Tam Sinh Tam Thế – Bộ Sinh Liên – [Phàm thế] – Chương 15 | Quyển 1: Hóa kén – Chương 15

By

·

70–105 phút

Tam Sinh Tam Thế – Bộ Sinh Liên

[Phàm Thế] – Chương 15 | Quyển 1: Hóa kén – Chương 15

#tamsinhtamthế #bộsinhliên #phàmthế #hóakén

Dịch (láo): A Tĩnh

———————-

Tinh Linh cảm thấy từ sau khi hai người đi viện Cự Sương thăm bệnh đến nay, Thành Ngọc có gì đó hơi khác.

Nàng nói ít lại, cười cũng ít lại, cả ngày đều hơi biếng nhác.

Tháng trước thời tiết không tốt, mười ngày thì có hết bảy tám ngày là gió lớn mưa to, những ngày gió mưa đó cũng làm nàng có phần biếng nhác, nhưng không phải kiểu biếng nhác như thế này. Lúc ấy, nàng hoặc sẽ bảo cô ở bên, hoặc sẽ gọi ca nương đến hầu, xem sách đánh cờ nghe hát, là các thú vui tầm thường giết thời gian của các tiểu thư, công tử.

Nhưng hôm nay nàng lại thích ở một mình, tìm một chỗ nào đó nhắm mắt dưỡng thần, khoanh chân, chống má, có hơi khép mắt lại, một lần nghỉ ngơi thì có thể bất động đến nửa ngày.

Tinh Linh đem từng chuyện một báo cáo với Quý Minh Phong.

Quý thế tử tựa vào đầu giường xem một phong thư dài, nghe thế chỉ nói: “Nếu cô ấy không gặp nguy hiểm gì thì không cần báo lại.”

Lầm lì như thế hơn mười ngày, đến ngày kia, Thành Ngọc đã bộc lộ một chút cao hứng, nói rằng muốn đi thăm Tào Khê một chuyến.

Huyện Tào Khê nằm ở phía nam Lệ Xuyên, lưng dựa núi Túy Đàm, sau lưng núi Túy Đàm chính là Nam Nhiễm.

Nghiên mực danh tiếng thiên hạ, có nửa xuất xứ từ Tào Khê, Thành Ngọc bình sinh thích viết thư pháp, muốn đến Tào Khê cũng không có gì đáng trách.

Một chuyến thăm Tào Khê bằng xe ngựa phải mất hai ngày đường đi, này cũng tính là đi xa rồi, mà Tào Khê gần với Nam Nhiễm, Tinh Linh đắn đo, tuy rằng bây giờ Quận chúa vẫn chưa gặp nguy hiểm, nhưng trên đường không biết chắc có thể gặp nguy hiểm hay không, việc này hẳn nên bẩm báo với Quý thế tử.

Quý thế tử trầm mặc một lúc: “Cô ấy vốn muốn đi du lịch, ra ngoài cho đỡ buồn cũng tốt, bảo bốn người Quý Từ âm thầm theo sau đi.”

Trên đường đến Tào Khê, Tinh Linh cưỡi ngựa, Thành Ngọc ngồi trong xe ngựa.

Hai ngày đường, cảnh vật thời tiết tốt, bởi vậy màn xe ngựa vẫn luôn được vén lên. Từ cửa sổ trong xe nhìn ra, Thành Ngọc uốn chân nằm trên đệm mềm, một tay chống má, mắt khép hờ, là tư thế dưỡng thần giống hệt khi nàng còn trong phủ.

Đây là lần đầu tiên Tinh Linh được tiếp cận với tư thế đoan trang này của Thành Ngọc, thế nhưng trong lòng lại có cảm giác hơi kỳ dị, cảm thấy thần thái này của nàng không giống như đang dưỡng thần, mà giống như đang nín thở ngưng thần lắng nghe gì đó.

Thính lực của cô được xem như trác tuyệt, cũng học theo bộ dạng nhắm mắt nghe gì đó của nàng. Nhưng ngoại trừ tiếng sơn ca của các thôn phụ đang làm việc ngoài xa và tiếng chim chóc véo von ở núi rừng sơn dã gần đấy thì không còn nghe thấy bất cứ âm thanh nào khác biệt.

Sau khi đến huyện Tào Khê, cuối cùng Thành Ngọc cũng khôi phục lại tinh thần như hồi mới đến Lệ Xuyên vương phủ, mỗi ngày đều muốn ra ngoài dạo chơi.

Hai ngày trước nàng đi thăm rất nhiều cửa hàng chế tạo nghiên mực; ba ngày trước thì đến đá sản xuất nghiên mực Tào Khê lãnh giáo phong cảnh khe suối; bốn ngày trước nàng muốn đi tham quan núi Túy Đàm, có điều Tinh Linh nói với nàng rằng trên núi đó không được yên bình, nàng cũng không cưỡng cầu nữa, chỉ ở lại dưới chân núi nghỉ trưa, sau đó cùng Tinh Linh quay về trấn.

Mấy ngày sau ngày nào nàng cũng đi lung tung trên phố, hôm nay mua vài viên minh châu một bình đạn vàng, ngày mai mua một cây cung và hai tấm vải lụa, ngày kế lại mua một cây chủy thủ và vài đôi hài, không có kết cấu, chỉ thấy giống như tùy tiện mua, gặp được thứ gì thì mua thứ đó.

Rồi sau đó lại có một ngày, nàng đột nhiên hỏi Tinh Linh rằng Mạnh Trân có phải rất giỏi chế độc giải độc hay không, Tinh Linh đáp phải. Ngày tiếp theo liền thấy nàng không biết từ đâu tìm được một quyển Độc Điển, xem ngày xem đêm, thái độ như thề phải cùng Mạnh Trân phân cao thấp. Bởi vì lân cận khách điếm hai người nghỉ lại có một hiệu thuốc, hiệu thuốc cũng là một nơi mà Thành Ngọc thường ở lại, thỉnh thoảng lại thấy nàng mang vài thứ dược liệu từ hiệu thuốc về để nghịch chơi.

Tinh Linh cũng không nghi ngờ gì.

Cô thực sự nghĩ không ra chỗ khác thường là vì trong lòng cô, cũng hoàn toàn tán đồng với Quý thế tử, cho rằng Thành Ngọc đích thực là một quận chúa ngây thơ không hiểu chuyện đời. Cho dù Thành Ngọc đã đến dưới chân núi Túy Đàm, cô cũng không dự liệu được thực ra tiểu Quận chúa ngây thơ đến đây là để thăm dò cổ mộ Nam Nhiễm.

Bởi chiếu theo lẽ thường, một tiểu cô nương chưa đầy mười sáu tuổi căn bản không thể biết được cổ mộ Nam Nhiễm nằm ẩn trong núi Túy Đàm; mà chiếu lý ra, cho dù nàng nhờ cơ duyên gì đó mà biết được chỗ táng mộ thì cũng không thể nào liều lĩnh đến mức một mình xông vào một ngôi cổ mộ đáng sợ vừa mới cướp đi sinh mệnh mười sáu cao thủ trong tay Quý thế tử; cũng chiếu lý mà nói, không có máu của thánh nữ, nàng vốn dĩ không thể đại phá cửa mộ để tiến vào trong mộ.

Bởi vì Tinh Linh đo lường vạn sự đều theo lý lẽ thông thường nên mới phạm phải sai sót lớn nhất trong đời là để Thành Ngọc ở trước mắt cô, không nhanh không chậm, tập hợp được đầy đủ công cụ cùng với dược liệu xông vào cổ mộ Nam Nhiễm.

Đêm mùng hai tháng tám, Thành Ngọc xách theo một bình rượu Quế Hoa Trần, trèo lên tường đông của khách điếm, nằm trên tường uống rượu ngắm trăng.

Điểm các hoa yêu ngưỡng mộ vị Hoa Chủ này của bọn họ nhất chính là dũng cảm thẳng thắn không cố kỵ, nhưng Thành ngọc không phải là một người dũng cảm cô độc. Quý thế tử chịu thiệt hại trong cổ mộ khiến nàng biết rõ mười mươi hung hiểm trong đó, thế nên lần này nàng hết sức cẩn thận, không tiếc tháo cả Hi Thanh xuống.

Sau một đoạn đối thoại dài với cây bạch lan trong vườn của Quý thế tử, nàng liền tháo Hi Thanh ra, đó là chuyện của một tháng trước.

Bởi vậy đã một tháng rồi nàng chưa từng được ngủ ngon.

Người toán mệnh nói đời này của nàng có ba kiếp, kiếp thứ nhất là bệnh kiếp. Khi nàng một tuổi đã gặp phải kiếp này, Quốc sư tuy rằng không tính ra rốt cuộc nàng mắc phải bệnh lạ gì, nhưng tính ra muốn trị được quái bệnh này của nàng thì phải nhờ vào việc cha nàng đi xin về trăm loại hoa cỏ, xây lầu cung phụng. Sau đó, không biết rõ là cha nàng tìm được Chu Cẩn hay Chu Cẩn chủ động tìm đến cha nàng, tiếp đó một trăm vị tộc trưởng cũng lần lượt được mời vào lầu Thập Hoa, chuyện này cứ thế mà thành.

Thực ra nàng rốt cuộc mắc phải bệnh gì, cha mẹ nàng vẫn luôn mơ mơ hồ hồ, trong nhận thức hiển nhiên của hai người họ, vẫn luôn cho rằng nàng bị trúng tà.

Đến khi nàng trưởng thành rồi mới nghe Chu Cẩn nhắc qua.

Đó không phải bệnh, mà chỉ là năng lực phi phàm bẩm sinh của Hoa Chủ thức tỉnh thôi. Mà cái gọi là năng lực phi phàm đó chính là năng lực có thể nghe được tiếng lòng của tất cả hoa cỏ trong thiên hạ. Cả tộc hoa cỏ bọn họ gọi nó là năng lực toàn tri.

Bởi vì Thành Ngọc không thích buôn dưa, thế nên căn bản không biết loại năng lực nghe được tiếng lòng của hoa cỏ trong trời đất thì có tác dụng gì. Nếu để nàng chọn lựa, nàng càng hi vọng những thứ tầm thường hơn một chút. Ngự kiếm phi tiên gì đó nàng cũng chẳng cưỡng cầu, chỉ cần năng lực biến đá thành một tờ ngân phiếu lớn thôi là đủ. Đáng tiếc là nàng không được lựa chọn, lão thiên gia chỉ ban cho nàng một thứ năng lực toàn tri chẳng dùng được vào việc gì, hơn nữa còn mang đến cho nàng biết bao đau khổ.

Còn nhớ thời gian đó, nàng mới là một đứa bé một tuổi, nhỏ nhoi yếu ớt. Khi năng lực đó thức tỉnh, như có ngàn vạn âm thanh vượt qua ngàn dặm vạn dặm vang lên bên tai, rót vào trí óc, nhiễu loạn tinh thần nàng. Nàng không né tránh được cũng không chịu đựng được, may mà Chu Cẩn và Diêu Hoàng nhanh tay chế tạo ra Hi Thanh cho nàng, run rẩy nhặt về được cái mạng nhỏ của nàng khi nàng không sao chịu nổi, suýt chút mạng vong.

Hi Thanh là phong ấn, nàng đeo nó thì có thể phong ấn dị năng trong cơ thể, giúp nàng an nhiên trưởng thành.

Hi Thanh cũng là công cụ trọng yếu để tu hành, cần phải ngày ngày hấp thu linh khí của bách hoa trong thời gian dài, nặn ra một linh thân Hoa Chủ bên trong phàm thai nhục thể của nàng, giúp nàng có ngày có thể chấp chưởng năng lực toàn tri của Hoa Chủ.

Chu Cẩn nói nếu như nắm trong tay linh lực này, đến khi tháo Hi Thanh xuống, cho dù ngàn vạn thanh âm có tiếp tục xông vào tâm trí, nàng cũng không còn phiền não đau đớn nữa, ngược lại còn có thể tự do thong dong trong tâm hải. Ngàn vạn hoa cỏ có ngàn ngôn vạn ngữ nàng cũng có thể nghe thấy được trong chớp mắt, phân biệt được trong chớp mắt, hơn nữa cũng trong chớp mắt ấy mà hiểu được ý của bọn chúng. Nếu như nàng muốn biết nhiều hơn thì có thể giao tiếp với hoa cỏ ở ngoài xa vạn dặm, chân chính có thể ngồi trong phòng tối mà nghe được mọi việc trong thiên hạ, đích thực có thể nói đấy là một loại năng lực toàn tri.

Hi Thanh cần phải hấp thu linh lực bách hoa mười lăm năm để đúc ra linh thân Hoa Chủ.

Đây chính là lý do Thành Ngọc cần phải ở lại thành Bình An mười lăm năm.

Mà mười lăm năm bị trói buộc, nói Thành Ngọc không thể rời khỏi lầu Thập Hoa, kỳ thực là nói nàng không thể rời Hi Thanh.

Hi Thanh không thể rời khỏi lầu Thập Hoa, bởi vậy nàng cũng không thể rời khỏi lầu Thập Hoa.

Lúc này Hi Thanh bị Thành Ngọc treo ở trên miệng bình rượu bằng sứ trắng, nàng uống một ngụm rượu Quế Hoa Trần, Hi Thanh liền chạm vào cánh môi của nàng một cái.

Cây bạch lan cổ trong viện Cự Sương chắc chắn hiểu xa biết rộng, nhắc đến độc chướng cơ quan trong cổ mộ đều mạch lạc rõ ràng. Nhưng hoa cỏ cũng biết nói dối, có đôi khi nhớ hay không nhớ cũng không dám nói rõ ràng, thế nên để phục dựng toàn cảnh cổ mộ Nam Nhiễm, nàng nghe rất nhiều ý kiến, cũng chuẩn bị rất nhiều.

