Tam Sinh Tam Thế – Bộ Sinh Liên
[Bát Hoang] – Quyển 4: Vĩnh Sinh Hoa – Chương 4
#tamsinhtamthe#bosinhlien#bathoang#vinhsinhhoa
———————-
Tên của hai mươi bốn văn võ thị cung Nguyên Cực đều bắt nguồn từ Thiên can, Địa chi [1]. Từ tổng cộng hai mươi hai chữ trong thiên can, địa chi, Tam điện hạ rút ra mười hai chữ “Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Thìn Tỵ Ngọ Mùi” đặt tên cho văn võ thị, chữ Mùi xếp sau cùng, sẽ dùng cho hai người nhỏ tuổi nhất trong văn võ thị — Tương Mùi và Vệ Mùi.
Tương Mùi và Vệ Mùi là một cặp chị em, một văn một võ, tuổi tác tuy nhỏ, nhưng thuật ngụy trang lại vào hàng nhất đẳng trong hai mươi bốn văn võ thị, thế nên khi Tam điện hạ đích thân đến Nam Hoang thu phục Cù Phượng, hiếm lắm thay mới không mang Thiên Bộ theo cùng, mà để cho hai chị em này hầu cận hai bên. Sau khi giam cầm Cù Phượng, cặp chị em này lại hóa trang thành hai kẻ hầu đàn của Cù Phượng.
Liên Tống vừa từ Cửu Trùng Thiên về đến nơi trú thân của Cù Phượng là núi Tất Ngô chẳng được mấy ngày, Thương Lộ liền ghé thăm, nói là tìm Cù Phượng uống rượu đánh đàn.
Trong vườn đá, Thương Lộ đã uống say đến hai phần, nhưng người còn tỉnh táo. Thương Lộ có tướng mạo của một thư sinh mặt trắng, rượu uống dễ bốc lên đầu, bấy giờ mày mặt đỏ ửng, say lúy túy bật cười ra tiếng: “Hai mươi ngày nữa, Thanh Khâu và Thiên tộc sẽ liên hợp đại duyệt binh ở biên cảnh giáp ranh giữa Đông Nam Hoang và Nam Hoang chúng ta, chuyện này hiền đệ có nghe chưa?”
Vệ Mùi đứng cạnh bên rót rượu, thấy Điện hạ nhà mình biếng nhác dựa người trên ghế đá, môi mỏng hơi nhếch lên: “Chuyện này gần như bát hoang đều biết, tôi há có thể không biết được chăng?” Ngôn hành cử chỉ, đều cực giống Cù Phượng, cái kiểu thần sắc uể oải giữa hai chân mày đó, thậm chí chính bản thân Cù Phượng cũng không làm được giống vậy. Vệ Mùi kịp thời tiếp rượu cho hai người, trong lòng tràn ngập sự khâm phục với Điện hạ nhà mình.
Thương Lộ lại uống thêm nửa chén: “Tôn Thượng mài gươm nuôi ngựa, cũng muốn phái Ma Tướng đến biên cảnh ấy trước. Phàn Lâm là một tướng tài, cần phải đi đốc quân, thế là chuyện trong tay hắn đều giao cho ta cả. Vốn cho rằng ít nhất cũng còn có Tiêm Điệp có thể chia sẻ cùng ta, ai ngờ hai gã thần sứ Cô Dao gần đây lại nổi lòng hứng thú với chuyện Tôn Thượng quy vị, hiện đang dò la, Tiêm Điệp phải đi xử lý hai tên đó.” Vừa nói vừa gõ gõ trán, “Kết quả là, cái việc trông chừng Quang Thần này rớt trúng đầu một mình ta, làm đầu ta đau quá.”
Vệ Mùi nghĩ bụng, Thương Lộ này, quả nhiên vô cùng tín nhiệm Cù Phượng, có gì muốn nói đều nói cho Cù Phượng nghe. Cô dằn cảm giác kinh ngạc xuống, nghiêng đầu nhìn về phía Điện hạ bên cạnh, thấy Điện hạ vẫn ung dung như cũ, giống như không có lấy một phần kinh ngạc, nghịch nghịch chén rượu trên tay, hờ hững như không hỏi Thương Lộ: “Để ý một người thôi mà, này có gì đau đầu chứ?”
Thương Lộ lắc lắc đầu, lần này không dùng chén, mà trực tiếp nhấc bình ngọc lên tự rót ra nửa bình, có thể thấy quả thật có phần phiền muộn. Rót rượu xong, lại uống thêm một lát, mới bất mãn kể lể: “Tôn Thượng nói Quang Thần thức tỉnh, vốn đã là việc chẳng lành. Tuy không biết Quang Thần tỉnh lại là vì cớ gì, nhưng thấy để mắt đến cô ta dẫu sao cũng không sai. Sau khi Quang Thần thức tỉnh, cứ mãi ẩn cư ở núi Cô Dao, trong thời gian đó có phái thần sứ đi tặng cho Tam hoàng tử Thiên tộc cũng là thần Tự Nhiên một món lễ vật, sau đó thì mất tăm mất tích. Mãi đến bảy ngày trước, thám tử mới hồi báo, nói Thủy Thần từng mời Quang Thần đến Thiên Hoa Thịnh Điển thưởng hoa, từ đó về sau Quang Thần vẫn luôn ở lại Cửu Trùng Thiên, nghe nói cũng đã gặp mặt Đông Hoa Đế Quân. Rồi đến năm ngày trước, thám tử lại về báo, nói Quang Thần rời khỏi Cửu Trùng Thiên, đến núi Phong Tự Ngọc Môn tìm báu vật.”
Vệ Mùi chớp thời cơ, mau chóng đưa chén rượu sang, giúp cho Thương Lộ mới nói một tràng kia giải khát.
Hầu đàn cho Cù Phượng lúc nào cũng thỏa đáng như vậy, Thương Lộ chẳng thấy có gì bất thường, tiếp rượu rồi uống, giải thích chuyện tìm báu vật: “Nghe nói trước khi Nữ Oa ngủ say, từng giao lại cho Cô Dao một vật. Lúc Quang Thần còn, vẫn luôn giữ gìn vật đó rất tốt. Nhưng về sau Quang Thần hiến tế, bốn thần sứ cũng theo đó ngủ say, món bảo vật kia không biết đã lưu lạc đến đâu rồi. Hôm nay Quang Thần thức tỉnh, biết được bảo vật không còn, liền nhân lúc Thiên Hoa Thịnh Điển đến Cửu Trùng Thiên dò thám, có được đầu mối, biết món bảo vật đó có khả năng đang ở núi Phong Tự Ngọc Môn nơi Nữ Oa say ngủ, thế nên quyết định đích thân tìm về.”
Khi Thương Lộ nhắc đi nhắc lại chuyện này, Liên Tống ngả người trên ghế đá, điệu bộ tuy rằng lười nhác, nhưng dáng vẻ vẫn ra chiều dỏng tai nghe. Nghe đến chỗ này, chàng liền nhướng mày, gõ lên tay vịn ghế đá, biếng nhác tiếp lời: “Dường như Tôn Thượng có chiều úy kỵ Quang Thần, xem ra bất luận Quang Thần làm chuyện gì, Tôn Thượng đương nhiên đều không muốn cô ta làm được. Mà như huynh [1] nói, nếu chỉ là theo dõi cô ta mà không cần làm thêm gì khác, này đương nhiên cũng không phải chuyện khó làm.” Chàng bưng chén rượu lên, đong đưa chất rượu trong chén, “Chỗ khó có lẽ là, Tôn Thượng cần huynh làm chuyện gì khác chăng?”
