Trong mười vạn năm này, Ma tộc Thất quân độc lập, mạnh ai nấy quản, khống chế lẫn nhau. Thực lực bảy quân đều không chênh lệch lắm, nếu không có kẻ mạnh bất ngờ xuất thế, Ma tộc nếu muốn từ trạng thái một phần chia bảy trở nên thống nhất, cơ bản là không có khả năng. Oánh Lưu Phong hẳn cũng nhìn ra được điểm này, biết Ma tộc rất khó tìm lại được phong quang ngày trước, để tính kế trước cho cả một Yêu tộc mới xin được kết thân với Thiên tộc ngay lúc này. Oánh Lưu Phong chủ động bày tỏ thiện ý, phụ quân không có lý gì cự tuyệt, cho con gái của Oánh Lưu Phong vào cung Nguyên Cực, cũng xem như cho Yêu tộc một viên thuốc định thần. Có rất nhiều việc được phụ quân dung túng, đương nhiên tôi cũng phải báo đáp lại.”
Nói xong mấy lời này với vẻ ôn tồn biếng nhác, Tam điện hạ nhấc chén trà bên tay phải lên, đặt xuống khay trà bằng đá ô kim, mỉm cười nhạt nhẽo: “Như Đế Quân nói, lòng tôi là một cõi cô liêu, đích thực không bận tâm hôn sự, chuyện hôn sự này giao cho phụ quân lão nhân gia may rủi lộng quyền, tôi thấy cũng chả sao.”
“Lộng quyền. Ngươi dùng từ hay đấy.” Đế Quân nhấc ấm trà đất nung lên, “Ngươi dùng từ tinh tế thế này, phụ quân ngươi biết chăng?”
Tam điện hạ nhún nhún vai: “Vẫn là đừng biết thì hơn.” Chàng dựa lưng vào cột đình, uể oải nghịch chén trà sứ men đen không được chọn, “Chẳng qua Đế Quân cố tình gọi tôi đến đây, dẫu sao cũng không đơn thuần đến mức vì quan tâm chuyện nạp phi của tôi chứ?”
Đế Quân nhìn chàng: “Trông ta rảnh vậy sao?” Nói xong câu này, Đế Quân tự ngẩn người trước, chợt hồi tưởng lại cuộc sống dưỡng già mười vạn năm nay của mình, trầm mặc hồi lâu, “Ồ, dường như ta rất rảnh rỗi thật. Có điều hôm nay tìm ngươi, cũng quả thực là có chuyện quan trọng.”
Tam điện hạ lớn đến từng này, chưa từng thấy Đế Quân cho rằng trời đất này có chuyện gì là quan trọng, nghe thế không khỏi nảy lên hứng thú, thu tướng ngồi không màng thế sự lại, lẳng lặng ngồi cho ngay ngắn.
Đế Quân đưa cho chàng chén trà đã rót xong: “Liên quan đến hai pháp chú ‘Sinh linh bốn tộc Thần, Ma, Yêu, Quỷ trong bát hoang khi đã nhập phàm, nếu như thi phép ở phàm thế, sẽ bị chính phép thuật thi triển phản phệ’, và ‘Sinh linh tám cõi, ai ôm ác ý với tộc Người, đều không thể bước qua cửa Nhược Mộc’, ngươi hiểu được mấy phần?”
Trà mà Đế Quân pha là trà Lão Bạch [1], nước trà trong vắt, hương sen ngào ngạt. Tam điện hạ nhận lấy chén trà, đưa lên chóp mũi nghe mùi: “Tôi nhớ là ba vạn năm trước, có tiên quân Lan Đài Ti phải nhập phàm trình báo trên triều hội điện Lăng Tiêu, nói không biết từ một ngày nào đó, Thần Ma Yêu Quỷ nhập phàm nếu thi triển pháp thuật ở phàm thế sẽ gặp phải phản phệ, cũng không biết vì nguyên nhân gì. Thiên Quân nghe tấu, cũng mờ mịt hơi sương, sau đó là Đế Quân phái Trọng Lâm báo cho Thiên Quân biết, rằng Ngài vì muốn bảo vệ phàm nhân mới lập pháp chú đó. Sau đó không quá hai ngày, lại có tiên quân Ti Môn Ti trình báo, nói không biết cửa Nhược Mộc xảy ra vấn đề gì, bỗng nhiên có rất nhiều Yêu Ma không có cách gì bước qua được cửa Nhược Mộc để đến phàm thế. Thiên Quân lệnh cho Hình Ti giúp đỡ Ti Môn Ti điều tra sự việc, phát hiện những Yêu Ma đó có một đặc điểm chung, chính là đều từng tổn hại người phàm. Ngay lúc cả triều trên dưới bàn bạc chuyện này đến hăng say, lại là Đế Quân vội vã chạy về từ pháp hội của Phật Tất Lạc, nói đó là do Ngài vì bảo vệ tộc Người mới lập thêm pháp chú đó cho thế gian này.”