Đêm đầu tiên tháo Hi Thanh xuống, nàng bị ngàn vạn âm thanh trong đầu ép cho suýt chút nửa sống nửa chết, vẫn là nhờ linh thân Hoa Chủ mà Hi Thanh đúc ra trong cơ thể nàng phát huy tác dụng. Tuy rằng nàng nghe đến đầu choáng mắt hoa, hai mắt ứ máu, nhưng cuối cùng cũng không đến mức không làm gì cũng ngất suýt chết như khi còn nhỏ.

Chịu đựng nỗi khổ không sao tả xiết đó mấy ngày thì dần dần phân biệt được những âm thanh đó đang nói tới chuyện gì.

Mãi đến hôm nay, tuy tháo Hi Thanh xuống vẫn làm nàng đau đầu như cũ, hơn nữa nhiều nhất cũng chỉ có thể phân biệt được tin tức của các hoa cỏ truyền đến trong chu vi trăm dặm, nhưng so với lúc ban đầu đã tốt hơn rất nhiều rồi. Hơn nữa đối với chuyện thăm dò cổ mộ Nam Nhiễm, làm được đến bước này cũng đã đủ.

Nàng giày vò bản thân một tháng, bên trong cổ mộ Nam Nhiễm như thế nào, về cơ bản nàng cũng đã nghe ngóng được rõ ràng. Trên đường đến Tào Khê, nàng cảm thấy vấn đề lớn nhất còn lại chính là, làm sao lấy được máu thánh nữ của Mạnh Trân để phá cửa mộ.

Quý Thế tử thực sự bảo hộ Mạnh Trân rất nghiêm ngặt, hơn hai mươi ngày trong vương phủ, nàng không có cách nào xuống tay. Nàng mượn danh nghĩa đi ngắm nghiên mực Tào Khê vốn dĩ là muốn thám thính một chút từ chỗ hoa cỏ trăm dặm xung quanh xem còn cách nào khác để phá mộ nữa không.

Nàng vốn dĩ cũng không ôm hi vọng quá lớn, chỉ nghĩ nếu như không được thì lại quay về vương phủ suy tính kỹ càng hơn thôi, nhưng không ngờ rằng vấn đề này lại được nhanh chóng giải quyết.

Hôm đó, nàng đang ở dưới chân núi Túy Đàm nghỉ trưa, một gốc cây bách cổ bên cạnh cổ mộ và một cây tùng nghênh khách trong núi sâu nói cho nàng biết, ngày mùng một là ngày bắt đầu tháng mới, cũng là ngày bắt đầu sinh ra khí, chỉ cần trong vòng giờ Tý [1] ngày mùng một mỗi tháng, lấy cổ mộ làm trung tâm, chiếu theo tám phương vị của tiên thiên bát quái, lần lượt thu thập nước có ánh trăng trong sông, hồ, khe suối do thiên nhiên tạo hóa, đem nước ở tám phương này hợp vào một cái bình, gọi là khóa thiêng Thủy thần, cũng có thể mở được cửa cổ mộ.

Đêm qua chính là ngày mùng một, đêm qua sau Tinh Linh mê man ngất xỉu, nàng đã làm xong đại sự này rồi, lúc này chiếc bình sứ men xanh trong tay trái của nàng đang chứa cái khóa thiêng mở cửa mộ đẹp đẽ ấy.

Mấy ngày nay nàng làm nhiều việc, cũng không rảnh để hội họp với cây bách cổ và cây tùng nghênh khách kia trong tâm thức. Hôm nay mọi việc nàng đã làm xong, vạn vật chuẩn bị sẵn sàng, chỉ chờ ngày mai vào núi, bởi vậy có chút nhàn hạ, dự định thăm dò nguyên nhân của thứ phương pháp mở cửa mộ mới mẻ mà bọn chúng mách cho nàng là bắt nguồn từ đâu.

Từ ngàn vạn âm thanh huyên náo xông vào đầu phân biệt ra thanh âm của cây bách cổ: “Hoa Chủ đang hỏi vì sao nước ở tám phương cũng có thể mở được cửa cổ mộ à? Đó là bởi vì phu quân của thần Na Lan Đa chính là Thủy thần đại nhân chưởng quản thủy vực trong thiên hạ đó.”

Thành Ngọc suy xét xem thần Na Lan Đa là thứ đồ chơi gì.

Cây bách cổ rất hiểu lòng người: “Hoa Chủ chưa từng nghe tên thần Na Lan Đa chứ gì? Này không có gì lạ, người phàm đời nay sớm đã thay đổi tín ngưỡng, ngay cả yêu tộc cũng không có nhiều người còn nhớ những giai thoại cổ xưa này.”

Hắn giải thích: “Trong truyền thuyết cổ xưa, thần Na Lan Đa là mẫu thần của người phàm, là vị thần mà người phàm cung phụng sớm nhất ở phàm thế này. Mà quân vương của người phàm thuở sơ khai tên là A Bố Thác, được gọi là chúa tể tộc Người – A Bố Thác, cũng là thần sứ của thần Na Lan Đa. Ngôi cổ mộ trong núi Túy Đàm, thay vì nói là phần mộ của tổ tiên tộc Nam Nhiễm, chi bằng nói là phần mộ của tổ tiên cả một tộc Người, bởi vì thứ trong mộ cất giấu chính là di cốt của chúa tể tộc Người A Bố Thác. Quả thật ngàn năm vạn năm…”

Thành Ngọc súy chút theo không kịp, nhíu mày: “Ngươi nói chậm chút.”

Cây bách cổ điều chỉnh lại tốc độ, “Quả thật, ngàn năm vạn năm, thời gian lưu chuyển, tộc Người sớm đã quên mất, người được mai táng trong ngôi cổ mộ đó là ai, chỉ nhớ rằng, nơi ấy là thánh địa…”

Thành Ngọc gần như đã có thể chống đỡ được đau đớn trong đầu, theo kịp được tốc độ của hắn, búng ngón tay cái: “Cũng không cần chậm thế.”

Cây bách cổ: “…”

Cây bách cổ khôi phục lại tốc độ ban đầu: “Vì nhớ nơi ấy là thánh địa mà phàm nhân đã tiến hành hàng ngàn hàng vạn lần chỉnh trang và trùng tu ngôi cổ mộ đó, chuyện này khiến cho cách cục và công dụng của ngôi cổ mộ đó ở đời sau biến thành không ra cái dạng gì. Nhưng cho dù là vậy, người phàm cũng không thể thay đổi phương pháp mở cửa mộ, hoặc là có máu còn sót lại của chúa tể tộc Người A Bố Thác, hoặc là có nước chứa ánh trăng tám phương lấy được vào ngày mùng một. Hai loại phương pháp mở cửa mộ trong truyền thuyết này đều là chúa tể tộc Người A Bố Thác đích thân định ra khi còn tại thế…”

Khi đã đuổi kịp được tốc độ của cây bách cổ, đầu óc Thành Ngọc phản ứng cực nhanh, nàng lập tức bắt được điểm mấu chốt: “A Bố Thác này cũng thật thú vị. Nếu như mộ này là mộ của Na Lan Đa, vậy thì có thể hiểu được tại sao khóa thiêng Thủy thần cũng có thể mở được cửa mộ, bởi vì Thủy thần là trượng phu của bà. Nhưng nơi này chôn cất A Bố Thác, thế mà mở cửa mộ cũng cần dùng khóa thiêng Thủy thần, lẽ nào A Bố Thác cũng thích Thủy thần hay sao?”

Cây bách cổ chuyên nghiệp nhịn không được phải nghẹn họng: “Hoa Chủ, vừa nãy ta có nói với ngài chúa tể tộc Người A Bố Thác là nam không, Thủy thần cũng là nam mà?”

Thành Ngọc nói: “Ồ, hai người đều là nam, ta quên mất, nam đích thực không thể thích nam.”

Cây bách cổ hiểu sâu biết rộng không tự chủ được muốn phản bác lại tư tưởng lạc hậu đó của nàng: “Hoa Chủ, quan điểm này cũng không hẳn đâu… có điều, A Bố Thác không thể thích Thủy thần, bởi vì A Bố Thác thích thần Na Lan Đa, nghe nói còn là thật lòng.”

Thành Ngọc: “… Chuyện bát quái này mà ngươi cũng biết?”

Cây bách cổ khiêm tốn nói: “Vô tình nghe được thôi.” Vừa thấy trọng tâm câu chuyện đã bị đẩy ra xa, hắn ho một tiếng, trở lại vấn đề chính, “Mộ này tuy chôn cất di cốt của chúa tể tộc Người A Bố Thác, cũng có thể xem như là mộ của chúa tể tộc Người, nhưng nghe nói mộ này cũng được xây dựng ở nơi thần Na Lan Đa vũ hóa. Thần Na Lan Đa chính là thần hóa sinh từ ánh sáng, sau khi thần vũ hóa vì tộc Người thì liền biến thành ánh sáng dưới vòm trời, tan biến vào trong hỗn độn.”

“Chúa tể tộc Người A Bố Thác từng là thần sứ của thần Na Lan Đa, có nhiều năm đi theo thần Na Lan Đa. Sau khi Na Lan Đa vũ hóa, A Bố Thác hoài niệm bà, soạn ra một quyển sách, ghi lại các câu nói khi thần Na Lan Đa còn sống.”

“Trong quyển sách ấy có chép, thần Na Lan Đa từng có một lần nói với A Bố Thác về việc xây mộ cho bà. Thần Na Lan Đa từng nói với chúa tể tộc Người rằng ‘Nếu ngươi muốn xây mộ cho ta, vậy thì hãy khiến tất cả những ai có thể đi vào trong mộ đều sùng phụng Thủy thần, nếu thế thì kể cả khi vũ hóa, một tia sáng bất diệt cuối cùng của ta cũng sẽ giáng lâm ngôi mộ ấy.’”

Vì lượng tin tức quá mức phong phú, Thành Ngọc nhất thời không phản ứng được gì, tiêu hóa nửa ngày, nàng tổng kết: “Cho nên nói, ngôi mộ này kỳ thực không phải là mộ của một mình A Bố Thác, hoặc cũng không phải là mộ của A Bố Thác, nó chỉ là nơi cất giữ hài cốt của A Bố Thác mà thôi. Chủ nhân của ngôi mộ này thực ra chính là Na Lan Đa, là mộ mà A Bố Thác xây cho Na Lan Đa.”

Thành Ngọc nghi hoặc hỏi: “A Bố Thác kỳ vọng cuối cùng sẽ có ngày Na Lan Đa đã vũ hóa có thể giáng một tia sáng bất diệt cuối cùng của mình xuống ngôi mộ đã cất giữ hài cốt của A Bố Thác, có phải không?”

Cây bách cổ thổn thức: “Chúa tể tộc Người thâm tình quá.”

Thành Ngọc lẩm bẩm: “Nếu ngươi muốn xây mộ cho ta, vậy thì hãy khiến tất cả những ai có thể đi vào trong mộ đều sùng phụng Thủy thần, nếu thế thì kể cả khi vũ hóa, một tia sáng bất diệt cuối cùng của ta cũng sẽ giáng lâm ngôi mộ ấy.”

Nàng hiếu kỳ: “Cho dù A Bố Thác thâm tình với Na Lan Đa, nhưng người Na Lan Đa thích lại là Thủy thần à?”

Cây bách cổ cao thâm khó đoán: “Này thì ai biết được? Căn cứ theo ghi chép trên bút ký của chúa tể tộc Người, nghe nói lúc thần Na Lan Đa vũ hóa, trượng phu của bà là Thủy thần vẫn còn chưa giáng sinh.”

“…” Thành Ngọc cảm thấy trong đầu mình vừa bổ ra một vở kịch tam giác, đầu óc hết sức mơ màng, “Cho nên Thủy thần của bọn họ có định hôn ước từ bé với thần Na Lan Đa?” Nàng kinh ngạc, “Theo lời ngươi nói thì Na Lan Đa cũng là một vị cổ thần mười phần danh vọng, sao lại có thể ưng thuận một đứa trẻ còn chưa ra đời làm trượng phu của mình?”

Cây bách cổ khéo léo nói: “Không ai có thể ép được thần Na Lan Đa. Na Lan Đa thừa nhận Thủy thần là bởi vì bà có năng lực tiên tri. Bút ký của chúa tể tộc Người có nói, thần Na Lan Đa từng mơ một giấc mơ, sau khi tỉnh dậy liền nói với y rằng mấy vạn năm sau sẽ có một vị Thủy thần đản sinh, sau này trở thành trượng phu của bà.”

Thành Ngọc than một câu: “Tội ác của phong kiến mê tín đây mà.” Lại hỏi, “Sao cái gì Na Lan Đa cũng nói với chúa tể tộc Người vậy?”

Góc độ câu hỏi của nàng có hơi mới mẻ, cây bách cổ nhất thời không biết nên đáp thế nào, hồi lâu sau, nói: “… Chắc vì không còn bạn bè nào khác nhỉ…”

Thành Ngọc ‘Ồ’ một tiếng, lại hỏi: “Thần Na Lan Đa rốt cuộc đã mơ thấy cái gì?”

Cây bách cổ được hỏi tất đáp: “Mơ thấy gì thì không biết, chúa tể tộc Người không có ghi.”

“Hoa Chủ không biết vũ hóa nghĩa là gì, bởi vậy không biết mấu chốt của chuyện này thực ra không phải là ở chỗ thần Na Lan Đa đã nằm mơ thấy cái gì.”

“Cần biết thiên thần nếu như vũ hóa, tức là thần hồn đều diệt, vùi thân tro bụi, không có khả năng phục sinh nữa. Nhưng trước khi thần Na Lan Đa vũ hóa vì tộc Người đã mơ một giấc mộng tiên tri, nói tương lai bà sẽ lấy Thủy thần, chuyện này thực chất chính là nói thần Na Lan Đa cho dù vũ hóa rồi cũng có thể phục sinh. Bởi vậy A Bố Thác xây nên ngôi mộ cổ này không phải chỉ vì cầu xin một tia sáng bất diệt cuối cùng của thần Na Lan Đa, mà là muốn thần Na Lan Đa phục sinh trong ngôi mộ cổ này.”