Thương Lộ sững người, cười than: “Hiền đệ không ở trước mặt Tôn Thượng, mà cũng có thể hiểu được tâm ý Tôn Thượng hai năm rõ mười. Sớm nói muốn tiến cử hiền đệ đến Ma Cung làm việc, mà hiền đệ không ưng, haiz.”
Liên Tống uống cạn nửa chén rượu thừa, miết nhẹ đầu ngón tay lên mép chén ngọc, cũng cười: “Đi Ma Cung làm việc tôi nào được tự tại như bây giờ, nếu huynh có chuyện phiền lòng, tôi phân ưu cùng huynh là được, đến làm việc chỗ Tôn Thượng chi cho phiền nhiễu lấy thân.”
Thương Lộ lại than: “Haiz, hiền đệ đúng thật là…” Chẳng qua vẫn phải lấy chính sự làm trọng, hắn nghiêm mặt, tiếp tục nói: “Tôn Thượng đích thực muốn ta làm một chuyện khác. Ngài biết Quang Thần muốn tìm bảo vật thất lạc, lệnh ta nhất định phải tra ra vật đó là chi, ‘tiên hạ thủ vi cường’ cướp nó về. Phái người đi theo đã được năm ngày, trước mắt bọn chúng đã đến núi Phong Tự Ngọc Môn, cũng đi tới đi lui trong núi được mấy ngày rồi, ấy thế mà mật thám phái theo ngay cả một tí ti manh mối về món bảo vật kia cũng không tra ra được; lại không dám tiếp cận quá gần, sợ đánh rắn động cỏ.” Thương Lộ đầy vẻ ưu tư, “Nếu đã không biết vật đó là vật gì, còn nói gì tiên hạ thủ vi cường cơ chứ, haiz, em nói chuyện này khó hay không khó làm đây?”
Vệ Mùi thấy chén rượu của Điện hạ nhà mình trống rỗng, mau chóng nghiêng người rót đầy, tiếp đó thấy Điện hạ nhấc chén rượu lên, vừa thưởng thức chất rượu bên trong vừa hờ hững mở lời: “Theo tôi thấy, cái Tôn Thượng muốn chẳng qua là bảo vật Quang Thần muốn tìm mà thôi, ra tay trước hay ra tay sau có điều chi khác biệt, chỉ cần huynh có thể lấy được vật đó còn chả phải xong rồi?” Đầu mày chàng nhướng lên, nhè nhẹ mỉm cười, vẻ mặt có chút khinh mạn, “Nếu tôi là huynh, cứ từ xa theo dõi Quang Thần là được, tuyệt đối không được đả thảo kinh xà, đợi đến khi bọn chúng phí hết khí lực tìm ra vật đó, tôi mới bất ngờ cướp đi, như vậy há chẳng dễ dàng hơn biết mấy?”
Thương Lộ ngập ngừng, ngẫm nghĩ một lúc: “Nhưng lỡ như chuyện lúc đó không thành….”
Tam điện hạ vẫn lười nhác, không có chút nào gấp rút muốn thuyết phục người khác: “Thế thì cứ theo quy tắc, làm việc như Tôn Thượng sắp xếp thôi? Nhưng này không phải càng thêm khó xử? Theo sát thế này, Quang Thần nhất định phát giác, đến lúc đó đừng nói là tiên hạ thủ vi cường, ngay cả thừa dịp cô ta tìm thấy báu vật mà bất ngờ tập kích… Đối mặt với Quang Thần luôn đề cao cảnh giác, xác suất tập kích thành công cũng không lớn lắm đâu.”
Thương Lộ đậy chén rượu lại, nghĩ ngợi hồi lâu: “Hiền đệ nói rất đúng, nếu Quang Thần không cảnh giác, kế hoạch đánh lén cướp đồ quả thật có phần thắng không thấp, chuẩn bị cho tốt, đánh lén cho hay là được rồi. Bằng không chuyến công tác này càng khó có thu hoạch.”
Tam điện hạ mỉm cười: “Đúng vậy.”
Hai người lại cạn một ly.
.
Tổ Thị ở xa tận Tây Hoang hắt xì một cái. Thiên Bộ vội vã khoác thêm áo cho nàng. Tổ Thị lắc lắc đầu: “Không lạnh.” Nàng vắt tay lên lưng ghế, ngẫm nghĩ, “Chắc là có người nhắc đến ta.” Thiên Bộ liền rút chiếc áo khoác kia về. Nhiệt độ chênh lệch ngày đêm trên núi Phong Tự Ngọc Môn không quá lớn, huống chi bấy giờ bọn họ đang ở trong một sơn động tránh gió, đích thực không lạnh.
Bọn họ không lạnh, nhưng Địch Cơ bị Sương Hòa trói chặt cứng xong vứt vào trong hồ băng cách mấy bước ngoài sơn động kia thì đang run lẩy bẩy, thỉnh thoảng khẽ rên, nhưng không phải tiếng kêu rên cầu cứu, không giống như muốn xin được tha cho.
.
Bốn ngày trước, bọn họ đã đến núi Phong Tự Ngọc Môn.
Núi Phong Tự Ngọc Môn tọa lạc ở tận cùng phía tây của Tây Hoang, là vùng đất mà Địa Mẫu Nữ Oa say ngủ, cũng là nơi nhật nguyệt đồng lâm. Nữ Oa chính là người duy nhất thống trị ngọn núi này, các tộc khác đều không có quyền can dự, thế nên núi Phong Tự Ngọc Môn tuy rằng là núi thánh của Thần tộc, nhưng cũng có thể nói là miền đất không ai quản nổi [3]: Nữ Oa say ngủ hơn bốn mươi vạn năm, nơi này cũng không người cai quản được hơn bốn mươi vạn năm rồi.
Có điều, thần Hồng Hoang như bọn họ nếu có kế hoạch ngủ say thì đều có thần sứ hoặc người hầu trông coi nơi mình say ngủ. Cho nên lúc Tổ Thị phá trận xông vào núi mà không bắt gặp thần sứ nào bước ra ngăn cản, bước vào núi rồi chỉ thấy toàn cảnh hoang tàn, nàng không khỏi có chút hốt hoảng.
Sương Hòa và Cốt Dung theo nàng suốt chặng đường để mở mang tầm mắt cũng kinh ngạc không thôi. Sương Hòa là người đầu tiên lải nhải: “Tôi nhớ dưới trướng Nữ Oa Nương Nương không phải còn một thần sứ tỷ tỷ cực kỳ lợi hại sao, tên Oánh… Oánh cái gì nhỉ? Ồ đúng rồi, vương của Yêu tộc bây giờ họ Oánh, nói không chừng vị tỷ tỷ này hẳn là tổ tông của Yêu Quân ngày nay ấy nhỉ.” Khó cho Sương Hòa buôn dưa đến chỗ này còn biết đường lái về cho đúng chủ đề, “Tôn Thượng phá đại trận hộ núi của Nữ Oa Nương Nương, tạo ra động tĩnh lớn thế này, vị Oánh tỷ tỷ kia cũng không xuất hiện xem sao, chẳng lẽ cũng ngủ say luôn rồi?”