Nói đến đây, Tam điện hạ hơi nhướng mày: “Lúc đó tôi còn nghĩ, phàm thế cũng chẳng xảy ra việc gì trọng đại, sao Đế Quân đột nhiên lại quan tâm người phàm đến thế.” Chàng xoay chén trà, chợt bật cười, “Hôm nay xem ra, hai pháp chú kia, thực ra không phải do Đế Quân lập rồi nhỉ?”
Bởi vậy Đế Quân xem trọng Tam điện hạ cũng không phải không có lý do. Luận về nghe lời hiểu ý, Cửu Trùng Thiên có ai qua được Tam điện hạ? Nói chuyện với chàng đỡ phải phí tâm.
Chẳng qua Tam điện hạ đoán vậy cũng không đúng hoàn toàn. Đế Quân giản lược súc tích giúp chàng bổ sung, cải chính: “Cái sau không phải ta lập, còn cái trước thì đúng. Ngày đó lừa gạt bát hoang nói hai pháp chú này đều do ta lập, là vì không muốn vẽ rắn thêm chân.”
Đế Quân thổi thổi nước trà còn hơi nóng: “Chẳng qua, tuy rằng lần theo vết tích của chú ngôn để điều tra, có thể xác định pháp chú trước xuất phát từ miệng của ta, nhưng ta lại không hề có ấn tượng mình đã từng lập pháp chú đó cho thế gian này.” Đế Quân nhấp một ngụm trà, “Mà ta từng thăm dò ký ức của mình, biển ký ức của ta cũng chưa từng bị ai động tay động chân.”
Đế Quân nói mấy câu này rất đơn giản, chẳng làm rõ được câu đố bao nhiêu, người tầm thường vốn nghe không hiểu được, có điều dẫu sao Tam điện hạ cũng không phải người tầm thường, chàng gần như lập tức lĩnh hội được ý của Đế Quân. “Chuyện này… có chút ly kỳ.” Chàng khó lòng tin được, nén giọng nói.
Đế Quân hơi lặng người, đặt chén trà xuống: “Ly kỳ thật, nếu không đứng trên góc độ nghịch chuyển thời gian mà xem xét, thì không có cách nào giải thích được sự tồn tại của hai pháp chú này.”
Quạt Trấn Ách gõ lên mép bàn trà, phát ra một tiếng cách, Tam điện hạ bóp trán: “Quả nhiên là nghịch chuyển thời gian.”
Đế Quân ừ một tiếng, hiếm khi nói thêm được hai câu: “Hẳn ngươi cũng biết, loại chú ngôn như pháp chú này một khi đã lập ra, trừ khi người thi chú chủ động giải trừ nó, bằng không bất luận xảy ra chuyện gì, quy tắc được nó khắc ghi cho thế gian này vẫn được áp dụng. Cho nên ba vạn năm trước, khi ta và Tất Lạc thảo luận chuyện này, bọn ta đều nghiêng về hướng hai pháp chú này có thể thình lình từ trên trời rơi xuống là bởi vì thời gian đã bị nghịch chuyển.”
Tam điện hạ vẫn bóp trán: “Vị thần có sức mạnh nghịch chuyển thời gian, lại có thể lập pháp chú cho thế gian này, hơn nữa còn thương xót tộc Người, thế gian chỉ có một, chính là thần Tổ Thị.”
Đế Quân mát lòng mát dạ khi Tam điện hạ chủ động nhắc đến thần Tổ Thị. “Ngươi nói đúng,” Đế Quân nói, “Ta cũng đang định nói đến cô ta. Ta và Tất Lạc đều cho rằng, trước khi thời không bây giờ tồn tại, thế gian này còn từng tồn tại một thời không khác. Bọn ta đoán trong thời không đó, Tổ Thị đã quy vị, sau đó dưới một tình huống nhất định nào đó, ta và Tổ Thị trước sau lập ra thêm hai pháp chú cho thế gian này, tiếp đó, có lẽ bát hoang đã nghênh đón đại nạn diệt thế gì đó, vì để bình định tai kiếp, Tổ Thị lấy mạng ra tế, nghịch chuyển thời gian, mới tạo ra mọi thứ bây giờ.”
Tam điện hạ giật mình, suy đoán này thoạt nghe rất lạ lùng, nhưng nghĩ kỹ lại cảm thấy rất đúng. “Này… đích thực cũng rất có khả năng.” Chàng trả lời. Khi thốt mấy chữ này ra, những dự cảm lạ lùng mà lúc nào cũng thành sự thật và trực giác tương tự trước kia dâng lên trong lòng, khiến chàng trong thoáng giây có một loại cảm giác chân thực, dường như chân tướng mọi việc đều như Đế Quân vừa nói.