Thành Ngọc trầm mặc một lúc, tổng kết thêm một lần nữa: “Cổ mộ Nam Nhiễm đến nay vẫn còn sừng sững đứng đó làm khó những ai có ý xông vào, có thể thấy Na Lan Đa vẫn chưa phục sinh.”

Nàng đột nhiên nhớ ra: “Có điều, cái vị Thủy thần đại nhân mà Na Lan Đa thừa nhận đó đã giáng thế chưa nhỉ?”

Cây bách cổ im lặng một lúc lâu: “Có thể thấy Hoa Chủ không hề hiểu được chút xíu nào về lịch sử quá khứ của cả tộc hoa cỏ ta,” Hắn ý vị sâu xa nói, “Lẽ nào Hoa Chủ không biết, Hoa Chủ đời đầu tiên của tộc ta chính là Thủy thần đại nhân đó à?”

Thành Ngọc uống xong bình rượu, nghe xong câu chuyện mà cây bách cổ kể nàng nghe trước khi ngủ, trèo xuống tường đông, rồi đeo lại Hi Thanh vào.

Nàng chuẩn bị ngủ rồi.

Bình thường cho dù chỉ tháo Hi Thanh xuống nửa canh giờ, nàng cũng phải lăn lộn ở trên giường ít nhất nửa canh giờ thì mới vào giấc được, hơn nữa còn ngủ rất chập chờn. Lần này bị truyền thuyết mà cây bách cổ kể thao thao bất tuyệt hấp dẫn, do đó nàng đã tháo Hi Thanh xuống chẵn một canh giờ.

Nàng có dự cảm đêm nay không thể ngủ ngon được, chỉ có thể nằm trên giường nhắm mắt dưỡng thần thôi, nhưng không ngờ rằng nàng rất nhanh đã chìm vào giấc ngủ. Trước khi ngủ, nàng lại nhớ đến câu nói đó của Na Lan Đa.

“‘Nếu ngươi muốn xây mộ cho ta, vậy thì hãy khiến tất cả những ai có thể đi vào trong mộ đều sùng phụng Thủy thần, nếu thế thì kể cả khi vũ hóa, một tia sáng bất diệt cuối cùng của ta cũng sẽ giáng lâm ngôi mộ ấy.”

Nàng cảm thấy câu nói này hết sức thú vị, giống như hơi bị thâm tình, nhưng rõ ràng là Na Lan Đa còn chưa gặp được Thủy thần, vậy mà có thể nói một câu vừa trịnh trọng vừa thâm tình như thế. Nghe qua thật khiến người ta cảm thấy có chút nuối tiếc, có lẽ còn có chút xót xa nữa. Nàng nghĩ không biết lúc ấy Na Lan Đa rốt cuộc đã mơ thấy cái gì, nghĩ tới nghĩ lui, nàng liền ngủ mất.

Sau đó, chính nàng cũng mơ một giấc mơ.

Thành Ngọc biết mình đang nằm mơ, nhưng trong giấc mơ đó, nàng lại chưa muốn tỉnh.

Trong lúc mơ hồ, nàng đi trên một hành lang dài tối đen như mực. Nàng không nhìn thấy gì hết, nhưng biết làm sao mới có thể đi được đến cuối đầu hành lang. Dường như nàng đã đi rất lâu, cuối cùng nhìn thấy một chút ánh sáng trắng, lúc hồi thần, nàng phát hiện bản thân đang đi chân trần đứng trên một vùng hoang mạc.

Đá vụn cộm dưới chân khiến lòng bàn chân nàng thấy đau, cảm giác đó vô cùng chân thật.

Vầng trăng cực lớn treo trên lưng trời, trời lại cực gần, vầng sáng bạc bao trùm cả một hoang mạc. Có hồ dương điểm xuyết, mặc dù trời đã vào đêm, nhưng rừng cây sắc vàng dường như vẫn mang theo ánh mặt trời cháy rực. Gió từ trong rừng thổi tới, dán lên khuôn mặt nàng, phất qua làn váy, nhưng ấy là một cơn gió vừa ấm áp mà lại nhu hòa.

Là hoang mạc cuối thu, tuy rằng nàng từ xưa đến nay chưa từng đến hoang mạc, nhưng biết rằng gió đêm trên hoang mạc cuối thu tuyệt đối không thể dịu dàng thế này. Các thi nhân ngoài biên cảnh vẫn thường có nhiều câu mô tả nơi biên thùy hoang vu tiêu điều ấy, những câu ấy từ xưa đến nay đều lạnh lùng sắc bén như đao. Hoang mạc trong tưởng tượng của nàng, tất cả đều phải hung mãnh như một con thú cô độc rời khỏi bầy đàn, nhưng mặt trăng lúc này, rừng hồ dương ánh sắc hoàng kim này, làn gió dịu êm nhẹ nhàng đuổi theo mùi thơm hoa cỏ giữa khu rừng này, lại càng dịu dàng dễ khiến người ta say lòng hơn cả ngày xuân ở thành Bình An.

Tất cả sự êm ái này quẩn quanh bên làn váy khẽ nhấc lên của nàng, quấn quanh một đôi chân trần hơi ngứa ngáy của nàng.

Trăng cũng dịu dàng, gió cũng nhu hòa, giống như cả một hoang mạc đã bị ai đó thuần phục.

Nàng nhịn không được nhắm mắt lại. Lúc nàng nhắm mắt, nàng nghe thấy giọng nói của chính mình, giống như đang nén giọng lẩm bẩm với ai đó: “Vậy chàng bù đắp lại cho em thế nào?” Giọng nói đó cực nhẹ, cực mềm, mang theo oán trách nửa thật nửa giả.

Nàng không nhớ bản thân đã từng nói những câu này, nàng cũng tin chắc nàng chưa bao giờ nói, nhưng đây đích thực là giọng nói của nàng.

Nàng bỗng nhiên trừng mắt, trước mắt lại xuất hiện một ngôi nhà gỗ tinh xảo.

Một giọng nam thì thầm trong nhà gỗ truyền ra, đáp lại câu oán giận đó: “Tặng nàng một câu thơ, được chứ?” Chàng nói. Giọng nói đó hơi khàn, hơi lạnh, là âm sắc rất dễ nghe, nhưng nàng thấy không quen thuộc.

“Thơ gì?” Giọng nói của chính nàng cũng truyền ra từ bên trong nhà gỗ.

Chàng trai cười khẽ một tiếng: “Minh nguyệt sơ chiếu hồng ngọc ảnh, Liên tâm ám tàng tụ để hương [2].”

“Chàng đừng gạt em.” Vẫn là âm thanh của nàng, vẫn là giọng điệu cực nhẹ, cực mềm, giống như mèo cào, khiến lòng người nhộn nhạo, vang lên lên trong nhà gỗ đó.

Nàng nhịn không được đẩy cửa ra.

Cửa gỗ chầm chậm mở ra, cuối cùng nàng cũng thấy rõ tình cảnh trong phòng. Một chén đèn mờ, một cái giường lớn, tầng tầng sa trắng miễng cưỡng được móc trên cái móc bạc đầu giường. Bởi vì nàng đẩy cửa phòng ra nên có gió thổi vào làm cho ánh đèn mờ ảo kia tức thì lay động, màn trướng bằng sa trắng cũng theo gió nhẹ và ánh đèn khẽ tung bay.

Trong căn phòng âm u, bóng đêm sinh ra kiều diễm.

Nhưng hai người nằm trên chiếc giường tơ lụa trắng muốt kia lại giống như không hề chú ý đến cửa phòng đột nhiên bị đẩy ra, nàng vẫn đứng ngay trước cửa. Đương nhiên hai người cũng không chú ý đến làn gió đêm cuối thu, mang theo ấm áp kỳ dị đột ngột thổi vào phòng,

Thành Ngọc tựa người vào cửa, mê man nhìn cô gái đang nằm bên dưới, ánh mắt men theo làn váy đỏ tiên diễm bao trùm lấy cơ thể mảnh khảnh của nàng đi thẳng lên trên, dừng lại trên chiếc cần cổ trắng nõn của nàng.

Tiếp tục nhìn lên, sẽ thấy một gương mặt trắng như tuyết. Mỗi sáng sớm khi nàng trang điểm đều có thể thoáng thấy khuôn mặt này ở trong gương. Chính là mặt của nàng, vốn nên vô cùng quen thuộc, nhưng lại không hề quen thuộc đến thế.

Bởi vì nàng chưa từng thấy qua bản thân mình thế này.

Ánh đèn mờ ảo không soi rõ, ánh trăng thế mà lại sáng ngời.

Trong ánh trăng sáng tỏ, đôi mắt to như quả hạnh long lanh hơi nước, đuôi mắt phiếm hồng. Màu hồng nhạt đó có hơi xếch lên, kéo dài thẳng đến đuôi mày, giống như được quét son. Đôi mắt ướt át làm nền cho màu đỏ mỏng như quét son đó, khi nhìn đến ai thì ánh mắt đó liền biến thành một cái móc câu.

Tim nàng nảy mạnh lên một cái.

Chỉ thấy nàng đang nằm trên đống tơ lụa trắng khẽ cắn môi dưới. Rõ ràng chỉ cắn mỗi môi dưới, nhưng sau khi được hàm răng thả ra, cánh môi dưới đã biến thành màu đỏ tươi như hoa lựu. Nàng từng thấy hoa lựu rồi, khi chúng rơi xuống đất, bị nước mưa thấm ướt, sẽ có một loại vẻ đẹp vừa thuần khiết vừa phóng túng như vậy.

Tim nàng lại nảy mạnh lên một cái nữa.

Nàng thấy nàng đang nói, còn giơ tay phải lên, không dùng nhiều sức đẩy thanh niên đang nằm trên người nàng một cái, khóe môi hơi mím lại, thoáng một chút ngây thơ: “Đừng gạt em.” Lại giống như đang tức giận, nhưng cho dù là tức giận thì cũng giống như giả vờ.

“Chàng đừng gạt em.”  

“Đừng gạt em.”

Mỗi một chữ, mỗi một hơi thở đều như mang theo một cái móc câu quấy nhiễu người khác.

Gương mặt của Thành Ngọc sung huyết đến đỏ bừng, nếu không dựa vào cửa chắc chắn đứng không vững. Nhưng nàng đang nằm trên chiếc giường kia gần như hết sức tự nhiên mà làm ra tư thế như vậy.

Nàng nghe thấy thanh niên nằm trên người nàng nhỏ giọng đáp: “Sao thế được”. Tiếp đó, nàng nhìn thấy ngón tay trắng nõn của thanh niên vuốt ve vành tai của nàng nằm ở trên giường, một cái khuyên tai minh châu bỗng nhiên xuất hiện trên vành tai xinh xắn, thanh niên nén giọng nói: “Minh nguyệt.” Ngón tay đó hơi dừng lại trên vành tai nàng, chậm rãi trượt xuống, ngay lúc này, Thành Ngọc chỉ cảm thấy trời long đất lở, khi lần thứ hai định thần lại thì liền phát hiện chính nàng đã nằm bên dưới người của thanh niên, mà nàng dường như hợp lại làm một với nàng ở trên giường, nhưng tầm mắt của nàng lại hơi mờ mịt.

Cuối cùng nàng cũng có thể cảm nhận được nhiệt độ của ngón tay kia, nóng rực, thiêu đốt nàng đến mức run run, nhưng nhất thời cũng không biết rốt cuộc là nhiệt độ ngón tay của thanh niên hay là nhiệt độ của chính nàng. Ngón tay đó di chuyển đến cần cổ nàng, cùng với lời thì thầm của thanh niên: “Hồng ngọc ảnh.” Trên cần cổ bị thanh niên vuốt ve đến mức nóng hổi chợt có cảm giác lành lạnh, đó là xúc cảm với vòng cổ.

Minh nguyệt, hồng ngọc ảnh. Minh nguyệt sơ chiếu hồng ngọc ảnh.

Sau đó đầu ngón tay thanh niên trượt tới đầu ngón tay nàng, nhẹ nhàng miết trên ngón vô danh của nàng, giọng nói của thanh niên lại vang lên lần nữa: “Liên tâm.” Nàng nghiêng đầu, đó là một chiếc nhẫn.

Ngón tay của nàng và ngón tay của thanh niên đan vào nhau, đều là màu trắng muốt. Chăm chú nhìn kĩ, nàng lại cảm thấy dường như ngón tay của thanh niên trắng hơn mình một chút, giống như sứ trắng, lại giống như ngọc. Ngón tay nàng vốn cũng trắng nõn, chỉ là dưới cái vuốt ve dịu nhẹ của chàng, không tự giác mà đỏ ửng lên, hiện ra một lớp phấn mỏng.

Thanh niên lại miết qua ngón tay nàng, rồi mới giấu tay phải vào trong tay áo nàng, ngón tay vòng qua xương cổ tay, xoa một vòng, liền có xúc cảm của vòng tay, mắt nàng lóe linh quang, giành trước nói: “Tụ để hương.”

Liên tâm, tụ để hương. Liên tâm ám tàng tụ để hương.

Minh nguyệt sơ chiếu hồng ngọc ảnh, Liên tâm ám tàng tụ để hương.

Chàng nói tặng nàng một câu thơ. Nhưng hóa ra thơ không phải thơ, mà là một bộ trang sức.

Thanh niên buồn bực cười thành tiếng: “A Ngọc của chúng ta thật thông minh.” Ngón tay vẫn như cũ không hề dừng lại, từ trên chiếc áo đơn đỏ như lửa của nàng, thuận theo viền eo, chân, một mạch trượt đến mắt cá chân của nàng, cuối cùng là xoa lên mắt cá chân trần trụi của nàng. Chàng nắm lấy mắt cá chân của nàng, lòng bàn tay nóng hổi, hơi dùng sức.

Cả người nàng nóng rực lên gấp mười lần lúc nãy, gần như nức nở, nhưng nàng ra sức cắn môi, không để cho bản thân mình phát ra bất cứ âm thanh gì.