Cốt Dung cũng cằn nhằn theo: “Ngọn núi này vốn dĩ không giống như nơi có thần sứ coi sóc, mọi người xem, hoa này, cỏ này, cây này, đều tả tơi héo úa,” Vừa nói vừa khịt khịt mũi, “Cảm thấy không hề có chút linh khí, lẽ nào ngay cả linh vật cũng không còn, chuyện gì thế nhỉ… Thiên Bộ, cô thấy sao?”
Thiên Bộ tuổi tác còn nhỏ, trước khi xảy ra chuyện này thì chưa từng đặt chân đến nơi cổ thần say ngủ, còn cho rằng phong núi cũng đã phong được mấy chục vạn năm thì thần cảnh hẳn cũng phải có diện mạo này. Cô không có bất kỳ kiến giải chân thật nào để đem ra phát biểu. Ba người nhất tề nhìn về phía Tổ Thị.
Tổ Thị im lặng một lúc, dùng năng lực toàn tri liên kết hoa cỏ khắp núi trong tâm hải, cũng muốn hỏi các hoa cỏ xem rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì với ngọn núi này, nhưng phát hiện tâm hải cực tĩnh, không có lấy một chút âm thanh. Nàng thử dùng tia sáng nguyên sơ mang theo thần thức bao trùm cả ngọn núi, để thần thức chạm đến linh hồn của các hoa cỏ, lúc này mới biết hoa cỏ cả ngọn núi Phong Tự Ngọc Môn này đều đã mất sạch linh hồn.
Chuyện này thật quá lạ kỳ.
Hoa cỏ thế gian, đã khai linh trí, ắt có linh hồn.
Trong núi thánh Nữ Oa nhất định đã từng xảy ra việc gì đó.
.
Có lẽ là trước khi Nữ Oa ngủ say đã từng lập ra phép tắc hữu nghị khiến cho núi Phong Tự Ngọc Môn chấp nhận các thần Tự Nhiên, nên Tổ Thị vào đất này cũng như vào Cô Dao, thần thức thong thả dạo quanh, có thể nói là hoàn toàn tự do thoải mái, có thể cảm tri được khá nhiều thứ. Ví dụ như nàng rất dễ dàng dò thám được trên đỉnh núi có một pháp trận không gian bốn mươi chín tầng, trận pháp cổ xưa hoàn mỹ, chưa từng bị ai động vào, xem ra chính là nơi lưu giữ tiên thể Nữ Oa. Hơn nữa nàng cũng có thể cảm nhận được ngọn núi này hoàn toàn không phải một tòa núi hoang không có vật sống — Trong núi có linh vật, một… hoặc là hai, đang ẩn nấp trong một pháp trận không gian khác, không rõ vị trí cụ thể, năng lượng không lớn, hẳn không phải thần sứ, có lẽ là tiên phó hoặc người giữ núi…
Núi thánh mênh mông, muốn tìm người trong ngọn núi bao la này, hơn nữa còn là người cố ý trốn tránh, không phải chuyện dễ dàng, nhưng cũng không phải không có cách ép người đó ra.
Cách của Tổ Thị chính là lần lượt lần lượt phá giải pháp trận không gian bảo vệ tiên thể của Nữ Oa.
Pháp trận không gian bốn mươi chín tầng trên đỉnh núi dĩ nhiên cao minh, nhưng trong tứ hải bát hoang này, người có thể thắng được Tổ Thị về pháp trận không gian, đếm trên đầu ngón tay là hết. Bốn mươi chín pháp trận này diệu kỳ phức tạp, muốn phá giải không phải giản đơn, nhưng đối với nàng mà nói cũng không phải khó.
Từ ba ngày trước nàng đã bắt đầu phá trận, quá ba ngày, đến hôm nay, đã thuận lợi phá giải trận pháp kia đến tầng thứ chín.
Sau đó, người giữ trận cuối cùng cũng đứng ngồi không yên, xuất hiện trước mặt họ.
Chính là Địch Cơ.
.
Người giữ trận núi Phong Tự Ngọc Môn chính là Địch Cơ, đây là việc mà ai cũng không ngờ được. Vừa thấy Địch Cơ, ngay cả Tổ Thị cũng có chút sững sờ, chẳng qua vẻ mặt nàng bình tĩnh lạnh nhạt, thấy Địch Cơ dường như rất đề phòng bọn họ, nàng cũng không định lập tức thẩm vấn Địch Cơ, chỉ nói với Thiên Bộ rằng phá trận ba ngày rồi, nàng hơi mệt, Địch Cơ giao đó cho ba người họ trông coi, nàng đi ngủ một giấc cho hồi phục tinh thần. Nói xong liền chậm rì rì đi về phía sâu nhất trong sơn động rồi ngủ mất.
Tổ Thị không gấp, Thiên Bộ và Cốt Dung cũng không phải gấp, nhưng Sương Hòa tính tình nông nổi. Duyên cớ gì mà núi thánh Nữ Oa lại thành bộ dáng này, người giữ trận của tiên trận thánh sơn lại cớ gì náo loạn Cửu Trùng Thiên… Gã thực sự tò mò muốn chết, Tổ Thị vừa đi, gã liền tóm lấy Địch Cơ từ tay Thiên Bộ, muốn truy vấn trước một phen. Thế nhưng ai ngờ Địch Cơ xưa nay yếu đuối đến mức chẳng thể tự lo cho mình thế mà biến thành một cái rễ cứng, cơ bản không buồn để ý đến gã, Sương Hòa không biết nhẫn nại là gì, thế là tức giận. Lại bởi vì tướng mạo của chính bản thân Sương Hòa gã cũng đã là người đẹp hơn hoa, mà Địch Cơ đối với kẻ người đẹp hơn hoa này cũng chẳng động chút lòng thương hương tiếc ngọc, dưới cơn thịnh nộ gã liền trói Địch Cơ lại rồi quăng xuống hồ băng.
Khi Tổ Thị đã nghỉ ngơi đủ rồi, bước từ trong sơn động ra, Địch Cơ đã bị ngâm nước cả buổi trưa, gương mặt nhỏ bị cóng đến trắng bệch, cánh môi cũng lạnh đến tím tái, nhưng chưa từng mở miệng cầu xin nửa lời, đúng là ương ngạnh.
Tổ Thị nghe Cốt Dung kể Sương Hòa và Địch Cơ trưa nay náo loạn cái gì, nàng nhíu mày, sau khi ngồi xuống, lệnh cho Sương Hòa vớt Địch Cơ lên, lại lệnh cho Thiên Bộ đốt một đống lửa bên cạnh.
