Tam Sinh Tam Thế – Bộ Sinh Liên
[Phàm Thế] – Chương 12 | Quyển 1: Hóa kén – Chương 12
#tamsinhtamthế #bộsinhliên #phàmthế #hóakén
Dịch (láo): A Tĩnh
———————-
Đoạn quá khứ mà Thành Ngọc không thể đối mặt cũng không thể nhớ ấy thực ra cũng không phải chuyện cũ gì xa xôi lắm. Những chuyện đó phát sinh vào tháng thứ hai của mùa thu năm ngoái. Là tháng mà ở Lệ Xuyên gọi là quế nguyệt.
Tiền triều có một tài tử nổi danh ‘sinh ở đâu lớn lên ở đấy’ từng làm một bài từ, trong từ có một câu ‘Quế nguyệt vô thương, đau thương bỏ biển bơi về Hán giang’. Thế nên sau này, người Lệ Xuyên lại gọi tháng này là tháng vô thương, ý chỉ vào tháng này, trên địa giới Lệ Xuyên tuyệt đối không xảy ra bất kỳ điều gì xấu.
Đây là do Tinh Linh nói với Thành Ngọc.
Nhưng Tinh Linh lại chết ngay ở tháng này. Chết trong cái tháng vô thương mà chiếu lý ra, tuyệt đối không thể phát sinh bất cứ chuyện gì xấu được.
Lệ Xuyên Vương Thế tử Quý Minh Phong có mười tám ảnh vệ, Tinh Linh là nữ ảnh vệ duy nhất trong mười tám ảnh vệ đó, cũng từng là ảnh vệ ưu tú nhất của Quý Minh Phong.
Lệ Xuyên nằm ở cực nam của Đại Hi, tiếp giáp các tiểu quốc man di như Nam Nhiễm, Mạt Đô, Chư Giản. Người Hán di cư sống lẫn lộn ở nơi này vài trăm năm, vài thứ dân phong dân tục thực ra cũng đã khác hẳn với Trung Nguyên rồi.
Thành Ngọc ở tạm Lệ Xuyên vương phủ nửa năm. Liên quan đến các loại tập tục xưa cũ ở Lệ Xuyên, một nửa là nàng biết được từ trong sách: thư phòng của Quý Minh Phong cái gì cũng có, tranh vẽ núi sông địa lý với đủ các loại trường hà hải chí, nói về phong tục dân gian xưa cũ cũng có rất nhiều bút ký cổ xưa chép lại; nửa còn lại là nàng nghe được từ chỗ của Tinh Linh: Tinh Linh là một người ‘trăm việc tỏ tường’ chân chính, chuyện thần kỳ được đồn thổi ngoài đường phố hay giai thoại bí mật của các nước man di, cô đều biết cả.
Đoạn quá khứ ở Lệ Xuyên đó, Thành Ngọc hôm nay không thể đề cập tới, giống như lời nàng đã nói với Liên Tống, là bởi vì nàng không đủ dũng khí. Nàng gánh trên vai nỗi đau thương và hổ thẹn nặng nề, mỗi lần nhớ lại đều bị giày vò cực lớn, nếu không nhờ thuật phong ấn của Chu Cẩn đè nén những thứ tình cảm đó ở đáy lòng, nàng cũng không biết làm sao để có thể sinh sống bình thường được.
Nàng hôm nay đã không giống như nàng của năm mười lăm tuổi, lạc quan không sợ sệt, tiêu dao không câu thúc. Có rất nhiều lúc nàng vờ như vẫn còn là bản thân mình khi ấy, nhưng thực sự đã không phải nữa rồi.
Một tháng sau khi Tinh Linh chết, mỗi ngày nàng đều tự hỏi bản thân, tại sao lần ấy lại muốn rời nhà, tại sao lại rời khỏi thành Bình An để đến Lệ Xuyên? Tại sao bắt đầu rõ ràng là một hành trình vui vẻ, về sau cuối cùng lại biến thành kết cục tàn nhẫn thế này?