Nàng hơi cử động chân phải, nghe thấy tiếng lục lạc cực kỳ yếu ớt, chỗ mắt cá chân có cảm giác chạm vào dây mảnh. Đầu óc nàng mờ mịt, khàn giọng hỏi thanh niên: “Trong thơ chỉ có bốn món trang sức, vậy cái lắc chân này, có tên là gì?”

Ngón tay thanh niên cuối cùng cũng rời khỏi thân thể nàng, chàng gần như cúi đầu nhìn nàng, tay trái của chàng chống bên vai phải của nàng, nàng nghiêng đầu liền thấy được ống tay áo màu trắng của chàng. Nàng thậm chí còn có thể nhìn thấy trên ống tay áo kia có hoa văn thụy thảo lưu vân nhã chính được thêu bằng tơ bạc, nhưng khi tầm nhìn của nàng theo ống tay áo di chuyển từng tấc từng tấc lên trên, đi đến gương mặt chàng, nàng lại không thể thấy rõ gương mặt của thanh niên.

Nàng mở to mắt, cũng chỉ có thể phân biệt được cánh môi và cằm của chàng: làn da trắng nõn, giống như ngọc lạnh, đường viền cánh môi nhìn qua rất có cảm giác lạnh lùng nghiêm nghị. Dường như chàng bật cười, đường viền ấy liền hơi nhếch lên, bởi vậy cũng thấy không còn lạnh nữa.

Nàng chỉ có thể nhìn thấy một phần gương mặt thế này, nhưng cũng có thể tưởng tượng ra khi cả một gương mặt hoàn chỉnh xuất hiện, nhất định cực kỳ anh tuấn.

Sau đó nàng thấy chàng cúi người xuống, tiếp theo nàng cảm thấy chàng kề sát lên vành tai nàng, hơi thở nóng rực, giọng nói khàn khàn lướt qua bên tai, rót vào tai nàng.

“Đây là… bộ sinh liên.” Thanh niên nói.

Thành Ngọc đột nhiên tỉnh giấc.

.

Ngày tiếp theo là ngày mùng ba tháng tám.

Tinh Linh cảm thấy hôm nay Thành Ngọc thức dậy rất sớm. Từ sau khi Quận chúa và Thế tử làm ầm ĩ một trận không còn đến Nam thư phòng nữa, nàng chưa từng thức dậy vào giờ Mão [1] bao giờ. Nhưng hôm nay, sao Mai vẫn còn treo ở trời đông, núi Túy Đàm ở đằng xa cũng chỉ là một đường viền mông lung dưới nắng sớm, vậy mà Thành Ngọc đã ngồi ở trong viện bắt đầu uống trà.

Tinh Linh hỏi nàng: “Đêm qua Quận chúa ngủ không ngon sao?”

Thành Ngọc đang nghĩ chuyện gì đó, đôi mắt ánh lên cảm giác mơ màng, nhìn qua giống như trong đôi mắt ướt át kia vừa có một tầng sương dày sà xuống. Nghe Tinh Linh nói, nàng nhíu mày, hàm hồ nói: “Đêm qua nằm mơ…”

Tinh Linh hiếu kỳ: “Mơ thấy gì?”

Thành Ngọc càng thêm qua quít: “Một giấc mơ… không đẹp lắm.” Mím mím khóe môi, có hơi phiền não nói, “Thôi không nói việc này nữa, em ngồi một lát, lát sau chúng ta vào sảnh ăn chút cháo đi.”

Tinh Linh cũng không hỏi thêm gì.

Thành Ngọc lại ngồi trong viện thêm lát nữa.

Đêm qua nàng đột nhiên bừng tỉnh trong giấc mơ, ngồi rất lâu trên giường, tay run lẩy bẩy, tim cũng đập mạnh liên hồi.

Nàng ngồi từ canh ba cho đến khi rạng sáng, nhưng vẫn không bình phục được, cho rằng hứng gió có thể tốt lên một chút, mới trăn trở đi vào trong viện. Bị gió sớm thổi hết nửa canh giờ, tay không còn run, lòng cũng không còn hoảng loạn, nhưng mặt vẫn nóng hầm hầm.

Nàng cảm thấy không thoải mái, thế nên dẫn đến nhận định tất cả những gì trong giấc mộng kia không phải là một giấc mộng đẹp.

Mỗi một chi tiết trong mơ nàng đều nhớ rõ, chỉ cần hơi nhớ đến một chút thôi cũng khiến hô hấp của nàng rối loạn. Chu Cẩn và Lê Hưởng, chẳng có ai dạy nàng cái này. Chẳng có ai nói cho nàng biết thế gian còn có chuyện như vậy, mộng như vậy.

Nếu như là bạn thân Hoa Phi Vụ của nàng, thì sẽ giải thích được giấc mộng ấy cho nàng. Hoa Phi Vụ sẽ nói với Thành Ngọc, giấc mộng này, gọi là mộng xuân, các cô nương đến độ tuổi nào đó có thể mơ thấy giấc mơ thế này, thực ra cũng chẳng có gì.

Nhưng bởi vì Hoa Phi Vụ không có ở bên cạnh nàng, cho nên Thành Ngọc hoàn toàn không biết chuyện này thực ra cũng chẳng có gì.

Chẳng qua là, hứng gió cũng có chút công hiệu.

Trước khi mặt trời đốt nóng gió sớm, cuối cùng Thành Ngọc cũng hồi phục lại như thường. Nàng cần phải cho Tinh Linh uống một chén trà, lá trà còn phải dùng một cánh hoa dâm bụt nàng vẫn luôn cất giấu bên người.

Đối với một ảnh vệ kiến thức rộng rãi như Tinh Linh mà nói, thuốc mê đẳng cấp nhất thế gian cũng chưa chắc đánh mê được cô ấy. Vấn đề là cánh hoa mà Thành Ngọc cất giữ là cánh hoa rút ra từ nguyên thân của Chu Cẩn, tuy có tác dụng gây mê, nhưng hiển nhiên không phải là thuốc mê. Tuy là nói một ảnh vệ như Tinh Linh tuyệt đối không có khả năng té hai lần xuống cùng một cái hố, nhưng bởi vì những việc Thành Ngọc đã làm hoàn toàn thuộc về phạm trù quái lực loạn thần, thế nên Tinh Linh không chút đề phòng ngã vào cái hố đó thêm lần nữa, sau một chén trà, chìm vào giấc ngủ sâu.

Thành Ngọc nhìn sắc trời, đem hết những thứ mấy ngày trước vừa mua dồn hết vào một cái túi bách bảo dày cộm, xoay người bước lên con ngựa Ngạch Gian Tuyết của Tinh Linh. Con ngựa này của Tinh Linh phóng cực nhanh, vấn đề duy nhất chính là, có hơi mạnh mẽ. Nhưng Thành Ngọc cưỡi ngựa thuần ngựa đều rất mát tay, thế nên khi ứng phó cũng không mất quá nhiều tâm sức. Thứ khiến nàng thật sự nghiêm túc hao phí rất nhiều tâm tư vẫn luôn là bốn ám vệ được phái tới bảo hộ phía sau nàng.

Khi vừa mới rời khỏi Hạm Thành, Tinh Linh liền đề cập chuyện Quý Minh Phong xếp đặt vài người ở bên cạnh nàng, nàng cũng đã lưu ý.

Nàng không biết võ, nếu đánh thì khẳng định là đánh không lại những ám vệ này, chẳng qua núi Túy Đàm rừng sâu cây lớn, là nơi thích hợp để bày trận. Động võ, nàng không biết, nhưng động văn và những thứ huyền bí, vậy thì dễ xử lý hơn nhiều. Khi nàng còn nhỏ, mỗi lần nhìn trời đều cảm thấy bản thân mình là một tiên nữ, bởi vì nàng học cái gì cũng rất nhanh. Trong vòng mười ngày tinh thông một trận pháp U Huyền đối với nàng mà nói thì không có vấn đề gì lớn. Thế nên hôm nay, quả nhiên nàng đã đem bốn ám vệ vây hết ở chân núi Túy Đàm.

Tựa hồ tất cả đều phát sinh theo đúng kế hoạch của nàng, nhưng nàng hiểu rõ nàng chỉ có một lần cơ hội dò thám ngôi mộ này, nếu nàng thất bại, sẽ không còn có lần thứ hai. Quý Minh Phong sẽ không cho nàng cơ hội lần hai. Lần này nàng thuận lợi như vậy, có một nửa là do nàng chuẩn bị thỏa đáng, nửa còn lại, thực ra là dựa vào sự thiếu cảnh giác của Quý Minh Phong đối với nàng.

Thành bại chỉ ở hôm nay, lúc này, một lần.

Giờ Thân ba khắc [1]. Đã là giờ Thân, trước mặt chính là cổ mộ Nam Nhiễm. Cổ thụ chọc trời, tiếp nối nhau san sát, tán cây cực lớn trùng điệp đan xen, giống như một tấm thảm xanh phập phồng che đi nửa ngọn núi, khiến tia sáng mặt trời chỉ có thể rót vào tản mác, chẳng trách phương viên trăm dặm xung quanh mộ địa đều bị bao trùm trong cảm giác âm u.

Thế nhưng cổ mộ được xây dựa vào núi lại không bị che khuất giống như trong tưởng tượng của Thành Ngọc, trước cửa mộ có hai con thú trấn mộ hung thần ác sát đang đứng, hiển hiện rõ ràng, dường như vốn dĩ không sợ thế nhân biết nơi này chính là nơi chôn cất tổ tiên của tộc Nam Nhiễm.

Khi Thành Ngọc hướng về phần lõm trước cửa mộ, tưới xuống đó chìa khóa của Thủy thần, cây bách cổ giữ mộ nhận ra nàng đến, giờ này đất này, thiên ngôn vạn ngữ đều chỉ hóa thành một lời căn dặn thâm sâu: “Từ hai trăm năm trước, sau khi một thợ thủ công cực kỳ nổi danh của tộc Nam Nhiễm vào trong tu chỉnh cổ mộ, Nam Nhiễm liền xảy ra cung biến, bí mật có liên quan đến cơ quan trong cổ mộ cũng đã thất lạc trong trận cung biến đó. Hai trăm năm nay, cũng có vài người phàm mở cửa cổ mộ, nhưng không ai có thể thật sự vào đến mộ thất sau cùng. Bí mật có liên quan đến ngôi cổ mộ này mà chúng tôi nói cho cô biết đều là bí mật của hai trăm năm trước đó, chưa phải hoàn chỉnh, Hoa Chủ cô… nhất định phải cẩn thận, tùy cơ hành sự, sống sót trở ra!”

“Sống sót trở ra”, bốn chữ này lướt qua tai Thành Ngọc, tay phải nàng hơi run rẩy, một giọt nước cuối cùng trong chiếc bình sứ men xanh đã rót xuống phần lõm bằng đá, cửa mộ bỗng chốc mở rộng ra.

Vẻ mặt nàng bình tĩnh, thu hồi bình sứ lại, đặt nó lại vào cái túi bách bảo ở trên vai.

Bước qua cánh cửa này, không phải sống thì là chết, nàng hiểu rất rõ, nhưng một bước chân nàng cũng chưa từng do dự, chưa từng dừng lại, nàng cũng chưa từng ngoái đầu. Chỗ cửa mộ chỉ có một điểm sáng xuyên qua, giống như một cái miệng lớn đầy máu, muốn nhai nát rồi nuốt chửng tất cả những ai xông vào trong mộ.

Phải thế nào mới có thể sống sót ra khỏi nơi cổ mộ này?

Đuốc không thể dùng được, bởi vì nhiệt lượng sẽ tỏa hơi bám lên độc tố trên vách mộ, phải dùng dạ minh châu.

Phải đi đứng nhẹ nhàng, không được đánh thức độc trùng đang ngủ say ở chỗ sâu nhất trong đáy mộ.

Phải lưu ý mỗi một chỗ nhỏ nhất ở bên người, bởi vì ai cũng không biết hai trăm năm trước, người thợ thủ công kia sau khi tiến vào trong mộ đã mở thêm cơ quan mới nào trong ngôi mộ này.

Sau đó men theo đường mộ chính đi tiếp về phía trước.

Đi đến một phần ba, sẽ gặp được một cái ao, trong ao chính là nước hóa cốt, bên trên có một cây cầu treo bằng gỗ, đi qua cầu treo phải hết sức cẩn thận.

Sau khi đi qua cầu treo, có thể thấy hai bên đường mộ là đá lớn mọc lên san sát, trên đá có phù điêu với hoa văn nhiều màu. Không được chạm vào, cũng không thể lấy lửa đến gần đó để thăm dò, bởi vì mỗi một loại màu sắc trên đá đều là một loại kịch độc, cực kỳ dễ phát tác, xâm nhập thông qua da thịt. Nếu như trăm loại độc nhập thể, tức không thuốc nào cứu nổi. Mà trong một đoạn đường mộ này, cho dù có dùng minh châu làm nguồn sáng, cũng không thể đến gần để nhìn phù điêu trên đá, bởi vì các bức vẽ đó tuy là rất đẹp, nhưng sẽ mê hồn, hút lấy hồn phách, câu lấy tâm thần.

Nếu có thể an toàn đi qua đoạn hành lang dài bằng cự thạch bốn bề đều là nguy hiểm này, sẽ bắt gặp năm cái cửa động được xếp thành hình chữ nhất (一). Phải chọn cửa động ở chính giữa. Nếu như chọn bốn cái cửa động còn lại thì sẽ gặp phải chuyện gì, việc này Thành Ngọc không quá rõ, đám hoa cỏ không nói cho nàng biết. Trong trí nhớ của đám hoa cỏ, phàm là người sống sót ra khỏi cổ mộ này đều là người chọn cửa động ở giữa, không có ngoại lệ.

Sau khi vào trong động hẳn phải có một cái sân.