Sau khi Địch Cơ chậm rãi bước qua, ánh mắt nhìn bọn họ có ba phần giận dữ, bảy phần cảnh giác. Sương Hòa không vui lắm nói luyên thuyên: “Tôi cũng không phải cố ý đày đọa cô, mới đầu tôi cũng nói chuyện đàng hoàng với cô mà, nhưng cứ như nước đổ lá khoai, nói với cục đá, chẳng để ý gì đến tôi, hừ, thế nên tôi mới bất đắc dĩ ném cô xuống hồ để cô tỉnh táo lại chút thôi mà?!”
Xưa nay Tổ Thị chưa từng quở trách Sương Hòa, nghe gã nói thế, chỉ hòa nhã nói: “Nhưng đối xử với con gái cũng nên nương tay một chút chứ.”
Địch Cơ bỗng nhiên mở lời, giọng nói có hơi khản lại, có ý châm chọc: “Không cần ngươi giả từ bi.”
Cốt Dung lập tức nói: “Đừng có mà vô lý!”
Tổ Thị nhận lấy nước trà Thiên Bộ đưa cho: “Không sao.” Nàng không nhanh không chậm uống hết nửa chén trà, để tinh thần tỉnh táo lại, sau đó đặt chén trà xuống, cụp mắt nhìn tiểu yêu áo xanh đã được cởi trói, đang ngồi bên đống lửa: “Hẳn ngươi cũng từng hiếu kỳ muốn biết ta là ai, ta là Quang Thần.” Nàng dịu giọng nói.
Địch Cơ mới rồi còn mặt đầy trào phúng chợt ngẩn ra, ngẩng phắt đầu, cánh môi lạnh đến tím tái mấp mấy vài lần, dường như khó lòng tin được: “Quang Thần… Tổ Thị…”
Tổ Thị gật đầu, ngón tay nhẹ nhàng gõ lên tay vịn ghế đá, nhịp gõ chậm rãi, cũng nhẹ nhàng: “Núi thánh Địa Mẫu, cho dù phong núi bốn mươi vạn năm có lẻ, cũng nên là thần cảnh linh khí dồi dào không gì sánh được, hoang phế thế này, ắt đã từng gặp phải kiếp nạn, nhưng Thần tộc lại hoàn toàn không biết nơi đây từng xảy ra chuyện gì… Là vì Nữ Oa Nương Nương ngủ say quá sớm, không có giao thiệp với thần thánh thời nay, còn các ngươi với tư cách là thị giả cũng không cảm thấy tiên thần bát hoang có ai đáng để tin tưởng, thế nên núi thánh xảy ra chuyện lớn bằng này, cũng không thấy các ngươi cầu xin Thần tộc giúp đỡ… Đúng vậy chăng?”
Địch Cơ không gật đầu cũng chẳng lắc đầu, chỉ chăm chú nhìn Tổ Thị.
Địch không có phản ứng, nữ thần toàn thân áo vàng cũng không lấy làm điều, chỉ điềm đạm tiếp tục nói: “Địa Mẫu Nữ Oa là vị thần Tự Nhiên đầu tiên trên thế gian này, khi Người vì vá trời mà ngủ say, ta còn chưa giáng thế. Nhưng sau khi ta giáng thế, món quà đầu tiên nhận được chính là quà của Nữ Oa Nương Nương, Người xin Mẫu Thần mang tặng ta một chiếc Cửu Liên Hoàn, để mừng ngày ta đến với thế gian.” Nàng chống cằm, giọng nói không nhanh không chậm, “Sau khi Nữ Oa Nương Nương ngủ say, trong thần kỷ cũ, người thủ hộ ngọn núi này vẫn luôn là thần sứ Oánh Nam Tinh hầu hạ bên người Nữ Oa. Nam Tinh cũng là người yêu hoa, từng đến Cô Dao thụ giáo ta cách nuôi dưỡng bảo vệ Vỉ Đông. Cho nên nói ra thì, ta chính là vị thần đương thời thân thiết nhất với núi Phong Tự Ngọc Môn. Ngươi có thể tin ta.” Ánh mắt nàng dừng trên người Địch Cơ, là ánh mắt điềm tĩnh dịu dàng, “Thế rồi, Địch Cơ, có thể nói với ta, là ai đã biến Phong Tự Ngọc Môn thành ra thế này? Nơi này từng xảy ra chuyện gì? Có phải liên quan đến chuyện ngươi xuất hiện trên Cửu Trùng Thiên không?”
Thiên Bộ theo hầu cảm thấy hoảng hốt trước sự sắc sảo của Tổ Thị, đúng vậy, cô nên nghĩ ra từ sớm, núi thánh hoang phế như vầy, Thần tộc lại hoàn toàn không biết, còn Địch Cơ cạy miệng không nói một lời, khả năng lớn nhất, hẳn là người giữ tiên trận Nữ Oa này không tin tưởng bất cứ ai trong Thần tộc. Tổ Thị ra tay từ điểm này lôi kéo Địch Cơ, thực sự cao minh quá, Thiên Bộ không khỏi bội phục trong lòng.
Quả nhiên, sắc mặt Địch Cơ thả lỏng, đôi mắt đen láy lóe sáng lên, cánh môi cũng nhẹ nhàng động đậy, đã có ý mở lời. Tổ Thị cũng nhìn Địch Cơ, ánh mắt dịu dàng điềm đạm, không hề giục giã, vừa kiên nhẫn vừa lặng yên chờ đợi Địch Cơ.
Trong động cực kỳ tĩnh lặng, qua thật lâu, sau khi trải qua một trận tranh đấu nội tâm, Địch Cơ mới mở lời, nhìn về phía Tổ Thị: “Ngài… Ngài rất đẹp, Thủy Thần cũng thân thiết với Ngài, hẳn Ngài tất nhiên là Quang Thần rồi.” Địch Cơ cắn môi, “Nhưng Ngài xông vào nơi này, lại làm chấn động tiên trận hộ thể của Nương Nương ép tôi ra mặt, chắc không phải hoàn toàn vì quan tâm đến Phong Tự Ngọc Môn đúng không?”
Tổ Thị nhìn Địch Cơ một lúc: “Ngươi rất thông minh, vốn dĩ ta có chuyện cầu xin Phong Tự Ngọc Môn mới đặc biệt đến nơi này. Nhưng nhìn thấy núi thánh như vậy, cũng không thể bỏ mặc không lo. Năm xưa Nam Tinh từng nhắc, trước khi Nữ Oa Nương Nương ngủ say, đã từng rút linh châu nguyên thần ra đưa cho cô ấy để giúp cô ấy tu hành. Lần này ta đến đây, là muốn mượn linh châu nguyên thần này của Nam Tinh dùng một lúc. Chẳng qua là,” Nàng khẽ than, “Phong Tự Ngọc Môn hoang tàn đến thế, nhất định Nam Tinh cũng xảy ra chuyện rồi. Để ta đoán nhé, Thổ Linh Châu phải chăng cũng không còn ở trong núi? Tai ương của núi này, phải chăng có liên quan đến linh châu kia?”