Thực ra bi kịch thế gian này, đại đa số đều nở từ đóa hoa hạnh phúc hân hoan, nhưng cuối cùng lại kết thành một thứ quả tàn nhẫn, nếu không có vui vẻ lúc ban đầu, sao cảm được đau buồn của kết cục? Thượng thiên chính là muốn người đời hiểu được đạo lý này. Thành Ngọc lúc ấy lại không hiểu được những thứ ấy. Nàng vẫn còn quá nhỏ, chưa đi qua bao nhiêu dặm đường, chưa gặp được bao nhiêu con người, chưa kinh qua bao nhiêu sự việc. Mười lăm năm lớn lên trong lầu Thập Hoa, nàng chưa từng một lần nhìn thấy thế gian chân thật này. Mà thế gian chân thực, lúc nào cũng có rất nhiều khổ đau ly biệt.
Quay ngược tất cả mọi chuyện về năm Kính Nguyên thứ ba, mùa xuân, năm ngoái. Tết Nguyên Tiêu mười lăm tháng giêng chính là thời điểm tốt nhất để bắt đầu kể về câu chuyện đó.
Ngày mười lăm tháng giêng là tết Nguyên Tiêu, trời cao ban phúc, trong cung có lễ hoa đăng, trong kinh thành cũng có hội hoa đăng. Ngày đó chính là ngày thiên tử cùng vui với bách tính. Một ngày sau ngày quốc khánh ấy chính là sinh thần của Hồng Ngọc Quận chúa. Ngày mười sáu tháng Giêng, Thành Ngọc được tròn mười lăm tuổi.
Trong mệnh của Thành Ngọc có bệnh kiếp, năm đó Quốc sư xem tử vi đẩu số, bày ngũ tinh vận hạn, thấy Quận chúa phải sau khi tròn mười lăm tuổi mới độ qua được bệnh kiếp, có thể rời khỏi lầu Thập Hoa. Nhưng vận mệnh của Thành Ngọc lại không quá giống với vận mệnh những người bình thường, tùy thời tùy thế, lúc nào cũng có thể xảy ra biến động. Cần biết từ sau khi Tĩnh An Vương gia mất, Quốc sư đã nhiều năm chưa từng gặp riêng Thành Ngọc, tự nhiên không thể tính lại vận hạn cho nàng. Cho nên ngày mười bảy tháng giêng, Chu Cẩn tự cho là ngày vạn sự đại an liền dẫn theo nàng và Lê Hưởng rời khỏi vương thành, đi thẳng về phía nam, thẳng hướng đi về Lệ Xuyên xinh đẹp mà Thành Ngọc vẫn hằng ngưỡng mộ.
Năm đó là một năm đông hàn xuân lạnh, hội đèn lồng vừa qua, thành Bình An ở cực bắc vẫn giữ vẻ tiêu điều, cành khô cây cao khổ sở chịu đựng dư tuyết, nhưng đường xuôi nam dần dần có màu xanh rọi mắt, vừa nhìn đã thấy mùa xuân. Đi qua đường núi Cao Lĩnh vắt ngang chia cách hai miền nam bắc, càng là lúc có thể hoặc đứng trên núi hoang hoặc đứng cạnh sông dài mà thấy hai ba trang giai nhân tuyệt sắc mặc đời, đều là hoa xuân nối đuôi nhau dần nở.
Thành Ngọc đến năm mười lăm tuổi mới lần đầu rời khỏi thành Bình An, băng qua rặng núi hoặc tú lệ hoặc hùng vĩ, sông dài vắt qua hoặc êm ả hoặc chảy xiết, xuyên qua thị trấn hoặc phồn thịnh hoặc điêu tàn, mới hiểu rõ màu mà trong sách gọi là ‘nghìn núi tôn sắc biếc [1]’ là màu gì, ‘âm vang xuống cõi trần [2]’ là âm thanh gì, ‘mười vạn nhà nhấp nhô [3]’ lại là cảnh làm sao. Suốt dọc đường thấy cảnh nào cũng mới mẻ, bởi thế mỗi ngày của Thành Ngọc trôi qua đều vô cùng vui vẻ.