Thành Ngọc cẩn thận quan sát bức tường cao trước mặt. Chiếu theo cách nói của các hoa cỏ, lúc này trước mặt nàng vốn nên là một cái sân. Mà cái sân bằng đá lớn kia trong lời nói của đám hoa cỏ hẳn nên là nơi hung hiểm nhất trong cả ngôi cổ mộ này: Cả một cái sân là một cái ao hóa cốt, bảy mươi hai cái tượng đồng được làm thành hình lật đật, đối diện ao hóa cốt, nếu lay động đúng tượng đồng, thì sẽ có một con đường từ dưới đáy ao nổi lên giúp người ta đi xuyên qua cái sân này, mà nếu lay động tượng đồng sai, thứ nổi lên chính là nước trong ao có thể khiến xương cốt tan biến.

Nên lay động những con lật đật nào, giống như là một loại mật mã không ngừng biến đổi, mỗi một ngày đều không giống nhau. Có điều cái này Thành Ngọc đã nhớ, nàng còn chuẩn bị một cái ná và đạn vàng dùng để bắn tượng đồng. Vốn dĩ nàng cảm thấy cái cửa này hẳn không khó qua như vậy, nhưng lúc này trước mặt nàng lại là một bức tường cao, ngăn cách nàng và cửa ải hung ác cuối cùng thủ hộ mộ thất.

Nếu không qua được bức tường cao này, xem như hôm nay nàng chỉ đi đến đây, đại để đã tiến xa hơn tất cả những người đi vào mộ trong vòng hai trăm năm nay rồi, nhưng chẳng qua như vậy cũng chỉ là phí công.

Nàng đương nhiên không thể phí công.

Này có lẽ chính là cơ quan mà thợ thủ công kia mới thêm vào hai trăm năm trước, không ngờ lại là một công trình lớn.

Thành Ngọc giơ cao viên minh châu trên tay, mím môi nhìn kỹ bức tường cao trước mặt.

Đây là một bức tường đá, trên vách tường không có nửa phần dấu vết tiếp hợp, giống như vốn dĩ đã là một khối đá lớn vuông vức chỉnh tề đứng trước sân, sau cửa động. Nhưng trên đời này ở đâu lại có thứ đá lớn đến thế. Trên mặt tường từ trái qua phải phân thành ba khu vực, lấy mười tám ô vuông vắt ngang làm chuẩn, từ đó vẽ xuống bên dưới rất nhiều ô vuông khác, chi chít rậm rạp, không biết dùng để làm gì. Ngoài ra không có bất cứ thứ gì đặc biệt.

Tộc Nam Nhiễm quen thích dùng độc, nàng không dám dùng tay không thăm dò vách đá này, bèn lấy ra một thanh chủy thủ gõ mấy cái ở góc bên, thấy vang lên vài âm thanh rỗng. Tường đá này không ngờ lại không đặc ruột. Mà không biết có phải là ảo giác hay không, sau khi nàng gõ loạn mấy cái, tường đá dường như hơi nghiêng một mặt về phía nàng một chút. Thành Ngọc kinh ngạc, dừng tay. Bất giác lùi lại một bước, thế nhưng tường đá lúc này đã đè xuống một đoạn lớn có thể thấy được bằng mắt thường, như thể nói cho nàng biết, nàng đã đi sai đường rồi, di động sai một bước rồi.

Khi cúi đầu, nàng phát hiện chân mình cũng đang giẫm lên một ô vuông.

Ô vuông.

Trong đầu Thành Ngọc đột nhiên lóe sáng, nếu nhắc đến ô vuông, thực chất nàng vẫn luôn đi trên các ô vuông.

Mộ này rất lớn, đường mộ chính cũng cực kỳ rộng rãi, nàng vừa bước lên đường mộ liền chú ý đến trên đường mộ có vẽ ngang mười tám ô vuông, đường mộ kéo dài vào phía trong, những ô vuông này cứ mười tám ô mười tám ô tiếp tục kéo dài, giống như một bàn cờ nối tiếp với một bàn cờ, tiếp tục kéo dài đến trước bức tường cao này.

Lúc đầu nàng chỉ cho rằng những cái này là đồ trang trí trong mộ, nhưng cũng đã lưu tâm. Lúc này trở lại nhìn ba cái bàn cờ ô vuông trên vách đá: bàn cờ thứ ba ngắn nhất, bàn cờ thứ hai dài nhất, bàn cờ thứ nhất bằng một phần hai bàn cờ thứ hai… Đoạn đầu tiên ắt là chỉ từ cửa mộ đến ao Hóa Cốt, đấy là một phần ba của đường mộ; đoạn thứ hai ắt là từ ao Hóa Cốt đến cửa động, này là hai phần ba đường mộ; cái thứ ba ắt là chỉ từ cửa động đến trước bức tường cao này, nàng nhớ bản thân tổng cộng đã đi được một trăm hai mươi mốt bước.

Nàng nhìn không chớp mắt bàn cờ ô vuông thứ ba trên tường, một ô vuông, một ô vuông, tiếp tục đếm, ô ngang mười tám, ô dọc, một trăm hai mươi mốt.

Nàng đứng nguyên ở chỗ cũ một lúc lâu, tay hơi run rẩy. Cây bách cổ từng nói người tạo ra cơ quan này là một thợ thủ công khá nổi tiếng, người thợ thủ công đó nhất định là một thiên tài trong số các thợ thủ công. Có đủ tư cách cống hiến tài trí trong ngôi mộ này, hẳn đều phải là thiên tài. Hình thức mà các thiên tài thích chơi không nhất định phải phức tạp cao thâm, nhưng nhất định tràn đầy linh hoạt.

Trên trán Thành Ngọc đổ ra một tầng mồ hôi mỏng, nàng rút từ trong hành lý ra một sợi dây thừng thô ráp để phòng ngừa vạn nhất, quấn thành vòng, ném lên trên đỉnh mộ móc vào một đóa hoa sen được chạm khắc bên trên. Nàng túm lấy sợi dây thừng, rất vững. Tiếp đó thuận theo sợi dây thừng bám lên trên, rút chủy thủ ra, mắt thấy trên tường đá trước mặt là cách xếp ô của bàn cờ ô vuông thứ nhất.

Lâu thật lâu, nàng nín thở, nhấc đuôi chủy thủ lên gõ nhẹ vào ô vuông thứ mười hai từ phải qua trái trên bàn cờ thứ nhất. Đó chính là ô vuông đầu tiên khi nàng đã đạp lên khi bước vào trong động. Một tiếng ‘thùng’ vang lên, cả người nàng đều run rẩy, trên tường đá cũng phát ra một tiếng ‘thùng’, giống như hồi ứng lại tiếng gõ của chủy thủ. Nhưng vách tường lại không hề đột nhiên lệch xuống giống như mới vừa rồi nàng đi sai một bước trên mặt đất. Tường đá không chút động đậy.

Nàng liền trấn định hơn một chút. Cầm chủy thủ, giống như cầm một cái dùi trống, gõ một mạch từ trên xuống trên bàn cờ hình thù kỳ lạ kia. Thùng, thùng, thùng, thùng, mỗi một lần gõ đều là gõ vào các ô vuông mà nàng đã giẫm lên từ lúc đi vào trong mộ, là đường đã đi qua.

Nàng có trí nhớ tuyệt vời, đoạn đầu tiên, khi đến bước thứ hai trăm mười hai, bước này nàng giẫm qua hai ô vuông. Đoạn thứ hai, khi đến bước ô thứ một trăm mười ba, nàng đã giẫm lên một sợi dây thật nằm giữa ô thứ mười ba và mười bốn, những chuyện này nàng đều nhớ được. Bởi vì cây bách cổ đã dặn dò nàng nhất định phải cẩn trọng, bởi vậy cho dù là những thứ vô dụng, nàng vẫn luôn lưu ý. Mà chuyện nàng đã lưu ý, nàng rất ít khi quên.

Lúc gõ xong một ô vuông cuối cùng, một tiếng ầm ầm từ dưới đất truyền lên, như tiếng gầm của một con thú bị vây khốn, cả một bức tường đá bỗng nhiên lọt vào đáy mộ, còn chưa kịp phản ứng, nàng đã ngã xuống mặt đất. Cánh tay phải bị ngã phát đau, hơi thở như ngừng lại từ lúc trèo lên vách đá cuối cùng cũng có thể thở phào. Nàng há miệng thở dốc.

Đoán đúng rồi. Bức tường cao này không ngờ lại có liên quan đến cả một đường mộ chính, mà phương pháp di động bức tường lại là toàn bộ con đường mà người xông vào mộ đã đi để đến được nơi này. Cái này đích thực là một thứ khéo léo tuyệt diệu khó nói nên lời.

Thành Ngọc lúc này mới cảm thấy sợ hãi. Nếu đoán không sai, may mà hôm nay chỉ có một mình nàng xông vào mộ mới có cơ may sống sót.

Nghiền ngẫm lại tất cả kinh nghiệm vừa rồi, đường mộ chính ắt hẳn chỉ có thể một lần ghi lại bước chân của một người, rồi truyền đến tường đá, sau đó còn cần người xông vào động phải nhớ chính xác không sai một bước tất cả những ô vuông mà mình đã giẫm qua, chép lại trên bức tường này, mới có thể qua cửa.

Nếu có thêm một người nữa đi theo nàng vào đây, sợ là cơ quan trên tường đá sớm đã bị kích động, chỉ đợi hai người đạp lên một ô vuông cuối cùng đến trước vách đá này, vách đá sẽ lập tức đè xuống ép hai người thành thịt vụn. Cho dù nàng một mình đến đây, nếu giải không ra bí ẩn trên tường, muốn trở về theo đường cũ, đạp lại trên các ô vuông trên đường về, tường đá này cũng nhất định đổ sập xuống để nghiền nát nàng. Một khắc trước nàng vô ý giẫm vào một ô vuông cuối cùng trên mặt đất, bức tường đá này đột nhiên nghiêng lệch, chính là đang cảnh báo nàng.  

Cái này đích thực lại là một lần không sống thì chết. May mà vận thế hôm nay đứng về phía nàng, nàng đã giải được câu đố đó.

Nhưng không ai biết được vào hai trăm năm trước, người thợ thủ công kia còn để lại thêm cơ quan nào khác trong ngôi mộ này không. Nàng đã hoàn toàn hiểu được bản lĩnh của người thợ thủ công này, thế nên hoàn toàn không dám lơi lỏng. Cho dù qua được cửa này nhưng tinh thần vẫn bị kéo căng như cũ.

Nhắm mắt nghỉ ngơi một lúc thật lâu mới dám mở mắt ra tỉ mỉ phân biệt cửa ải tiếp theo đang đợi lại là thứ gì.

Dưới ánh sáng nhàn nhạt của dạ minh châu, trong màn sương trắng lượn lờ, có thể thấy được một cái sân tối mờ, một cái ao hóa cốt với khói trắng lượn lờ, cùng với bảy mươi hai cái tượng đồng tạo thành hình thù kỳ dị ở cuối hung trì. Bên cạnh ao hóa cốt có một tấm bia đá, trên đó có ba chữ được viết bằng một nét bút liên tục, “Biển Ngọc Hư”.

Thành Ngọc thở phào.

Đây chính là cơ quan hung hiểm cuối cùng bảo vệ mộ thất mà đám hoa cỏ đã nói, là trạm gác mà nàng hiểu rõ.

Nàng trấn định rút ra một cái ná và đạn vàng từ trong túi hành lý, nhắm ngay bức tượng cưỡi ngựa bắn mặt trời mang gương mặt tươi cười mà bắn.

Mùng ba trăng mày ngài, rọi chiếu biển Ngọc Hư, cưỡi ngựa bắn mặt trời, đường vàng trải trước mặt.

Đạn vàng bắn ra.

Thành Ngọc vào mộ vào giờ Thân ba khắc [1], đến giờ Dậu sơ khắc thì thành công tiến vào phòng mộ chính của cổ mộ Nam Nhiễm.

Bởi vì truyền thuyết nói tập sách mà cổ mộ Nam Nhiễm cất giấu là toàn bộ trí tuệ nghìn năm của bộ tộc Nam Nhiễm, thế nên khi Thành Ngọc đứng ở bên ngoài phòng mộ đã nghĩ trong phòng mộ nếu như không phải cảnh tượng toàn sách là sách, mà nếu như trong đó có một cỗ quan tài, thì phỏng chừng cổ quan tài đó cũng toàn sách là sách.

Nhưng bước vào phòng mộ rồi mới biết, quan tài thì đích thực có một cỗ quan tài, nhưng trong quan tài không hề chứa sách, mà là một cái xác ướp.

Quan tài đá không có nắp.

Trong giây phút Thành Ngọc nhìn thấy xác ướp đó, nàng nhớ ra, đây là cổ mộ.

Một ngôi mộ cổ, nguyên bản không phải dùng để chứa sách, mà là dùng để chứa thi thể.

Thực ra nàng có chút sợ hãi hài cốt thi thể các thứ, nhưng bởi vì tất cả những gì nàng kinh lịch đêm nay đều quá mức hung hiểm, thế cho nên cả người lúc này đều vô cùng tê dại, nhìn thấy xác ướp nằm trong quan tài đá cũng không nảy sinh bất cứ cảm giác sợ hãi nào, còn không hề sợ hãi cúi người nghiêm túc quan sát một phen.

Dưới ánh sáng của minh châu, có thể thấy xác ướp kia đang mặc khôi giáp hoàng kim, đầu được giấu trong mặt nạ hoàng kim. Vô số năm chìm trong bóng tối, sắc vàng chói lọi tuy đã ảm đạm đi, nhưng vẫn khó che đi vẻ mỹ lệ và quý giá. Nàng đưa minh châu đến gần thêm một chút liền thấy rõ hình dạng của mặt nạ hoàng kim kia. Nàng nhìn chằm chằm chiếc mặt nạ đó rất lâu, từ cái mũi cao thẳng và cánh môi cực mỏng đều mang đến cho nàng một cảm giác quen thuộc đến bất ngờ: Chiếc mặt nạ hoàng kim trên gương mặt đang nhắm mắt ngủ say này không ngờ lại có bảy tám phần giống với vị Quý thế tử trong vương phủ Lệ Xuyên.