Địch Cơ ngơ ngác, sắc mặt biến hóa mấy lần. Đối diện với nữ thần đột nhiên xuất hiện trước mặt mình, dùng có hai ba câu đã đem khốn cảnh núi thánh nói đến rõ mười mươi, cuối cùng, Địch Cơ lựa chọn thần phục, vái một cái thật sâu: “Tiểu yêu sinh sau đẻ muộn, mối duyên từ sớm của Tôn Thần và Phong Tự Ngọc Môn, tiểu yêu không biết, nhưng Tôn Thượng từng hiến tế vì bát hoang, công bằng đúng mực, tiểu yêu tin Tôn Thần không có lòng riêng. Tôn Thần dự đoán không sai, Thổ Linh Châu quả thực mất rồi, mà trước đây tiểu yêu lừa dối Tôn Thần và Thủy Thần, trà trộn vào Cửu Trùng Thiên, chính là vì Thổ Linh Châu thất lạc.”
Thiên Bộ vạn vạn không ngờ rằng Địch Cơ bày kế hãm hại Ngu Anh vậy mà không phải xuất phát từ tư thù nam nữ, một tiên quân người phàm nhỏ nhoi như Ngu Anh thế mà có thể có mối liên hệ với núi thánh Nữ Oa, phải nói là ngạc nhiên muốn rớt quai hàm. Cốt Dung và Sương Hòa cũng bốn mắt nhìn nhau.
“Chuyện này kể ra rất dài.” Địch Cơ nhắm mắt lại, chậm rãi mở lời.
Chuyện này quả thật rất dài, phải bắt đầu kể từ hai mươi bốn vạn năm trước.
Hai mươi bốn vạn năm trước, ngay trước tân thần kỷ, sau khi Thiếu Quán và Tổ Thị dẫn theo tộc Người di cư đến phàm thế, Thượng Thần Mặc Uyên chia tách Bắc Hoang thành một khối lục địa, đặt tên là Đất Bắc, để cho những kẻ pha trộn phân nửa máu con người còn chưa kịp theo hai vị thần Thiếu – Thị đến phàm thế làm chỗ an cư.
Sau khi Tạ Minh thân hóa Minh Ti, tộc Người pha tạp huyết mạch các tộc khác vì cũng là người phàm nên vẫn phải chịu trói buộc bởi phép tắc của Minh Ti, tuy rằng thọ mệnh dài hơn người phàm ở phàm thế một chút, nhưng cũng có sinh lão bệnh tử và phải chịu luân hồi.
Người phàm ở Đất Bắc sống chung trong thế giới có Thần, Ma, Yêu, Quỷ tồn tại , bởi vậy tri thức về cái gọi là ‘vàng đen một cõi đất trời, vũ trụ một màu tăm tối’ này hơn hẳn người phàm ở phàm thế, thế nên càng thêm hi vọng có được thọ mệnh sánh với Ma, Thần, thoát ly luân hồi vô tận. Bởi vậy người tu tiên ở Đất Bắc không chỉ có một hai. Môn phái tu tiên cũng khắp nơi đầy rẫy.
“Trường Hữu môn chính là môn phái tu tiên lớn nhất trong số các môn phái tu tiên đó.” Nói đến đây, sắc mặt Địch Cơ rõ ràng không được tốt, giọng nói cũng bắt đầu chông chênh, “Ba vạn năm nghìn ba trăm năm trước, Trường Hữu môn có một vị tu sĩ trẻ tuổi độ kiếp không thành, bị lôi đình đánh trọng thương, lưu lạc đến ngọn núi thiêng bên cạnh chúng tôi, được Thần sứ đại nhân cứu về trong lúc đến linh sơn hái linh dược. Vị tu sĩ đó và Thần sứ đại nhân kết thành bạn bè, ba năm chung sống dựa dẫm, thân mật bên nhau, hắn biết được trách nhiệm của Thần sứ đại nhân, nắm giữ phương pháp bước vào Phong Tự Ngọc Môn.”
Mấy ngày trước Cốt Dung ở trên trời thấy chán, đã lật qua rất nhiều thoại bản, cũng từng xem qua các câu chuyện bắt đầu thế này, nắm rõ nhiều lối mòn trong truyện, bất giác nhíu mày chen ngang: “Lẽ nào là, tu sĩ này phản bội Oánh Nam Tinh?”
Không ngờ rằng thực sự bị nàng đoán trúng. Ngọn lửa bùng lên trong mắt Địch Cơ, soi tỏ hận ý hừng hực ánh lên trong đôi mắt thiếu nữ: “Đúng. Có lẽ là trong lúc tiếp xúc với Thần sứ đại nhân, hắn biết được Thổ Linh Châu là chí bảo trợ giúp người ta tu hành, thế rồi nổi lòng tham; mà với tư cách là người thân mật nhất với Thần sứ đại nhân, hắn tất biết toàn bộ nhược điểm của Thần sứ đại nhân. Thế nên ba năm sau, nhân dịp Thần sứ đại nhân xảy ra sự cố trong lúc tu hành, cực kỳ hư nhược, các trưởng lão Trường Hữu môn dẫn theo môn hạ hơn trăm đệ tử lẻn vào trong núi, tàn sát thánh sơn, cướp Linh Châu đi mất.”
Cốt Dung nghe mà thổn thức, còn Thiên Bộ chẳng phải người hay xem thoại bản, không thấy chuyện này phát triển thế là chuyện bình thường, cô cảm thấy không sao hiểu được: “Người phàm thôi mà, làm gì có bản lĩnh tàn sát núi thánh Nữ Oa cho được?”
Có điều với tư cách là thần Hồng Hoang hiểu tương đối rõ về Địa Mẫu, Tổ Thị không lấy làm ngạc nhiên gì mấy, nghịch nghịch chiếc gương đồng khắc hoa văn chim loan to cỡ bàn tay đang cầm, chậm rãi giải thích: “Địa Mẫu từ bi, gần gũi với các tộc nhỏ yếu khác, bởi vậy vào thời Hồng Hoang, thị giả bên dưới Nữ Oa Nương Nương đều xuất thân từ Yêu tộc và Nhân Tộc. Sau khi Nữ Oa Nương Nương ngủ say, tiên thị người phàm dưới trướng đều vâng theo lệnh Người, trở về cộng đồng phàm nhân, trong núi thánh chỉ thừa lại duy nhất Yêu tộc phụng dưỡng. Yêu tộc nhỏ yếu, Thần sứ Nam Tinh là người duy nhất tài giỏi dưới trướng Nữ Oa. Nếu thừa dịp Nam Tinh suy yếu, mấy trăm người phàm tu tiên mạnh mẽ liên hợp chạy đến tấn công, tàn sát cả một tòa núi thánh cũng không phải không được.” Sau một giây trầm mặc, nàng khe khẽ than, “Đại trận bảo vệ duy nhất Người để lại cho các thị giả bên dưới có thể bảo vệ bọn họ, chỉ là… Có khả năng Người cũng không ngờ được Nam Tinh sẽ nhẹ dạ cả tin… Có điều Nam Tinh sẽ không mở to mắt nhìn thánh sơn bị hủy,” Nàng hơi nhíu mày, lại hỏi Địch Cơ, “Vì vậy tình huống lúc ấy rốt cuộc là như thế nào, Nam Tinh ra sao rồi?”