Ngọc Tiểu công tử giẫm qua cửa thành Bình An, lần đầu tiên nhận thức nhân gian muôn màu, như cá gặp nước, như ngựa thoát cương, như chim sổ lồng, đột phá được hai từ ‘tự tại’. Một đường vừa đi vừa chơi, mới qua mấy ngày mà bạc để tiêu hằng tháng chỉ còn lại có hai đồng. Thấy Chu Cẩn tức giận không nói chuyện với nàng, nàng cũng chẳng mấy quan tâm, cầm xong chiếc vòng tay phỉ thúy bao một ông già kể chuyện có kiến thức sâu rộng để tán gẫu với nàng. Thấy Chu Cẩn càng thêm tức giận không cho Lê Hưởng nói chuyện với nàng nữa, nàng vẫn không mấy quan tâm, rồi bán luôn chiếc áo lông vừa mới thay, một mình chạy đến quán rượu của người Hồ nghe ca cơ người Hồ hát khúc. Thấy Chu Cẩn cuối cùng tức quá thành quen không thèm để ý nữa, nàng lại càng không mấy quan tâm, hơn nữa còn nhân cơ hội ấy làm thêm một chuyện lớn: Nàng lấy con ngựa trắng xám Ngọc Hoa của Chu Cẩn ra giúp một tú tài nghèo chuộc người yêu của gã ra khỏi quán rượu người Hồ đó…
Chu Cẩn vẫn luôn theo sau Thành Ngọc, hết chuộc vòng tay đến chuộc áo lông, rồi còn phải chuộc lại con ngựa Ngọc Hoa của chính mình, mỗi lần bước ra khỏi cửa hiệu cầm đồ là một lần cầm lòng không được ngẩng đầu hỏi trời xanh một lần rồi lại hỏi bản thân một lần, tại sao mình lại thả tên trùm gây họa này ra khỏi thành Bình An. Lại thấy tên trùm gây họa này cảm thấy một mình mình chưa đủ, còn cực kỳ vui vẻ ra sau tán gẫu với ông già kể chuyện về cái gì mà hai mươi bốn cách ăn khoai lang, Chu Cẩn chỉ hận không thể vứt luôn trùm gây họa này lại cho xong xuôi mọi chuyện.
Nhưng không ngờ rằng y còn chưa kịp vứt bỏ Thành Ngọc, ngược lại Thành Ngọc đã vứt bỏ y.
Đó là đêm mười lăm tháng hai.
Đêm mười lăm tháng hai, ba người bọn họ vì muốn thưởng thức cảnh ‘trăng soi đêm ngọc [4]’ mà đến sườn núi Dạ Bích của núi Khởi La du ngoạn.
Thôn dã có tin đồn, ở sâu trong núi Khởi La có rất nhiều sơn tinh dã yêu lui tới, thường có dã đạo yêu tăng vì muốn tốc hành tinh tiến trên con đường tu đạo mà đến đây săn yêu luyện thuốc, tăng tiến tu vi. Nhưng cái gọi là dã yêu sơn tinh hay luyện yêu thành đan các loại, dù sao cũng là thứ xa vời trong cuộc sống của người phàm, bởi vậy thực tế không có người phàm nào xem tin đồn đó ra gì, chỉ cho rằng chẳng qua là người xưa bịa để lừa gạt hù dọa bọn trẻ con khóc đêm mà thôi. Đám người Thành Ngọc cũng không xem chuyện này ra gì.
Nhưng, khi ba người bọn họ đặt chân lên sườn núi Dạ Bích, quả thực đã gặp phải một gã đạo sĩ hoang đến đó săn yêu.
Mấy gã đạo sĩ thực sự có căn cốt, tu vi cũng không giống như đám đạo sĩ bình thường, vừa nhìn liền biết chân thân của Chu Cẩn và Lê Hưởng. Đạo nhân tâm tà, không cần biết là yêu hiền hay yêu ác, chỉ cảm thấy hai yêu này linh lực dồi dào, là thú săn trăm năm khó kiếm, lập tức bày trận săn yêu, muốn bắt hai người đi luyện thuốc.
Trong mắt Thành Ngọc, Chu Cẩn luôn là người không gì không làm được, nhưng ngay cả nàng cũng biết người như Chu Cẩn cũng có tử huyệt. Tử huyệt của Chu Cẩn chính là đêm mười lăm trăng tròn: Bởi vì mấy trăm năm trước y từng bị thương nặng, vết thương ấy đến nay vẫn chưa từng khỏi hẳn. Lúc bình thường tuy rằng không gây ra trở ngại gì lớn lắm, nhưng đêm trăng tròn dưỡng khí thế này lại khiến y mất hết pháp lực.