Trong lúc giật mình, nàng chú ý đến tư thế mà xác ướp kia đang nằm trong quan tài. Một vị bề ngoài toàn thân khôi giáp uy dũng như võ sĩ thế này, mà tư thế đang nằm trong quan tài lại cực kỳ trang nghiêm sâu lắng: Hai tay đặt lên trước ngực, bộ ngón tay hoàng kim che lấp xương ngón tay vốn đã lạnh đi. Võ sĩ vốn nên cầm đao nắm kiếm, cho dù chỉ là vật đặt trong quan tài chôn theo người chết, đối với một vị võ sĩ mà nói, cũng nên sắp xếp một thanh kiếm ngọc bên bàn tay y để làm đồ lễ. Nhưng hai bàn tay khép lại của vị hoàng kim võ sĩ này lại dịu dàng nâng một đóa hồng liên màu sắc dị thường.

Thành Ngọc ghé sát vào xem, đóa sen kia được điêu khắc bằng hồng ngọc, sinh ra màu sắc ám mờ dưới ánh sáng nhàn nhạt của dạ minh châu, vầng sáng lưu chuyển. Hồng liên sống động như thật, nếu không nhìn kỹ sẽ cho rằng nó vừa mới được ai đó hái ra từ ao sen được bao trùm trong sương sớm, tiếp nhận tia sáng đầu tiên của buổi sớm mai, mang theo dịu dàng và trân trọng, được một võ sĩ anh tuấn nâng trong lòng bàn tay.

Đây võ sĩ hoàng kim tướng mạo rất giống với Quý Minh Phong, đây hồng liên trong tay võ sĩ, đây cổ quan tài đã có mấy trăm năm chưa từng có người tiếp cận, đây cổ mộ này.

.

Thành Ngọc lục lọi trong phòng mộ một lúc, nhưng không hề tìm được ghi chép có liên quan đến người được đưa vào quan tài.

Nàng quả thực có nhớ tới truyền thuyết mà cây bách cổ kia từng đề cập. Trong truyền thuyết dị tộc thần bí, nói rằng khi mới có phàm thế, quân vương sớm nhất của phàm nhân trên thế gian này tên là A Bố Thác, được gọi là chúa tể tộc Người A Bố Thác, mà cổ mộ Nam Nhiễm chính là nơi chôn cất A Bố Thác.

Nhưng nếu như luận về lúc mới có phàm thế, nói thế nào cũng là năm tháng quá mức xa xôi, di cốt lúc ấy làm sao có thể bảo tồn đến tận bây giờ? Thế nên ý niệm này chỉ lóe lên trong đầu nàng rồi liền giống như một đám mây lướt qua vô tung vô ảnh.

Nàng suy đoán tổ tiên của Quý thế tử cũng có thể đã từng thông hôn với bộ tộc Nam Nhiễm, người trong quan tài có thể là vị tổ tiên nào đó của Quý thế tử thôi.

Bởi vậy chốc lát sau nàng đã không còn rối rắm nữa, chuyên tâm đi tìm cổ thư mà tộc Nam Nhiễm giấu trong phòng mộ.

Trên thực tế, không hề có một căn phòng sách nào chất sách đầy như núi, cũng không hề có một cỗ quan tài nào chứa sách, ngay cả một cái rương hay một giá sách cũng không. Thành Ngọc tìm khắp cả ngôi mộ, chỉ tìm thấy mỗi năm quyển sách.

Sách cực kỳ cũ kỹ, dùng mực viết lên giấy, sau đó buộc chỉ lại, đóng thành năm quyển sách mỏng. Nhưng mực trên giấy đó lại chưa từng phai màu sau những mấy trăm năm, giấy được sử dụng cũng những mấy trăm năm mà chưa từng mục rửa, chỉ để buộc sách cũng những mấy trăm năm chưa từng đứt đoạn.

Việc này thực sự khiến người ta kinh ngạc, bởi vậy cho dù chỉ tìm được mỗi năm quyển sách, Thành Ngọc cũng không mất đi hứng thú, lật tới lật lui nghịch ngợm một hồi, mới chú ý đến bìa sách trống không, ngay cả một cái tên cũng không có, nên liền tính toán lật giở xem nội dung bên trong mỗi cuốn sách là gì.

Không ngờ càng lật càng mê, ước chừng vào trước giờ Tý ba khắc [1], nhờ ánh sáng mờ ảo của viên dạ minh châu, Thành Ngọc cũng đã đọc xong năm quyển sách, bấy giờ mới chực nhớ ra nàng đã ở đây quá lâu, đã đến giờ phải ra khỏi mộ rồi.

Năm quyển sách này, một quyển viết <Sông núi địa lý>, một quyển <Lịch sử truyền thuyết>, một quyển <Kỳ môn độn giáp>, một quyển <Độc điển>, một quyển <Cổ Bộ> [3]. Nàng cực thích hai quyển đầu, ba quyển sau xem chỗ hiểu chỗ không, nhưng cũng có cảm giác thú vị.

Trong những năm sau đó của cuộc đời, Thành Ngọc đã tự vấn mình không biết bao nhiêu lần, tại sao lúc ấy nàng lại quên mất thời gian. Nếu như nàng có thể rời khỏi ngôi mộ kia sớm hơn dù chỉ một khắc, biết đâu Tinh Linh sẽ không phải chết.

Nhưng tất cả những việc này đã không thể vãn hồi.

Đêm đó, đến cuối giờ Tý [1] nàng mới ôm theo năm quyển sách cổ rời khỏi mộ, theo đường cũ trở về, sau khi đã chạy được đến hai phần ba hành lang dài bằng đá khổng lồ, nàng nhìn thấy ánh lửa xuất hiện trước mắt.

Tiếp đó chính là một cơn ác mộng hết lần này đến lần khác dằn vặt nàng trong vô số đêm sâu thăm thẳm.

Nàng ở lại trong ngôi mộ quá lâu, nên khi Tinh Linh cố gượng dậy trong giấc ngủ say, cuối cùng cũng đoán được nàng đang ở nơi nào, bèn chạy đến mộ cổ tìm nàng ngay.

Giống như những người thăm dò cổ mộ mà không biết bí mật bên trong đó, Tinh Linh đốt lửa để chiếu sáng. Nhiệt độ của ngọn lửa và mùi thơm của nhựa thông đã đánh thức độc trùng ngủ say dưới đáy mộ, cũng đánh thức dược độc không chỗ nào không có bên trong. May mà Tinh Linh vào động chưa sâu, mà trước đó Thành Ngọc đã làm rất nhiều thuốc giải, có thể tạm thời giải được độc trên cơ thể hai người.

Hai người chạy một mạch, mắt thấy phải vượt qua cái ao hóa cốt kia ở gần cửa mộ thì mới ngăn cách được độc trùng ở trong hòng tìm ra đường sống, nhưng chiếc cầu treo duy nhất trên mặt ao lại không biết đã bị ai cắt mất.

Vì để đưa nàng bình an đến bờ bên kia của ao hóa cốt, Tinh Linh đã chết trong ao hóa cốt đó.

Lần cuối cùng nàng nghe thấy giọng nói của Tinh Linh, chính là một câu nói gấp gáp của cô vang lên phía sau nàng: “Quận chúa, chạy mau!”

Lần cuối cùng mà nàng trông thấy bóng dáng của Tinh Linh, là trong ánh sáng mờ xuyên qua từ cửa động, có bọt nước màu trắng đột nhiên bắn lên trong ao hóa cốt.

Năm Tinh Linh chết, cô còn chưa đến hai mươi tám tuổi.

Bất luận là lúc tỉnh hay trong mơ, Thành Ngọc đều không nhớ ra được đêm đó, rốt cuộc nàng làm sao mới có thể từ bờ bên kia của ao hóa cốt chạy ra ngoài cổ mộ.

Ký ức của nàng có một đoạn trống không.

Những ký ức thuộc về cổ mộ, chỉ có thể dừng lại ở khoảnh khắc cực kỳ lạnh lẽo mà tuyệt vọng đó, nàng run rẩy gọi tên Tinh Linh, vươn mình hướng về nước ao đốt người ấy mà chạy.

Lúc tỉnh táo, nàng chưa từng dám nhớ lại khoảnh khắc đó, bởi vì trước nay nàng không thể làm rõ được vào lúc ấy nàng đã được Tinh Linh đẩy sang bờ bên kia, lại vừa khóc vừa bò trở lại là muốn làm gì. Có lẽ nàng muốn bắt được Tinh Linh.

Lúc đến gần nước ao, bàn tay nàng liền lập tức bị hơi nước trong ao đốt ra bọt nước, có thể thấy Tinh Linh bị nhấn chìm trong cái ao kia xác thực là thi cốt không còn. Nàng không nên ngu xuẩn như vậy muốn trở về tóm lấy Tinh Linh, nàng vốn dĩ không thể tóm được Tinh Linh. Nàng xưa nay không phải người ngu xuẩn. Nhưng có lẽ trong khoảnh khắc đó, nàng cũng không biết làm gì, nàng chỉ muốn tóm được Tinh Linh, Tinh Linh sống hay chết nàng cũng muốn tóm được.

Sau đó chính là một đoạn trống rỗng như thất hồn lạc phách.

Nhưng sự trống rỗng này cũng không kéo dài lâu.

Đoạn ký ức tiếp theo thuộc về bên ngoài cổ mộ có ánh trăng ló ra bầu bạn.

Lúc đó trên trời nhàn nhạt một vầng trăng non, trăng treo trên trời. Vẫn là nửa đêm.

Bên ngoài cổ mộ, có hai hàng thiết kỵ dàn ra thành hình chữ nhất (一), thị vệ vương phủ mặc hắc y giống như tượng đá tĩnh lặng ngồi trên lưng ngựa, duy chỉ có bó đuốc trong tay là hừng hực bốc cháy. Ánh sáng vàng mờ ảo giống như nắng sớm, khiến cho cửa mộ, thú trấn mộ, còn có đất rừng sâm nghiêm trước cửa mộ được chiếu sáng như ban ngày.

Quý Minh Phong cưỡi trên một con tuấn mã màu đỏ sậm đứng đằng sau những thị vệ áo đen kia, Thành Ngọc nhìn không rõ diện mạo của y, nhưng có thể cảm nhận được ánh mắt ngập tràn lạnh lẽo của y đang rơi trên mặt nàng.

Một lúc sau, Quý Minh Phong chậm rãi mở miệng: “Rốt cuộc cô đến đây làm gì?”

Ba ngày trước nàng có đụng phải Quý Minh Phong ở trên đường, lúc ấy y đang dẫn theo Mạnh Trân bước vào tửu lâu, không thấy nàng. Nàng nghĩ hai người họ đã đến đây, tất nhiên là muốn thăm dò cổ mộ lần thứ hai, bởi vậy sau khi nàng lấy được khóa thiêng Thủy thần vào đêm mùng một, chỉ chuẩn bị một ngày thì đã chạy lên núi Túy Đàm, xông vào mộ. Nàng muốn tranh thủ đi trước hai người đó một bước.

Chính vào đêm qua, nàng còn từng nghĩ, nếu nàng có thể mang theo những sách cổ này sống sót rời khỏi mộ, có lẽ nàng sẽ chọn một đêm yên tĩnh rồi đem những quyển sách này tặng cho Quý Minh Phong, triệt để đền đáp ơn cứu mạng. Nàng và Quý Minh Phong kết duyên vào đêm mười lăm tháng hai trăng tròn vằng vặc. Kết duyên vào đêm trăng sáng, rồi lại triệt để cắt đứt duyên này vào một đêm trăng sáng khác, dường như cũng có chút cảm giác cơ duyên bất đắc dĩ, vậy thì thích hợp quá rồi.

Nhưng kịch bản số mệnh lại không phải do một tay nàng tự an bài.

Nàng sống sót ra khỏi cổ mộ, sống sót mang ra được những quyển cổ thư đó, nhưng Tinh Linh đã chết.

Nhưng nàng vẫn chưa tuyệt vọng, nàng thử mở miệng, tìm lại giọng nói của chính bản thân mình. Nàng giấu mình dưới cái bóng cực lớn của thú trấn mộ, khàn giọng dò hỏi Quý Minh Phong đang đứng ngoài mấy bước: “Tinh Linh đâu?”

Tiếng vó ngựa vang lên, Quý Minh Phong tiến gần đến hai bước, dưới ánh lửa, khuôn mặt y hiện lên rõ ràng. Là mày mắt hết sức trang nghiêm lạnh lùng, nàng nghe thấy giọng nói lạnh lẽo của Quý Minh Phong vang lên: “Cô ấy chết rồi, vì cô mà chết.”

Quý Minh Phong giống như có phần nghi hoặc: “Ngày đó cô bảo Tinh Linh mang cô đi thăm dò những nơi thâm u bí mật theo <U Sơn Sách>, ta đã bảo cô ấy khuyên cô không được gây họa, cô đúng là dù có sai trăm lần cũng không biết hối cải, đúng không?”

Lời nói sắc như dao bén, đâm vào khiến nàng liên tục thở hổn hển.

Phải, Tinh Linh chết rồi.

Tất cả cảm giác đau đớn nàng cảm nhận được trong khoảnh khắc Tinh Linh rơi xuống nước trong cổ mộ lại một lần nữa lan khắp cơ thể nàng, nhưng lần này nàng không còn phát ra âm thanh nào nữa. Nàng không phát được bất cứ âm thanh gì, chỉ có thể dùng bàn tay phải đầy những bọt máu ra sức nắm chặt vạt áo trước ngực, bởi vì quá dùng sức, bọt máu bị dồn nén rồi vỡ ra, làm vải vóc màu trắng nhuốm màu bê bết, nhưng nàng không hề cảm thấy đau.