Cánh môi Địch Cơ khẽ run, đuôi mắt trào ra một hàng lệ nóng, cô nhấc tay áo lên chùi nước mắt, nhưng nước mắt cứ như tuôn mãi không ngừng: “Lúc ấy trong núi chỉ có mười mấy người hầu, đều bị chém đầu, chỉ có mẹ mang theo tôi và ca ca là sống sót. Mẹ tôi là thị tỳ của Thần sứ đại nhân, lúc người của Trường Hữu môn xông vào, mẹ đang dắt theo tôi và ca ca đến hầu Thần sứ đại nhân. Thần sứ đại nhân giấu chúng tôi trong linh động bế quan, may thay giúp chúng tôi thoát khỏi kiếp nạn. Nhưng Thần sứ đại nhân lấy một địch trăm, không địch nổi đám người Trường Hữu môn, bị bọn chúng cướp mất Thổ Linh Châu. Người Trường Hữu môn cướp được Thổ Linh Châu rồi còn không chịu dừng tay, muốn giết chết Thần sứ, vơ vét bằng sạch kỳ hoa dị thảo trong núi. Lúc ấy, các hoa cỏ đã có ý thức trong núi phải đến hàng nghìn có lẻ, bị bọn chúng gom vào túi để chế thành đan dược cực kỳ có lợi cho bọn chúng tu hành. Thần sứ đại nhân tuy rằng cực kỳ yếu ớt, nhưng không thể trơ mắt nhìn đám ác nhân này lột da rút xương hủy cả tòa núi thánh, thế nên… thế nên lấy hồn làm tế phẩm, ôm nhau cùng chết với đám người Trường Hữu môn.”
Cốt Dung khẽ “à” một tiếng.
Địch Cơ thoáng nét bi thương, cắn răng nói: “Chỉ là đáng tiếc vẫn còn mấy tên chạy thoát. Thần sứ đại nhân hiểu rõ lòng người vốn tham, biết chắc nếu không có mình bảo vệ, đám người Trường Hữu môn chạy thoát còn sẽ tiếp tục trở lại càn quét núi thánh, bởi vậy trước khi hồn bay phách tán, đã dùng chút sức lực cuối cùng, mượn linh lực của tất cả hoa cỏ đã khai linh trí, tích tiểu thành đại, thay đổi pháp trận hộ núi hòng cản trở kẻ ác tiếp tục xông vào. Các hoa cỏ mất đi linh lực, hồn phách đều rơi vào trạng thái ngủ sâu. Để phòng vạn nhất, Thần sứ đại nhân lại đưa tất cả hồn phách ngủ sâu vào trong tiên trận hộ thể của Nữ Oa Nương Nương, đảm bảo chắc chắn trong núi không có tai ương, không thể tổn hại bọn chúng nữa. Yêu thị khắp núi, chỉ còn ba mẹ con chúng tôi sống sót, bởi thế trước khi Thần sứ đại nhân lâm chung đã giao phó ngọn núi thánh này lại cho chúng tôi.”
Đúng là một kiếp nạn đẫm lệ đầy máu. Chân tướng của tai ương hóa ra là vậy, Thiên Bộ và Cốt Dung than thở không thôi, Sương Hòa cũng buồn thương mấy tiếng, nhưng đồng thời gã cũng thấy hiếu kỳ, cứ chau mày mãi: “Nhưng mấy cái đó… liên quan gì đến Ngu Anh?”
Đầu óc Cốt Dung cũng không quá tệ, suy đoán: “Hay là Ngu Anh xuất thân từ Trường Hữu môn?”
Địch Cơ tiếp tục lau nước mắt, bật ra một chữ “Phải.” Đuôi mắt như lá liễu đỏ hoe, không biết là vì rơi nước mắt hay do phẫn nộ, “Trường Hữu môn cướp được linh châu, đồ sát núi thánh. Mẫu thân yếu đuối, mà lúc ấy tôi và ca ca vẫn còn thơ dại, không có cách nào cướp lại được linh châu. Ba vạn năm nghìn năm nay, chúng tôi vẫn luôn để mắt đến Trường Hữu môn.” Ngập ngừng, lại nói, “Sau khi Trường Hữu môn tàn sát cả núi cướp đi báu vật, môn phái này đã có hai tu sĩ liên tục thành tiên. Một người chính là Thương Phách Thần quân – thiên tài Đất Bắc tu ba kiếp đã đắc đạo phi thăng trong truyền thuyết. Người còn lại, chính là con trai của Thương Phách Thần quân là Tiên quân Ngu Anh,” Nói đến đây, Địch Cơ cười trào phúng, “Người này càng lợi hại hơn, mới một kiếp đã thành tiên rồi. Tuy rằng ai nấy đều biết, Ngu Anh là con trai của Thương Phách thần quân và đạo lữ hoài thai vào đêm trước khi đắc đạo, nên sinh ra đã có tiên căn, bởi vậy vừa bước lên con đường tu tiên thì đã có thể tu thành chánh quả. Nhưng con người Ngu Anh này, tư chất thế nào, các người hẳn cũng thấy rõ, cái gì mà có sẵn tiên căn nên tu tiên dễ thành chánh quả, tôi quyết không tin.” Giọng Địch Cơ oán hận, “Theo tôi thấy, rõ ràng là hắn lấy Thổ Linh Châu tu hành, mới ngày đi nghìn dặm, một kiếp thành tiên như vậy, Thổ Linh Châu nhất định đang nằm trong tay hắn!”
Tổ Thị ra chiều suy tư: “Thế nên ngươi gài bẫy Ngu Anh, là vì…”
Địch Cơ bật cười, tiếng cười băng lạnh, đáy mắt toát lên vẻ căm thù: “Tôi bày mưu hại Ngu Anh, là muốn hắn bị biếm chức, trở về Đất Bắc. Cửu Trùng Thiên thiên quy sâm nghiêm, hành sự đâu đâu cũng bất tiện, không phải nơi có thể đối phó hắn, nhưng một khi hắn bị biếm về Đất Bắc, tôi ắt có thể khiến hắn giao Thổ Linh Châu ra. Đây là kế hoạch ban đầu của tôi, chỉ không ngờ rằng…” Chỉ không ngờ rằng kế sách này lại bị thần Tổ Thị phá hoại. Địch Cơ tự biết câu này thốt ra là bất kính với tôn thần, kịp thời dừng lại, nhưng trong lời nói khó tránh lộ ra một phần bất cam và oán hận không sao giấu hết.
Hóa ra là vậy. Tổ Thị nhớ tới trước đây khi bàn luận việc này với Liên Tống, chàng cũng từng nói với nàng, mục đích của Địch Cơ hẳn là muốn Ngu Anh bị giáng chức. Nàng dựng đứng chiếc gương đồng trong tay lên, nói với gương đồng: “Lại đoán trúng rồi, Tiểu Tam Lang.”
Thiên Bộ vẫn luôn hầu bên người Tổ Thị, sớm đã phát hiện bóng dáng của Điện hạ nhà mình hiện ra trong chiếc gương đồng hoa văn chim loan đó. Cô vô cùng quen thuộc với chiếc gương đồng này. Lần trước Điện hạ đem về được Tinh Phù Kim Thạch, luyện ra pháp khí truyền được hình ảnh, âm thanh ở ngoài xa nghìn dặm này, cô cũng có mấy ngày ở cạnh lò luyện pháp khí giúp chàng một tay. Thiên Bộ cảm thấy pháp khí này dùng trong tình cảnh bây giờ thích hợp lắm thay, đỡ cho cô hôm sau còn phải viết một phong thư dài cho Điện hạ bẩm lại một màn thẩm vấn, nghĩ tới Địch Cơ nói biết bao nhiêu là câu, cô phải viết biết bao nhiêu là chữ!