Có thể nhìn ra kết quả của trận đấu pháp này như thế nào: Chu Cẩn thân mang trọng thương, ba người bất đắc dĩ xé trăng mà chạy, nhưng đám đạo nhân vẫn bám riết không buông.
Lúc ấy Chu Cẩn vì trọng thương mà hôn mê khó tỉnh, pháp lực của Lê Hưởng chẳng qua cũng chỉ đủ gom lại linh khí của hai người, lưng vác Chu Cẩn tay dắt Thành Ngọc, dưới tình uống đám đạo nhân đuổi riết không tha cũng chỉ tạm thời bảo vệ được cái mạng nhỏ của ba người mà thôi. Nhưng dễ thấy sức lực của Lê Hưởng đã dần cạn kiệt, thêm cố gắng chống đỡ, chạy khổ cũng chẳng qua là chạy vào đường chết mà thôi.
Trong tuyệt cảnh này, Thành Ngọc lúc nào cũng trông như một đứa trẻ lại lộ ra vẻ bình tĩnh hiếm có, lưu loát cởi bỏ y phục dính máu trên người Chu Cẩn rồi mặc lên người mình, nén giọng nói với Lê Hưởng: “Lê Hưởng tỷ tỷ, cho chị ba nhiệm vụ,” Nàng giơ một ngón tay lên, “Thứ nhất, biến em thành hình dạng của Chu Cẩn,” lại giơ thêm một ngón tay nữa, “Thứ hai, cho em một con ngựa có thể cầm cự được ít nhất thời gian một nén nhang,” Tiếp theo là ngón áp út dựng thẳng lên, “Thứ ba, đợi em dẫn dụ bọn chúng đi rồi, cho chị thời gian một nén nhang để tìm cơ hội mang Chu Cẩn đến nơi an toàn, chị làm được không?” Khi nói những lời này, giọng điệu của nàng rất bình tĩnh, sắc mặt tuy rằng tái nhợt, nhưng trong mắt không gợn chút ba đào.
Lê Hưởng thở hồng hộc liều chết túm chặt tay áo nàng, nàng bình tĩnh nhìn Lê Hưởng: “Lê Hưởng tỷ tỷ, đây là đường sống duy nhất của chúng ta, cho dù bọn chúng bắt được em thì cũng không cần một người phàm như em làm gì, chẳng qua phải chịu chút giày vò trên da thịt mà thôi. Đợi khi ánh trăng biến mất, Chu Cẩn tỉnh lại, hai người tìm cơ hội đến cứu em.” Nói xong liền đẩy Lê Hưởng đi, gập người nấp vào một chỗ có thể ẩn thân, một mạch chạy vào sâu trong rừng rậm.
Thành Ngọc hiểu Lê Hưởng, Lê Hưởng không cố chấp như Chu Cẩn, hơn nữa vừa gặp chuyện lớn thì liền không có chủ kiến, dưới tình thế không thể vãn hồi thì nhất định sẽ nghe theo mệnh lệnh.
Quả nhiên, khi nàng vừa chạy qua một gốc cây thông già, rành rành cảm thấy vóc dáng mình bỗng chốc cao lên. Dưới ánh trăng, một con tuấn mã trắng muốt đột nhiên nhảy ra từ lùm cây, giơ cao bốn vó chạy đến bên nàng.
Thành Ngọc tuy rằng không biết võ, nhưng thuật cưỡi ngựa bắn cung lại đứng đầu trong đám con em tông thất. Lúc dùng tai phân biệt âm thanh lao tới rồi xoay mình nhảy lên lưng ngựa, đám đạo sĩ đó cũng đã ngự kiếm vững vàng bay qua một sườn núi nhỏ, xuất hiện trước mắt nàng. Mắt thấy lân tinh yếu ớt chiếu lên gương mặt uy nghiêm đáng sợ của đám đạo sĩ, Thành Ngọc không hề dừng lại một giây, xoay đầu ngựa chạy thẳng vào chỗ sâu nhất trong núi Khởi La.
Ngược lại là đám đạo nhân đó bỗng nhiên thừ người trong chốc lát, nhưng cũng không bỏ cuộc, ngự kiếm cấp tốc đuổi theo.