Nàng thở hổn hển một lúc lâu, nhưng cơn thở dốc đó có một loại kiềm chế theo bản năng, thế nên không ai chú ý, đến khi nàng rốt cuộc cũng có thể bật ra tiếng, ánh mắt của Quý Minh Phong mới rơi trở về trên cơ thể nàng.

Nàng giống như đang tự hỏi chính mình, lại giống như đang hỏi ai đó: “Là như vậy sao?” Giọng nói vẫn khàn khàn, khó nghe giống như vừa bị giấy nhám chà một lượt. Sau câu hỏi đó, nàng lại nghĩ Quý Minh Phong nói đúng, Tinh Linh là vì nàng mà chết. Bởi vậy nàng lại khe khẽ tự trả lời mình một câu, “Phải, là như thế, là tôi sai.”

Không có ai đáp lại nàng. Ánh lửa cách nàng có hơi xa, ánh trăng lại ở rất gần nàng, nhưng chúng chiếu lên người nàng chỉ khiến nàng có cảm giác lạnh lẽo.

Hồi lâu sau, Quý Minh Phong cuối cùng cũng tiếp tục lên tiếng, giọng nói đã không còn lạnh lùng đanh thép như vừa rồi, y thản nhiên nói: “Tinh Linh,” rồi nhắm mắt lại: “Chết vì cô, là chức trách của cô ấy. Nhưng cái chết đó dẫu sao cũng nên có chút tác dụng,” Y lắc đầu nhìn nàng, trong ánh mắt tràn ngập bức bách, Quý Minh Phong hỏi nàng: “Quận chúa, từ nay về sau cô có thể an phận một chút, đừng tiếp tục lỗ mãng như vậy nữa được không? Nếu bản thân đã không có cách tự bảo vệ mình, có thể đừng tiếp tục chủ trương, lần nào cũng đẩy bản thân vào hiểm cảnh?”

Rất lâu sau nàng mới có phản ứng, có chút gian nan nói: “Thế tử muốn nói, nếu tôi đã vô dụng, thì đừng lúc nào cũng đem phiền phức đến cho người khác đúng không? Tinh Linh,” Trực tiếp thốt ra cái tên này, liền khiến nàng nghẹn ngào ngay lập tức, nhưng nàng chịu đựng được, nén đau đớn nghẹn ngào cực lớn ở yết hầu, nàng khản giọng nói: “Cái chết của Tinh Linh, không nên nhẹ nhàng như vậy, Tinh Linh không nên chôn thân vì sự bất hảo và vô tri của một Quận chúa,” Cánh môi nàng run rẩy, “Chúng tôi đi chuyến này cũng không hoàn toàn vô dụng, tôi và Tinh Linh, đã cùng nhau lấy về cổ thư Nam Nhiễm mà Thế tử muốn.”

Nói xong, nàng đưa ngón tay run rẩy đã không còn linh hoạt mở cái túi bách bảo đeo trên người. Khi nàng sắp rút năm quyển sách cổ đó ra, một giọng nữ kích động chen vào: “Đừng.” Là Mạnh Trân vẫn luôn đi song song với Quý Minh Phong.

Cùng với một tiếng “Đừng” lạnh lùng sắc bén đó, Thành Ngọc trơ mắt nhìn năm quyển sách cổ hóa thành giấy bụi chỉ trong chớp mắt. Gió đêm thổi qua, bụi giấy đó liền bay lên tản mác trong đêm đen vô tận, giống như đám khói bụi vô dụng còn lại sau khi pháo hoa cháy rụi.

Ánh mắt nàng ngưng đọng trong vết khói bụi kia, hơi thẩn thờ.

Trong sự tĩnh lặng cùng cực, chợt nghe Mạnh Trân nghiến răng trách móc: “Quận chúa nếu đã có thể lấy được thánh thư của tộc ta trong cổ mộ cơ quan trùng trùng, sao lại không biết những thánh thư này chỉ có thể để lại trong mộ cho người ta sao chép? Sao lại không biết trên mỗi một quyển sách đều có bí thuật, gặp gió liền hóa bụi mà bay?”

Con tuấn mã dưới hông lập tức đi về phía trước năm sáu bước, gương mặt Mạnh Trân tái mét lại: “Quận chúa lần này dò thám cổ mộ đúng là có thể khen được một chữ hay, dứt khoát chặt đứt sạch sẽ đường sống của chúng ta rồi. Theo ta thấy, cái chết của Tinh Linh, há là nhẹ như lông hồng, thực sự là…”

Sắc mặt Thành Ngọc tái nhợt.

Quý Minh Phong đột nhiên mở lời, y hỏi nàng: “Rốt cuộc cô ở đây làm gì?” Đây là câu hỏi đầu tiên nhất mà Quý Minh Phong hỏi nàng. Vừa rồi nàng vẫn chưa hồi đáp, lúc này y giống như cũng không cần nàng hồi đáp, giống như không thể tin được mà hỏi nàng, “Rốt cuộc cô, muốn làm gì?”

Một chữ nàng cũng không nói ra được.

Từng câu hỏi cứ nối tiếp nhau: “Cô đến lấy cổ thư Nam Nhiễm, sao lại không báo với ta?” “Cô có biết những quyển sách này quan trọng như thế nào không? Có được chúng, trên chiến trường có thể giảm bớt được bao nhiêu người hi sinh vô tội?”

Nàng thử mở miệng, nhưng chỉ nói ra được một chữ ‘tôi’.

Nhưng Quý Minh Phong nhắm mắt lại, từ chối nghe bất cứ lời giải thích nào của nàng, cho dù là sám hối. Y giống như cực kỳ mệt mỏi, lại giống như cuối cùng cũng đè nén không nổi phẫn hận đối với nàng, giọng nói của Quý Minh Phong cực kỳ trầm thấp: “Hồng Ngọc Quận chúa, cô thực sự là quá mức to gan lớn mật tùy tiện làm liều, sai một trăm lần cũng không biết hối cải. Hôm nay Tinh Linh vì cô mà chết, tương lai còn có thêm càng nhiều nam nhi Lệ Xuyên vì sự tùy hứng lần này của cô mà bỏ mạng, nhiều mạng người như vậy, cô làm sao gánh chịu nổi đây?” Y còn dùng ánh mắt lạnh lùng suy xét nàng, “Hay là cô quý vị quận chúa, thế nên cho rằng tính mệnh bọn họ trời sinh ti tiện, nhiều mạng người như vậy, kỳ thực cô không hề để tâm?”

Cái này dĩ nhiên không phải là đau đớn do kiếm sắc đâm vào người.

Nàng ngồi ở chỗ ấy, trong cơn mơ màng, cảm thấy đêm nay nàng cũng rớt xuống ao hóa cốt cùng với Tinh Linh, nhưng lại được vớt lên, không chết được, nhưng xương thịt đã bị chia lìa, nàng còn sống, nhưng phải chịu đựng đau đớn róc xương xẻo thịt này, đây là chuyện còn khó chịu hơn cả cái chết.

Có lẽ chỉ vì nàng có thể nguyên vẹn ngồi ở trước cửa mộ, nàng không khóc, nhìn qua sẽ thấy nàng kiên cường và tàn nhẫn, bởi vậy bọn họ cảm thấy nàng là một người đủ kiên cường và tàn nhẫn. Không có ai biết được nàng đau đến cùng cực chính là bộ dạng thế này, bởi vậy không có ai quan tâm đến đau đớn của nàng.

Quý Minh Phong giống như không bao giờ muốn nhìn đến nàng nữa. Sau một phen nói những lời gần như khiến nàng vạn kiếp bất phục, liền xoay đầu ngựa vung roi mà đi. Theo sau là Mạnh Trân và nhóm hộ vệ của y.

Nàng nhớ nàng đã phá hỏng chuyện của Quý Minh Phong, y đích thực nên phẫn nộ như vậy.

Nàng không trách y, nàng chỉ rất đau lòng.

Trước cổ mộ rất nhanh đã yên tĩnh trở lại, cũng âm u trở lại.

Ánh trăng lạnh, gió lạnh, nàng có thể nghe thấy một hai tiếng chim ríu rít trong đêm, âm thanh ấy là đau đớn.

Cuối cùng nàng cũng không chống đỡ được nữa, tê liệt ngã xuống trong cái bóng bao trùm của thú trấn mộ.

Nàng ở trong cái bóng ấy mà siết chặt lấy bản thân mình, co ro thành một nhúm nho nhỏ.

Tròn cả một tháng, không có ai biết nàng đã trải qua đau đớn cùng với dằn vặt như thế nào. Giống như cây bạch lan cổ ngày đó đã nói, cho dù là nàng, muốn lấy được cổ thư Nam Nhiễm cũng cần hao phí biết bao tâm sức.

Không có ai biết sau khi tháo Hi Thanh xuống, nàng đã trải qua một đêm rồi lại một đêm mất ngủ; không có ai biết những thanh âm ồn ào huyên náo đó vang lên mỗi ngày mỗi đêm đều khiến nàng sống không bằng chết như thế nào; không có ai biết tất cả nguy hiểm mà nàng đã trải qua vào cái đêm đi lấy khóa thiêng Thủy thần; càng không có ai biết đêm nay.

Đêm nay, trong một nháy mắt tính mệnh như chỉ mành treo chuông, nàng thực sự rất sợ hãi.

Sau đó là cái chết của Tinh Linh, cổ thư đột nhiên hóa bụi, cùng với những lời nói sắc bén như đao đó của Quý Minh Phong, kỳ thực không có cái nào nàng có thể chịu đựng nổi.

Nàng đau muốn chết đi.

Nàng gấp gáp muốn ai đó cho nàng một chút ấm áp, để nàng đừng tiếp tục đau như thế này nữa. Nhưng từ khi nàng đến Lệ Xuyên, chỉ có mỗi Tinh Linh cho nàng dịu dàng thuần túy. Nhưng lúc này nhớ đến Tinh Linh chỉ làm nàng càng thêm đau đớn. Gần đây nàng có từng có được cảm giác dịu dàng như vậy không? Trong ký ức lạnh lẽo mà đau xót dâng trào, chỉ có giấc mộng đêm qua là dường như có chút màu ấm áp, giấc mộng nổi lên, giống như một viên minh châu ấm, chạm đến ngón tay của nàng, truyền cho nàng chút hơi ấm. Trong giấc mộng đó có một hoang mạc dịu nhẹ, có ánh trăng ấm áp, gió cũng ấm áp. Khi đó, có một người ở bên cạnh nàng, dịu giọng nói với nàng: “Tặng nàng một câu thơ, được chứ?” Đó là một người đối xử tốt với nàng, cho dù chỉ là người trong giấc mộng.

Nhờ một chút ấm áp đó, cuối cùng nàng cũng có sức mà bật khóc. Tiếng khóc vang vọng trong khu rừng u ám, giống như một con thú nhỏ lạc mất người thân.

Bởi vì vào lúc nàng bị tự trách dồn nén làm cho sụp đổ, không có ai ở bên cạnh nắm tay an ủi nàng, nói nàng biết nàng không sai đến mức kinh khủng như vậy đâu, cái chết của Tinh Linh chỉ là một việc ngoài ý muốn mà không ai muốn phát sinh cả; bởi vậy, một chút ấm áp trong hồi ức này ban cho nàng sức lực và dũng khí, nhưng ngược lại cũng khiến đáy lòng nàng tiếp nhận những lời nói làm cho nàng vạn kiếp bất phục.

Vì nàng tùy hứng mà hại chết Tinh Linh, vì sự vô tri của nàng mà cái chết của Tinh Linh một xu cũng không đáng. Đây là sai lầm không có cách nào cứu vãn, nàng cần phải chịu tội vì nó cả đời.

Sau chuyện đó, với Thành Ngọc mà nói vẫn có chút mơ hồ như cũ.

Nửa đêm hôm đó, dường như có người của vương phủ đưa nàng trở về. Sau hai ngày đi đường mệt nhọc, nàng về đến Lệ Xuyên vương phủ, sau đó nàng bị nhốt lại.

Nàng bị bệnh, ngày nào cũng sống trong hốt hoảng, bởi vậy cũng không rõ là đã bị nhốt bao nhiêu ngày.

Trong ấn tượng của nàng, nàng không gặp lại Quý Minh Phong lần nào nữa, ngược lại có một ngày nghe thấy nha hoàn chăm sóc nàng nói trong vương phủ có hỉ sự, Tần cô nương sắp gả vào đây làm chủ tử. Nàng ngơ ngác một lúc lâu mới hiểu ra Tần cô nương rốt cuộc là ai, nghĩ hẳn là gả cho Quý Minh Phong rồi, sau đó lại buồn ngủ. Trong những ngày đó, nàng luôn trong trạng thái mệt nhoài, ngủ không đủ giấc.

Hình như là ngày tiếp theo, Chu Cẩn và Lê Hưởng đã đến đây đón nàng. Hai người âm thầm mà đến.

Khi nhìn thấy Chu Cẩn, tinh thần nàng mới tỉnh táo trở lại, không còn dáng vẻ vô tri vô giác nữa. Còn thanh niên thì khiếp đảm ôm lấy nàng, hối hận vô cùng nói: “Nếu sớm biết Quận chúa phải chịu đau khổ như vậy, ta nhất định sẽ không để một mình Quận chúa lại nơi này!” Thế nên Chu Cẩn xưa nay đều là miệng sắc như đao mà lòng mềm như bún, nhìn thì như cực kỳ ghét bỏ nàng, nhưng thực chất cực kỳ trân trọng nàng. Mà nàng mệt nhọc đến mức chỉ kịp nói với Chu Cẩn, bảo y vào trong ký ức của nàng tìm kiếm năm quyển sách cổ Nam Nhiễm đó, chép ra rồi để lại Lệ Xuyên vương phủ. Nàng đã gây họa, nhất định phải bồi thường. Sau đó thì hôn mê bất tỉnh.

Khi tỉnh lại, nàng đã ở Vãn Anh sơn trang. Vãn Anh sơn trang là biệt uyển của hoàng gia, tuy cũng nằm ở Lệ Xuyên nhưng cách rất xa Hạm Thành.