Tổ Thị nhìn vào gương mà nói, Liên Tống còn chưa trả lời, Địch Cơ đã cảnh giác: “Là ai?” Địch Cơ đề phòng hỏi.
“Thủy Thần.” Tổ Thị trả lời Địch Cơ, “Y cũng quan tâm tới Nữ Oa.”
Khi Tổ Thị nói chuyện, Địch Cơ nghe thấy giọng nói lành lạnh của chàng trai phát ra từ chiếc gương đồng: “Linh châu e là không có trên người tiên quân Ngu Anh đâu.” Đích thực là giọng nói của Thủy Thần mà Địch Cơ từng nghe qua.
Địch Cơ không còn lo lắng, nhưng cũng không tán đồng lời nói của Thủy Thần, lập tức phản bác: “Sao lại không có? Có lẽ Ngài không biết, ông ngoại của Ngu Anh cũng nằm trong số các trưởng lão Trường Hữu môn dẫn người cướp núi năm xưa. Linh châu cuối cùng rơi vào tay hắn, là chuyện bình thường như nước chảy thành sông mà!”
Nhưng tin tức cực kỳ có sức thuyết phục này lại không hề khiến thanh niên biếng nhác dựa người trên ghế đá trong gương dao động. “Người tu tiên khi lên trời thành tiên, sau khi vào Nam Thiên Môn đều phải đi một chuyến đến hồ Tịnh Bảo.” Thanh niên bình thản, “Hồ Tịnh Bảo tra xét toàn bộ bảo vật và pháp khí mà người tu tiên mang theo, được tiên giả chưởng quản là Nghi Bảo Thần quân ghi chép vào sổ. Hồ Tịnh Bảo nhận biết pháp khí, chưa từng ngụy tạo. Nghi Bảo Thần quân cũng thiết diện vô tư, là một vị thần công chính.”
Chàng không nói thêm gì, trong động nhất thời im phăng phắt, người trước tiên có lại phản ứng chính là Tổ Thị, đầu mày nàng khẽ động, hỏi: “Tức là… Tiểu Tam Lang đã từng kiểm tra sổ sách của Nghi Bảo Thần quân, phát hiện trong sổ không hề có ghi chép về Thổ Linh Châu.”
Thanh niên hơi gật đầu. Tổ Thị chống cằm, lấy làm kinh ngạc: “Nhưng trước đây Tiểu Tam Lang cũng có biết Ngu Anh có quan hệ gì với Thổ Linh Châu đâu, làm sao nghĩ đến chuyện đi đọc quyển sổ pháp bảo đó được?”
Thanh niên và nàng nhìn nhau qua chiếc gương, chàng dịu dàng trả lời nàng: “Mấy ngày trước khi rời khỏi cảnh trời thứ mười hai, ta thuận đường kiểm tra thử, vì để tránh bóng tối dưới chân đèn mà thôi, không có quan hệ gì với Ngu Anh.” Kỳ thực lúc đó chàng tra qua sổ pháp bảo là vì để loại trừ khả năng Phong Linh Châu không biết ở nơi đâu kia đang bị giấu ở trên trời, nhưng có Địch Cơ ở đây, chuyện này không nên nói thẳng, nên chàng đáp bừa. Nhưng Tổ Thị hiểu ra, nói “Vậy à,” lại mỉm cười khen: “Tiểu Tam Lang quả nhiên là người cẩn mật chu toàn nhất.”
Hai người thông minh tâm ý tương thông, nói năng bí hiểm cũng có thể đôi bên ăn ý. Nhưng Sương Hòa đầu óc không mấy thông minh nghe đến chỗ này, đã hoàn toàn choáng váng, trợn mắt len lén hỏi Cốt Dung: “Sao lại nói tới sách pháp bảo gì đó vậy, sách pháp bảo đó có can hệ gì với Ngu Anh à?”
Cốt Dung thông minh hơn Sương Hòa biết bao nhiêu lần, mới đầu tuy rằng chưa kịp phản ứng, nhưng bây giờ chẳng có gì chưa rõ, trừng mắt nhìn Sương Hòa: “Ngu. Cửu Trùng Thiên đã có quy tắc như vậy, nên khi Ngu Anh thành tiên lên trời, đương nhiên cũng phải vào hồ Tịnh Bảo. Nếu Thổ Linh Châu có trên người hắn, làm sao không bị ghi vào sách pháp bảo? Theo lời Tam hoàng tử nói, Thần quân chép sách là một vị thần phẩm hạnh đoan chính, không có khả năng ngụy tạo ghi chép. Nhưng theo cách nói của Địch Cơ, Ngu Anh đó mới một kiếp thì đã thành tiên, tuyệt đối không thể thiếu được báu vật trợ giúp. Như vậy rất có khả năng là, có lẽ Ngu Anh đích thực dựa vào Thổ Linh Châu tu được thành tiên, nhưng vào lúc phi tiên, Linh Châu đã đi về nơi khác.” Cốt Dung một mạch giải thích xong, buông lỏng tay, “Chuyện là thế ấy.”
Đích thực chuyện là thế ấy, Địch Cơ cũng nghĩ vậy, nhưng nếu Thổ Linh Châu không ở trên người Ngu Anh, thì đang ở nơi nào? Vẫn còn trong Trường Hữu môn chăng?
Địch Cơ thất hồn lạc phách, không chấp nhận nổi: “Nhưng tôi từng âm thầm vào Trường Hữu môn để tìm, trong Trường Hữu môn không hề có dấu tích của Linh Châu. Hơn nữa nếu Linh Châu có ở Trường Hữu môn, vậy tại sao sau Thương Phách và Ngu Anh, hơn ba vạn năm nay Trường Hữu môn không có người phàm nào thành tiên nữa? Cần phải biết Thổ Linh Châu đối với phàm nhân mà nói, công dụng lớn nhất chính là trợ giúp bọn chúng tu hành!”
Địch Cơ nói vậy nghe cũng hợp lý.
Nhưng nếu Linh Châu đã không ở trên người Ngu Anh, lại không có trong Trường Hữu môn, vậy thì đang ở nơi nào?
Tổ Thị bỗng nhiên mở miệng nói: “Yêu thân của Nam Tinh vẫn còn chứ?”
Địch Cơ sững sờ: “Tôn Thượng hỏi câu này là có ý gì? Thần sứ đại nhân đã hồn bay phách tán…”
Tổ Thị ‘ừ’ một tiếng: “Hồn bay phách tán, nhưng yêu thân vẫn còn chứ?” Lại nói, “Thọ mệnh của Yêu tộc vốn dĩ không dài, bảy tám vạn tuổi đã xem là sống thọ, Nam Tinh có thể sống đến mấy chục vạn năm,” Nàng nhìn Địch Cơ, “Ngươi có biết lý do không?”
Địch Cơ sững sốt lắc đầu.