Từ nhỏ Thành Ngọc đã lớn lên trong lầu Thập Hoa, những người thân nhất bên cạnh nàng quá nửa đều là yêu, bởi vậy yêu có tập tính gì, Thành Ngọc rất hiểu. Thế nhân thích phân biệt yêu thành thiện yêu và ác yêu, nhưng các loại yêu chỉ tự phân thành yêu hợp cách và yêu không hợp cách. Yêu có yêu cách, trong loại yêu hợp cách cũng có loại ăn thịt người, nhưng yêu loại đó chỉ nuốt pháp thân đạo cốt để tu luyện, không ăn phàm thai nhục thể cho no. Ý nghĩa chính là, yêu hợp cách, chỉ ăn tăng nhân đạo sĩ hoặc người tu luyện có pháp lực, không ăn người phàm không có pháp lực. Chỉ có yêu không hợp cách mới ngay cả phàm thai nhục thể hay các loại vật khó coi cũng nhét hết vào mồm. Mà càng là yêu hợp cách thì càng thích sống ở nơi rừng rậm núi sâu ít dấu chân người, đây chính là lý do Thành Ngọc cưỡi ngựa chạy như điên về phía rừng rậm.
Trong tông thất, nàng là một quận chúa, nhưng có lẽ người ngoài đã quên mất, nàng còn là con nhà tướng môn, từ nhỏ đọc hiểu hết binh thư, biết trong ba mươi sáu kế có bao nhiêu kế sách bất luận dùng vào lúc nào cũng đều là diệu kế, ví như thay mận đổi đào, nở hoa trên cây, còn có mượn đao giết người.
Ngựa chạy vào núi sâu, vì con ngựa trắng như tuyết này là do Lê Hưởng biến một con thỏ hoang trong núi mà thành, thế nên vô cùng quen thuộc với đường ở trong núi, càng vào chỗ núi sâu thì chắc chắn càng có nhiều sơn yêu chuyên ăn người tu luyện, cảm nhận được hơi thở của đám đạo nhân, sơn yêu lũ lượt hiện thân chém giết ngang tàng, đích thực như sở nguyện của Thành Ngọc, cản trở bước chân của đám đạo nhân vẫn đuổi riết theo nàng.
Ngựa trắng chở Thành Ngọc chạy một mạch về phía trước, lại theo một đường khác rời khỏi núi, tiếng chém giết của đám yêu vật và đạo sĩ sau lưng ẩn dưới bóng cây lạo xạo, giờ không còn nghe thấy nữa.
Vốn dĩ Thành Ngọc còn có chút lo lắng bàn tính này của nàng có phải quá mức như ý rồi không, bởi vì núi Khởi La là một ngọn núi hoang sơ, có yêu hợp cách, cũng khó tránh có yêu không hợp cách. Nàng vì mượn đao mượn thế mà xông vào núi sâu, kỳ thực cũng là một chuyện khiến tính mệnh của mình gặp nguy hiểm. Nàng nói với Lê Hưởng biện pháp của nàng là con đường sống duy nhất của ba người họ, nhưng thực ra việc này cũng có thể là đường chết của nàng, nàng hiểu rõ, có điều trong lúc nguy cấp, nàng đánh cuộc một trận với ý trời vậy thôi.
Thành Ngọc mười lăm tuổi chính là như vậy, là Ngọc Tiểu công tử trong thành Bình An không sợ trời không sợ đất, trong lòng tự biết mây tụ mây tan, đánh cuộc được, cũng chịu thua được. Nàng cảm thấy đêm nay vận mệnh cá cược của mình cực kỳ tốt đẹp, mà áng chừng cánh hoa của Chu Cẩn trong túi gấm trên ngực nàng cũng còn rất tươi mới, có thể thấy Chu Cẩn không sao rồi.
Khi ngựa trắng mang nàng chạy đến một con đường lớn ở sau núi Khởi La, Thành Ngọc cuối cùng cũng thở phào.
Nhưng mới thở phào được một nửa, bỗng có một đám mãng phu thô lỗ vung đao khua gậy từ trong góc nhảy ra. Chính là sơn tặc dựa núi đánh cướp trên núi An Vân sát bên.
Trùng hợp ở chỗ, mới vừa xuống núi, pháp thuật biến hóa Lê Hưởng dùng trên người Thành Ngọc đã đến thời gian, bởi thế nhìn nàng không phải là bộ dạng của một thanh niên nam tử, mà là một tiểu mỹ nhân đơn độc đang độ tuổi xuân thì.