Chu Cẩn không hề thương lượng với nàng thì đã phong ấn lại tất cả những áy náy và hổ thẹn đối với Tinh Linh mà lúc tỉnh táo nàng vô lực cũng vô phương thừa thụ. Tất cả tình cảm khiến cho nàng đau khổ khó lòng chịu đựng, cùng với một màn tử biệt cùng Tinh Linh đã giày vò nàng trong giấc mơ sâu thẳm mỗi đêm, toàn bộ đều bị Chu Cẩn phong ấn ở sâu trong nội tâm của nàng. Bởi vậy tất cả chuyện ở Lệ Xuyên, tốt có xấu có, dưới thuật phong ấn của Chu Cẩn, với nàng mà nói, đều chỉ còn lại tàn ảnh mông lung không mang theo cảm xúc.

Thành Ngọc trở lại thành Bình An nửa năm sau đã trở về là Thành Ngọc năm mười lăm tuổi chưa từng bước ra khỏi thành Bình An một bước, là Thành Ngọc chưa từng trưởng thành.

.

Thùy liễu bên bờ sông Bạch Ngọc vẫn phiêu diêu lả lướt. Đêm đã rất sâu, tiếng đàn tỳ bà trên lầu trúc của Kim Tam Nương từ lâu đã tắt hẳn. Những hơi thở vui sướng của phố hoa bị tiếng tỳ bà mang đi, cũng vui vẻ nói với đêm khuya lời cáo biệt, tất cả đều chìm vào từng giấc từng giấc mộng hoan phong lưu kiều diễm. Bởi vậy cả một dòng sông Bạch Ngọc đều trở lạnh, chỉ còn lại nước sông vẫn đang chảy róc rách, và gió đêm vẫn nhè nhẹ thổi qua.

Liên Tam uốn gối ngồi trên thảm cỏ, một tay chống má, có hơi nhíu mày.

Thành Ngọc liền có chút lo lắng.

Đây là lần đầu tiên nàng nhớ được hoàn chỉnh một đoạn quá khứ như thế, những việc nói với Liên Tống tuy rằng không phải là toàn bộ, nhưng đại khái là như thế. Những bí mật không thể nói với ai thì bất luận lúc nào cũng không thể nói, nàng từng lập lời thề ở lầu Thập Hoa, bởi vậy liên quan đến chuyện Hoa Chủ, liên quan đến Hi Thanh, liên quan đến những truyền thuyết cổ xưa cùng với những lời trao đổi với các hoa cỏ, bao gồm cả thi hài trong mộ, nàng đồng loạt nhảy qua. Lại vì một chút tâm tư của thiếu nữ, thế nên liên quan đến chuyện có chút tư mật, ví dụ như mộng cảnh ở hoang mạc kia, nàng cũng không nhắc đến.

Nhưng Liên Tam thông minh như vậy, nàng không biết những lời mình tô vẽ trong câu chuyện đó có thể giấu được chàng không. Nàng cũng không biết nửa che nửa giấu kể về đoạn quá khứ kia với chàng như vậy, có được tính là thành thật đối diện với chính mình hay không. Bởi vậy khi nàng thấy chàng hơi hơi nhíu mày, trái tim nàng cũng theo đó mà đập lên kịch liệt. Nàng xót xa nghĩ không phải nàng muốn lừa chàng, chỉ là không làm không được.

Nhưng Tam điện hạ không hề nghĩ đến những thứ đó.

Khi nhíu mày, chàng nghĩ, trong cái đêm bất lực đó, trước ngôi cổ mộ âm u, cô bé hốc mắt đỏ hoe đang ngồi trước mặt mình đã co ro thành một nhúm như thế nào. Có phải cũng giống như bộ dạng chàng thấy trong nội tâm bốn mùa của nàng, cô cô độc độc chỉ một mình ngồi trên con đường tuyết bay, ôm chặt lấy chính mình, muốn tự truyền cho mình một chút hơi ấm. Chuyện đó khiến trái tim chàng trầm xuống.

Lúc này, Thành Ngọc đã được giải trừ phong ấn đó mới là Thành Ngọc chân chính, là Thành Ngọc vừa mới trưởng thành đã bị tước đi đôi cánh. Thứ đè nặng trên người nàng, đích thực là đau đớn và hối hận mà chỉ dựa vào đôi vai non nớt ấy thì dứt khoát không có cách nào chịu đựng được, nàng lại không biết phải làm sao mới tốt, nên giống như một con bướm mới vừa hóa kén thì đã gãy cánh, bị đau khổ trên con đường lột xác kia cố định một cách tàn nhẫn.

Nàng không thể tiếp tục trở vào trong kén làm một con nhộng vô ưu vô lo nữa, nhưng cũng không thể nhảy vọt ra mà giang đôi cánh làm một con bướm tự do tự tại. Nàng bất động một cách đau khổ tại nơi đó.

Trong tịch mịch ít nhiều khiến người ta hốt hoảng, Thành Ngọc là người lên tiếng nói trước.

Nàng hỏi Liên Tống: “Em là người xấu, đúng không?”

Ngón tay thanh niên vỗ lên vai nàng. Dưới ánh trăng, ngón tay ấy tỏa ra ánh sáng óng ánh, trơn mượt sáng bóng hơn cả thứ Dương Chi bạch ngọc tốt nhất, chàng khẽ trả lời nàng: “Không đâu, bọn họ nói bậy thôi.”

“Nhưng…” Nàng lẩm bẩm.

Ngón tay của Liên Tống đặt trên bả vai nàng: “Tiếp tục phong ấn những tình cảm và ký ức này trong người, em có thể tiếp tục vô lo vô nghĩ.”

Thành Ngọc mơ màng ngẩng đầu nhìn Liên Tống, nhưng đột nhiên cảm nhận được chàng ghé sát lại rồi nắm lấy tay nàng, nghe thấy chàng nói khẽ: “Nhưng A Ngọc, tôi vẫn muốn để em tiếp tục trưởng thành.”

Thành Ngọc cảm thấy thanh âm đó lướt qua tai nàng, có hơi trầm thấp; rót vào lỗ tai, có chút quen thuộc, nhưng rốt cuộc là quen ở chỗ nào, nhất thời nàng không nắm bắt được. Sau đó là một trận đất trời rung chuyển.

———————

7 chém

(1)

Hôm nay là ngày lễ cho nên đăng thêm, cảm ơn mọi người vẫn ở bên tôi sau nhiều năm như vậy, cảm ơn mỗi vị độc giả có bình luận chi tiết, chia sẻ cảm thụ với tôi. Cảm ơn mọi người, thả tim.

P/s: Chương hôm nay là chương tôi vô cùng thích.

[A Tĩnh: thực tế chương 15 có 3 chương nhỏ, 7 nói thích là cái chương nhỏ đầu tiên, chứa cái đoạn tình tứ ở nhà gỗ mà sau này chính thức xuất hiện ở Chương 30, tức Quyển 2 chương 13]

(2)

Thêm một chương nữa (A Tĩnh: Tức là chương nhỏ thứ 3 của chương này) là xong phân đoạn này rồi, anh 3 các người chính thức gặt hái thành quả.

Có bạn đọc nào đoán Quý thế tử là A Bố Thác cũng là Sương Hòa. Bây giờ không thể không tiết lộ một tí, A Bố Thác tuy rằng cũng là thần sứ, nhưng không phải Sương Hòa. Tổ Thị có 4 thần sứ, này chỉ là hai trong số đó thôi.

Xem mọi người mỗi ngày suy đoán trong phần bình luận thú vị dã man, tuy rằng đại đa số đều đoán sai cả ha ha ha.

(3)

Bởi vì không lớn thì không nói chuyện yêu đương được ấy mà.

Tui:

Lạy Chúa, cuối cùng cũng hết cái arc ở Lệ Xuyên =))). Ôi giời ơi, tui ghét Quý Minh Phong đến nỗi gõ cái arc này là cực hình với toai, *lạy Chúa x3*

—————–

[1] (Chú thích toàn bộ thời gian)

Giờ Tý: 11 giờ khuya đến 1 giờ sáng hôm sau. Giờ Tý ba khắc: Khoảng 12 giờ đêm rồi.

Giờ Mão: 5 – 7 giờ sáng.

Giờ Thân: 3 – 5 giờ chiều. Giờ Thân 3 khắc, khoảng 4 giờ chiều.

Giờ Dậu: 7 – 9 giờ tối. giờ Dậu sơ khắc là tầm hơn 7h tối chút.

[2] Minh nguyệt sơ chiếu hồng ngọc ảnh, liên tâm ám tàng tụ để hương (明月初照红玉影, 莲心暗藏袖底香).

Dịch nghĩa:Ánh trăng đầu tiên chiếu xuống bóng hồng ngọc, tim sen ẩn chứa mùi thơm tay áo.

Dịch thơ (láo) (cho vui) (lại sai thể thơ rồi =)))):  Vầng trăng soi bóng ngọc hồng, mùi hương tay áo thơm nồng tim sen. [A Tĩnh: Ban đầu tui dịch câu này vẫn đúng thể thất ngôn như câu gốc, nhưng nay ngẫm nghĩ lại thấy dịch sai nghĩa cmnr =))). Vào chỉnh lại mà phải đổi luôn cả thể thơ luôn mới xong =)))]

[3] Cổ Bộ (蛊簿): Trong đó “cổ” là để chỉ một loại thuật pháp, cho nhiều loại sinh vật có độc vào cùng 1 vật chứa để chúng cắn xé lẫn nhau đến khi chỉ còn một con sống sót, con còn sống sau cùng đó là cổ. Cổ Bộ là sách viết về thuật này.

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

MỤC LỤC

QUYỂN 2

Theo dõi
Thông báo của
guest

9 Góp ý
Thương Nguyệt
4 năm trước

“Minh nguyệt sơ chiếu hồng ngọc ảnh, Liên tâm ám tàng tụ để hương.

Chàng nói tặng nàng một câu thơ. Nhưng hóa ra thơ không phải thơ, mà là một bộ trang sức.”

Trong số các nam chính của 7, anh 3 chắc chắn là kẻ biết cách tán gái nhất :v Tặng trang sức mà cũng màu mè gớm *xịt máu mũi*

A Tĩnh
4 năm trước
Trả lời  Thương Nguyệt

Đâu phải chỉ đơn giản là tặng trang sức đâu người ơi ~ Tới đoạn đó thiệt ở khúc sau xịt máu mũi còn hơn nữa =)))

Thương Nguyệt
4 năm trước
Trả lời  A Tĩnh

Bộ này thấy 7 viết “sắc” hơn hẳn. Lâu lâu lại nhá hàng *xịt máu mũi*

A Tĩnh
4 năm trước
Trả lời  Thương Nguyệt

Chắc “sắc” cho nó xứng với cái danh phong lưu tình thánh của anh nam chính =))))

Linhihi
Linhihi
4 năm trước

Đọc truyện bà 7 công nhận phải đọc chậm, đọc thư giãn, vừa đọc vừa ngâm nga tưởng tượng vui thú vc :))) cứ đoạn nào tả tới tình tiết anh 3 là tui thấy rung rinh hộ bà Ngọc liền kkk

A Tĩnh
4 năm trước
Trả lời  Linhihi

Anh 3 ghẹo gái mà độc giả ngồi xem muốn đỏ mặt tía tai giùm A Ngọc luôn ☺️

Luna
Luna
2 năm trước

Nhưng cho dù là vậy, người phàm cũng không thể thay đổi phương pháp mở cửa mộ, hoặc là có máu còn sót lại của chủ Nhân tộc A Bố Thác, hoặc là có nước chứa ánh trăng tám phương lấy được vào ngày mùng một. Hai loại phương pháp mở cửa mộ trong truyền thuyết này đều là chủ Nhân tộc A Bố Thác đích thân định ra khi còn tại thế…”

→ Đoạn này lần đầu đọc cũng có cảm giác là lạ, mà đang mắc theo truyện nên bỏ qua, giờ đọc lại mới nhớ ra thắc mắc vụ gì. Máu của Mạnh Hộ Trân có thể mở cửa mộ, vậy nghĩa là Mạnh Hộ Trân có quan hệ huyết thống gì đó với chủ Nhân tộc A Bố Thác (Đế Chiêu Hy) à?

Mạnh Hộ Trân là con cháu gì đó của A Bố Thác? Vậy chắc ngày đó Nữ Thần Na Lan Đa vũ hoá xong anh cũng thong thả lấy vợ sinh con sống trọn kiếp người, xong chán quá mới nhập luân hồi nhỉ?

P.S, chắc lâu lâu sẽ làm xàm mấy câu vô tri như rày đó, mong Tĩnh không phiền nha 😀

A Tĩnh
2 năm trước
Trả lời  Luna

Hihi hồi đó tui cũng thắc mắc á nên đâu dám nói vô tri hay không vô tri, nhưng tui nghĩ thần tiên mà, chắc cũng không thiếu cách đưa máu cho đời sau bằng phương pháp ‘vô tính’ =))). Chương mới đây của quyển 4 (chương 11) cũng có nhắc việc Nữ Oa đưa máu của mình cho 147 thủ lĩnh tộc Người ó. Chắc cùng 1 kiểu hihi

Luna
Luna
2 năm trước
Trả lời  A Tĩnh

Ờ ha 😀

Mà có khi nào hồi tập 1 chị 7 cũng bị thắc mắc mắc như dzị, xong cái mới nghĩ ra phải viết gì để hợp lý hoá tình tiết này, và rồi chúng ta có câu chuyện Nữ Oa chia máu :))

Lần này đọc lại, cảm giác nhẹ nhàng lắm Tĩnh. Chắc vì biết truyện đã đi đến hồi kết, nên máu chó cơm chó gì cũng vui vẻ hứng hết. Mấy chương mà thấy Tĩnh kêu gào (như ở Lệ Xuyên, hay lúc mô tả tâm tình sến xẩm của em Ngọc), mình cứ rung rinh cười, ha ha.

9
0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x