Trong lòng bất chợt có phần trống rỗng, khoảnh khắc đó, chàng đột nhiên cảm thấy bản thân mình không hoàn chỉnh, dường như chàng đã từng mất đi rất nhiều. Cảm giác này chân thực khôn lường. Chàng không hiểu tại sao bản thân mình lại nảy sinh cảm xúc như thế trong khoảnh khắc này.
Đế Quân vẫn tiếp tục nói: “Đương nhiên chuyện này đều do bọn ta suy đoán. Ta và Tất Lạc vẫn luôn tìm lời giải đáp cho chuyện này. Ba nghìn năm trước, Tất Lạc tìm thấy cung Thượng Thiện Vô Cực của Tổ Thị ở Cô Dao.” Đế Quân giải thích, “Chính là cây cung có thể nghịch chuyển thời gian.” Lại nói, “Khi tìm được nó, thân cung phát ra hào quang óng ánh, khí vận đủ đầy, chứng minh cung thần không bị thiệt hại. Nhưng linh hồn của nó lại như đang say ngủ, mặc kệ hai người bọn ta có dùng hết mọi biện pháp, cũng không sao khiến nó phản ứng lại. Đương nhiên, bọn ta cũng không tìm được bất cứ manh mối gì liên quan đến nghịch chuyển thời gian trên chiếc cung này, nhưng nghĩ đến có ngày linh hồn của chiếc cung này thức tỉnh, ta liền mang nó về lại cung Thái Thần.”
Đế Quân nói đến đây, Tam điện hạ lờ mờ có dự cảm: “Cho nên Đế Quân triệu tôi đến đây, là vì chiếc cung đang say ngủ kia gần đây đã có động tĩnh?”
“Nói chuyện với ngươi thật đỡ phí lời.” Đế Quân lại cầm chén trà lên, nước trà đã ấm vừa phải, Đế Quân uống hai ngụm trà nhuận họng, tiếp tục nói về chiếc cung, “Đêm ngày kia, đầu giờ Tí, chiếc cung im phăng phắt ba nghìn năm qua bỗng nhiên động đậy, chớp mắt bay vọt ra khỏi cung Thái Thần. Ta men theo dấu tích nó lưu lại tìm suốt dọc đường, mới phát hiện không ngờ nó dừng lại bên ngoài cung Nguyên Cực, trên thân cung còn có thêm một hơi thở lạ lùng. Hơi thở đó cổ xưa, yếu nhược, liên hệ với thái độ mà cung thần đối với hơi thở đó, trực giác ta mách bảo đó là hơi thở của Tổ Thị, nhưng đang muốn kết ấn cảm tri, chiếc cung kia đã biến mất rồi. Ngày tiếp theo, ta tìm được chiếc cung ấy ở trong đình Tư Niệm trong biển Trường Sinh ở Cô Dao. Thân cung cắm thật sâu trong một chiếc cột trong đình Tư Niệm, ngay cả ta cũng vô phương lấy nó ra, mà đáng tiếc là, cung thần lại tiếp tục không còn phản ứng, hơi thở trên thân cung cũng biến mất tăm rồi.” Đế Quân dùng ngón tay gõ nhẹ lên mép bàn, “Thần cung xuất hiện bên ngoài cung Nguyên Cực, khí trạch nghi giống hơi thở của Tổ Thị cũng xuất phát từ trong cung của ngươi, bởi vậy ta tìm ngươi để thăm dò một chút manh mối,” Đế Quân ngước mắt nhìn Tam điện hạ, “Đêm hôm kia, trong cung của ngươi có xuất hiện chuyện lạ gì không?”
Tam điện hạ sững sờ rất lâu, có thể thấy đoạn hội thoại này đã làm chàng kích động.
Đêm hôm kia xảy ra chuyện gì?
Đêm hôm kia, Ti Mệnh tinh quân có được rượu ngon, đãi tiệc trong phủ, trên bàn tiệc chàng uống hơi quá chén, bởi vì tửu lượng không chịu nổi sức rượu, từ sớm đã về cung ngủ rồi. Nhưng ngủ không ngon. Dường như chàng còn nằm mơ, trong mơ có một người cúi mình trước giường chàng nói nhỏ, nhưng chàng không nhìn rõ dung mạo của đối phương, cũng không nghe rõ đối phương nói gì. Sau đó, khoảng giờ Tí, chàng đột nhiên choàng tỉnh, tỉnh lại chỉ thấy mơ màng, chàng không nhớ ra mình đã bị cái gì làm giật mình tỉnh giấc.