Kịch sách đều nói, phàm là có giai nhân một mình lạc giữa đường gặp phải cường phỉ, nhất định sẽ bị cướp lên núi làm áp trại phu nhân. Thành Ngọc và Hoa Phi Vụ đã có mấy năm xem thứ kịch này, chuyện này nàng rất hiểu.
Thế gian chỉ có không biết thì mới đáng cho người ta lo sợ. Ngọc Tiểu công tử nàng tự cao mình là người thông tuệ, luôn ngạo nghễ khinh đời, cảm thấy sơn yêu dã đạo nàng còn dùng kế thoát khỏi được, lẽ nào lại sợ đám phàm phu tục tử này sao?
Bởi vậy khi Thành Ngọc bị một gã mãng phu trói tay trói chân, nàng cũng không cảm thấy có gì đáng sợ, trong bụng còn nghĩ, đám sơn phỉ này thực ra đều là sơn phỉ rất biết bổn phận, làm chuyện gì cũng không phá cách, thành thành thật thật chăm chăm chỉ chỉ ngụ trên núi đánh cướp, không cướp tiền thì cướp sắc, rất dễ hiểu, so ra thì tốt hơn rất nhiều cái đám yêu quái yêu đạo động một tí là muốn đem người ta ra ăn hay luyện thuốc, dẫu sao lĩnh vực này nàng cũng tương đối am hiểu.
Đối diện là người bình thường, việc cũng dễ giải quyết, đầu óc của người bình thường có thông minh hơn nàng được không? Khó lắm.
Nhưng cả đêm nàng bị dọa cho khiếp sợ, lúc này đích thực đã hơi mệt rồi, không thể lập tức đấu trí đấu dũng với bọn chúng được. Nàng dự tính trước tiên cứ ổn định tinh thần, nghỉ ngơi một lát. Cơ mà trong lòng nàng vẫn rất cảm khái, cảm thấy đêm nay thật sự đặc sắc quá mà.
Thành Ngọc mười lăm tuổi lúc này chính là loại không biết sợ hãi, tiêu sái, mà tự phụ như thế.
Nhưng hiển nhiên điểm đặc sắc của đêm nay không thể dừng ở chỗ này như vậy.
Đêm nay, đám mãng phu này vì dễ dễ dàng dàng cướp được một mỹ nhân như hoa như ngọc giống như Thành Ngọc về làm áp trại, hết sức đắc ý, bất cẩn phạm phải sai lầm trong chủ nghĩa liều lĩnh. Trên đường đưa Thành Ngọc về núi thì gặp phải một vị thanh niên công tử đi một mình, ngay cả trang phục của thanh niên còn chưa nhìn rõ, đã nháo nhào xông lên chuẩn bị đánh cướp vị công tử đó.
Nhưng bất hạnh thay, vị công tử này, là một công tử có bội kiếm.
Hai tên tiểu lâu la giữ Thành Ngọc ở cuối cùng của đội cướp, bởi thế Thành Ngọc không hề nhìn rõ được gương mặt của thanh niên, chỉ chú ý đến khi thanh niên rút kiếm ra khỏi hông, có ánh sáng nửa xanh nửa biếc phát ra từ trên chuôi kiếm.
Thành Ngọc phỏng đoán, dưới đêm trăng mà có thể phát ra ánh sáng thế này, hẳn phải là bảo thạch có giá trị liên thành, vầng trăng tròn treo ở nửa trời đột nhiên bị mây bay che khuất. Tầm nhìn đột nhiên tối lại một chút, lập tức liền có âm thanh đao kiếm khua động rót vào tai, âm thanh đó hơi chậm.
Thành Ngọc đột ngột mở mắt ra, nương theo bóng tối khi ánh trăng vừa vặn bị che khuất, nhìn thấy thanh niên ở cách đó không xa trở tay cầm kiếm, đột phá trùng trùng vòng vây của tặc phỉ, mà sơn tặc đằng sau y giống như củ cải bị rút ra khỏi bùn, sớm đã ngã lăn. Tất cả dường như chỉ phát sinh trong một phút chốc, chỉ trong một phút chốc khi mây bay che khuất ánh trăng.