Lại nghe Liên Tống đáp: “Để ta đoán, có lẽ là vì Nữ Oa Nương Nương từng tách ra một ít sợi hồn phách của Oánh Nam Tinh đưa vào trong Thổ Linh Châu, giúp cô ấy thoát khỏi tử kiếp mà Yêu tộc phải chịu?”
Tổ Thị mỉm cười: “Không thẹn là Tiểu Tam Lang học rộng hiểu nhiều của chúng ta.” Nàng tiếp lời Liên Tống, tiếp tục nói: “Bởi thế, nếu nói hồn phách của Nam Tinh đã hoàn toàn tiêu tán… thì không hẳn vậy, Nữ Oa Nương Nương từng rút một hồn một phách của cô ấy ra, dời vào trong Thổ Linh Châu, chí ít một hồn một phách đó bây giờ vẫn được giữ gìn nguyên vẹn.”
Nàng ngập ngừng: “Chỉ cần yêu thân của Nam Tinh vẫn còn, lại có pháp khí kết hồn trợ lực, ta có thể dùng linh lực Địa Mẫu lưu lại và hơi thở còn sót lại của Nam Tinh trong ngọn núi này, tạo ra một hồn một phách đặt lại vào yêu thân của Nam Tinh, hồi phục thần thức cho cô ấy. Mà chỉ cần thần thức của Nam Tinh khôi phục lại được, cho dù còn chưa có linh trí, cô ấy cũng có thể cảm ứng được tung tích của Thổ Linh Châu đang chứa một hồn một phách của mình.” Trước mắt, đây là biện pháp tốt nhất để tìm được Thổ Linh Châu mà nàng có thể nghĩ ra. Mà suy tính như thế, cũng chỉ là muốn lợi dụng Nam Tinh tìm được Thổ Linh Châu, “Đợi khi lấy lại được Thổ Linh Châu, giúp cho hai hồn hai phách này dung hợp, Nam Tinh hẳn có thể mở mang ý thức, đợi đến khi Nữ Oa Nương Nương tỉnh lại, hẳn là có cách giúp Nam Tinh thân là Thần sứ của Người hoàn toàn hồi phục.”
Hồi lâu sau, Địch Cơ mới khôi phục tinh thần, không dám tin tưởng trợn tròn mắt, đuôi mắt đỏ hoe, giọng nói run rẩy: “Thật ư? Ngài thật sự có thể giúp Nam Tinh đại nhân sống lại, còn có thể… còn có thể giúp ngài ấy hồi phục như xưa?”
Tổ Thị trịnh trọng cải chính: “Nữ Oa Nương Nương có thể giúp cô ấy hồi phục như xưa, ta thì không thể, tối đa ta chỉ có thể giúp cô ấy hồi phục được ba phần.”
Nhưng chuyện này đã đủ khiến Địch Cơ kinh hỉ, giọng nói vốn khô khốc nghẹn ngào, mà vì kích động, càng thêm khản đặc. Địch Cơ quỳ xuống khấu đầu, cuối cùng không còn giấu giếm gì mà nói hết ra: “Bẩm Tôn Thần, yêu thân của Nam Tinh đại nhân đang được đặt trong tiên trận hộ thể của Nữ Oa Nương Nương.”
.
Chuyện lớn đã thẩm tra xong, mấy ngày nay mọi người đều tập trung trong sơn động, mà từ giờ đã là người cùng hội cùng thuyền với Địch Cơ, đương nhiên không có lý nào lại tiếp tục ở trong sơn động, thế nên đều đi theo Địch Cơ, để cô dẫn đường, đi về tịnh xá trong núi của Địch Cơ.
Tịnh xá của Địch Cơ được xây trên đỉnh núi, xuyên qua một đoạn nham thạch khá dài, bồng lai rộng mở, biển trúc miên man, chỗ sâu nhất trong biển trúc, có một tòa lầu tinh xảo, bên trong tòa lầu tỏa ra ánh sáng, cánh cửa cũng được mở ra một nửa.
Địch Cơ khẽ nói: “E là ca ca tôi đã về.” Lại giải thích, “Núi thánh cần có linh khí nuôi dưỡng, nhưng Tôn Thần cũng thấy, linh khí trong núi bây giờ rất yếu, cho nên mỗi năm ca ca đều rời núi một chuyến, đến nơi khác thu linh khí về nuôi dưỡng núi này.”
Mềm lòng như Thiên Bộ, Cốt Dung, lại thổn thức thêm lần nữa.
Địch Cơ đẩy cửa ra, trong đêm thanh vắng, cánh cửa trúc phát ra tiếng kẽo kẹt, giọng nói của chàng trai từ trong đó truyền ra: “Xuân Dương?”
Địch Cơ đáp lại một tiếng: “Là em.” Rồi nén giọng thú thật với mấy người đằng sau: “Xuân Dương mới là tên thật của tôi.”
Trong lúc nói chuyện, cửa bị đẩy ra, một thanh niên mặc đạo bào màu xám bạc cầm đèn đi vòng qua bức bình phong bằng lá trúc, xuất hiện trước mắt bọn họ.
Dưới ánh sáng đèn vàng vọt, thanh niên vóc dáng cao lớn, gương mặt tuyệt đẹp, lúc thấy rõ bọn họ, y chợt sững người, tiếp đó đôi mắt đen láy gần như chấn động, nhìn chằm chằm Tổ Thị: “Ngọc… sư thúc… Người là… A Ngọc!”
Tổ Thị cũng bất giác sững người. Ánh mắt nàng dừng trên gương mặt thanh niên kia một lát, sau đó nàng nhớ đến một người và một cái tên đã chôn sâu trong ký ức. Đó là người nàng gặp được khi luân hồi ở phàm thế, từng cùng nàng có vướng mắc thâm sâu. Tên của người đó là…
“Tịch Tử Tự.” Nàng bình thản nhìn thanh niên, “Đã lâu không gặp.”
—————————————————-
[1] 10 Thiên Can là Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý. 12 Địa chi là Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi. Thiên can, Địa chi được nhắc đều nhiều trong Đạo Giáo và Tử Vi Lý Số, nhưng phạm vi của truyện thì tôi chú nhiêu thôi.
[2] Nguyên đoạn này Liên Tống (trong vai Cù Phượng) khi xưng hô với Thương Lộ đều dùng danh từ huynh (兄) chứ không dùng 1 chữ nào đại từ ngôi thứ 2 (你). Có lẽ là 1 kiểu xưng hô đặc trưng tác giả dùng cho nhân vật này, thế nên mạn phép giữ nguyên danh từ huynh chứ nguyên tắc dùng bộ xưng hô của tôi đến nay không đổi.
[3] Nguyên gốc là tam bất quản (三不管), ý chỉ thành Nam thành phố Thiên Tân cuối thời nhà Thanh khi bị Nhật, Pháp xâm chiếm. Do ở xa nên cả lãnh sự quán Nhật và Pháp đều không quản lý tới. Còn chính quyền Trung Quốc cũng bỏ mặc nơi này. Nên gọi là vùng đất tam bất quản (ba nhà nước không quản). Trong bối cảnh trong truyện thì đồng nghĩa với việc không có tộc nào quản lý.


Trời ưi mong ngóng từng ngày luôn. Cảm ơn bạn dich nhiều. ^.^