Chàng không thường bị thế, bởi vậy có hơi thẩn thờ. Trong lúc thẩn thờ, chàng thấy trên bệ giẫm chân trước giường có một đóa Huyền Hoa đã héo đi một nửa. Đóa hoa xơ xác giống như đốm lửa sắp sửa lụi tàn, thế lửa tuy yếu, nhưng bốc lên khiến chàng cay mắt. Đáy lòng chàng bất chợt sinh ra một loại cảm giác sợ hãi lạ lùng. Chàng muốn bắt được nó, bàn tay đã vươn ra, nhưng lại cảm thấy hốt hoảng, vì chàng không biết mình đang muốn bắt lấy cái gì. Đầu óc chàng chỉ toàn hỗn loạn, hỗn loạn đến mức khiến chàng đau đầu, cơn đau giày vò chàng cả đêm, khi trời tờ mờ sáng, chàng mới mệt mỏi rã rời chìm vào giấc ngủ.
Đối với chàng mà nói, đêm hôm kia đích thực không phải bình thường, nhưng những chuyện xảy ra trên người mình cũng không thể xem như sự lạ. Tổng kết lại chẳng qua chỉ là chàng say rượu mơ thấy một giấc mơ không nhớ được, sau khi tỉnh rượu tâm trạng không vui, không thể ngủ lại. Này thì có gì đáng nói.
Đế Quân thấy chàng hồi lâu không nói, bất chợt cảm thấy hứng thú, hơi rướn người về phía trước: “Thật sự có chuyện lạ à?”
Tam điện hạ hoàn hồn lại, lắc đầu: “Không có, tôi ngẫm lại, chỉ nhớ ra đêm hôm kia mình ngủ không được ngon giấc thôi.”
Đế Quân thất vọng ngồi về chỗ cũ, nghĩ ngợi, ra vẻ trầm ngâm: “Hơi thở của Tổ Thị xuất hiện trong cung của ngươi, có lẽ là vì trong khoảng thời gian chưa bị nghịch chuyển, hai người cùng là thần Tự Nhiên đã có tiền duyên gì đặc biệt. Chi bằng…” Đế Quân nhướng mí mắt, đưa ra một kiến nghị, “Chi bằng ngươi đi gặp cung Thượng Thiện Vô Cực một chuyến đi, ta cũng hết cách rồi, chưa biết chừng nghĩ đến tiền duyên giữa ngươi và Tổ Thị, cung Thượng Thiện Vô Cực có thể nể mặt tỉnh lại, đích thân nói cho ngươi biết bí mật của thế gian này.”
Ti Mệnh tinh quân thực sự rất thường xuyên biên ra những khung cảnh kiểu này trong sổ mệnh cách của phàm nhân, ví dụ như người có duyên mới có thể rút được bảo kiếm cắm nơi cấm địa gì gì đó đó, toàn bộ đều là do gã biên số mệnh nhiều quá biên không nổi nữa, mới bắt đầu viết bậy viết bạ kiểu này, bởi thế Tam điện hạ hoàn toàn không cảm thấy đề nghị của Đế Quân khả thi: “Nghe qua không đáng tin cậy lắm.”
Đế quân nhún nhún vai không chịu trách nhiệm: “Ngựa lành không có, dùng đỡ ngựa què. Gặp một lần cũng có thiệt cho ngươi đâu, thế gian này rốt cuộc xảy ra chuyện gì ngươi có thể không hiếu kỳ, nhưng dẫu sao cũng không thể không hiếu kỳ ngươi và Tổ Thị rốt cuộc có tiền duyên gì chứ?”
Tam điện hạ đờ người một giây. Nói thật, đối với việc này, chàng đầy bụng nghi vấn, hiếu kỳ đến không chịu được. Vừa rồi chàng cũng từng đoán, có lẽ trong thời không bị che lấp ấy, chàng và Tổ Thị có giao tình mật thiết. Nhưng ngoại trừ việc đều là thần Tự Nhiên ra, giữa hai người họ còn có mối liên hệ gì, ràng buộc sâu xa đến nỗi sau khi nàng chết, tàn tích của nàng còn có thể xuất hiện trong cung của chàng? Cho dù chàng trí tuệ tuyệt luân, cũng không sao hiểu nổi. Chàng xưa nay không phải người vội vã, nhưng trong chuyện này, mong muốn xua tan mây mù lại vô cùng bức thiết.
“Cũng được.” Chàng bưng chén trà lên uống cạn, đứng lên, “Vậy bảo Ti Mệnh đi chung luôn đi, đến lúc đó lỡ như phương pháp này không được, còn có thể bảo hắn đứng ra bịa thêm biện pháp kỳ quặc gì khác, cứ thử hết vậy.”
Đế Quân: “…”
———————————–
[1] Trà Lão Bạch: Là một loại trà trắng được ủ nhiều năm, cỡ 10-20 năm, nước trà nấu lên có màu đỏ, hương vị dễ chịu, thời gian bảo quản lâu thì hương vị càng dịu, giá trị cao hơn.