Vài tên sơn tặc vốn còn ở sau cùng với hai tên lâu la canh giữ Thành Ngọc bấy giờ mới hoàn hồn, biết được lần này đã đánh cướp phải Tu La, ào ào kêu thảm nhảy vào rừng cây giữ mạng. Thanh niên với tư thế oai nghiêm, yên tĩnh đứng đó, thoạt trông không giống như muốn tiếp tục truy đuổi, ngược lại còn tính rút lại trường kiếm rồi bỏ đi.
Thành Ngọc hoàn toàn quên mất hai tay hai chân nàng vẫn còn bị trói, nếu một mình bị vứt lại nơi này sẽ hết sức nguy hiểm, việc đầu tiên nàng nên làm lúc này hẳn phải là cầu cứu thanh niên mới phải.
Cả người nàng đều bị nhấn chìm trong kinh hãi, trong lúc kinh hãi lại nghe thấy có giọng nói khe khẽ vang lên bên tai: “Cô không nhìn nhầm, từ đầu đến cuối người này chưa từng rút kiếm ra khỏi vỏ, nghe nói các kiếm khách hàng đầu nếu như cảm thấy máu của đối phương không đủ tư cách làm bẩn kiếm trên tay mình thì trong lúc so chiêu tuyệt đối sẽ không rút kiếm, hóa ra hoàn toàn là thật.”
Thành Ngọc đến đây thì mới hoàn hồn, hướng về cây nhung hoa bên cạnh, thấp giọng nói: “Cô đang nói chuyện với tôi à?”
Cây nhung hoa cười nói: “Suỵt, thính lực của cao thủ đều linh mẫn cực kỳ ấy, anh ta không nghe được lời tôi, nhưng có thể nghe thấy giọng cô, ê, người đã qua đây rồi kìa.”
Khi thanh niên đi tới trước mặt Thành Ngọc, vừa lúc trăng sáng thoát khỏi mây bay, dưới ánh trăng óng ánh chói lọi, tất cả cảnh sắc trước mặt đều hiện lên rõ nét.
Thành Ngọc hơi ngẩng đầu, ánh trăng rực rỡ, thanh niên cũng đã hơi cúi đầu, ánh mắt lập tức rơi trên gương mặt dính máu của nàng.
Chính là ở góc độ này, cuối cùng Thành Ngọc cũng nhìn thấy rõ diện mạo của thanh niên, mày thưa mắt sáng, mũi cao môi mỏng, tuấn lãng đẹp đẽ, nhưng trên mặt lại không có biểu cảm, dáng vẻ có chút lạnh lùng xa cách. Nhưng vẻ lạnh lùng đó và vẻ lạnh lùng khi Chu Cẩn không muốn để ý tới người khác thì khác nhau nhiều lắm, vừa xa cách vừa sắc bén, giống như gió bắc thổi qua đạp đổ trăng non, lại giống như ánh tuyết xuyên qua bóng kiếm.
Hồng Ngọc Quận chúa từ nhỏ lớn lên trong lầu Thập Hoa thấy đẹp thành quen, hiện tại khó lòng bị sắc đẹp làm cho mê đắm, bởi vậy nhìn thấy gương mặt của thanh niên và ánh mắt lãnh đạm đó, đừng nói là không hề có suy nghĩ gì, ngược lại càng phải hồi phục tinh thần, nàng còn cần thanh niên cứu.
“Phiền anh giúp tôi cởi sợi dây thừng này đi.” Nàng nâng hai cổ tay trắng muốt bị dây thừng trói lên cho thanh niên thấy, treo thêm nụ cười lanh lợi mà mỗi khi có dịp cầu xin Chu Cẩn nàng mới dùng.
Thanh niên không lập tức ra tay, chỉ nói: “Cô không sợ?”
Nàng hiếu kỳ hỏi ngược lại thanh niên: “Tại sao phải sợ?”
Thanh niên nói: “Có lẽ ta cũng là người xấu.”
Thành Ngọc nghĩ bụng, một người phàm như anh thì có thể xấu đến mức nào. Lúc ấy nàng còn rất đơn thuần, không biết yêu dù có xấu, cũng chẳng qua chỉ ăn người chừa lại xương, dù sao cũng còn để lại cho người ta một sợi hồn phách; mà người nếu xấu, không thể khiến nàng thần hồn tiêu tán, thì cũng muốn nàng sống không được chết không xong; người thực ra lợi hại hơn yêu nhiều.
Nội tâm nàng không cho là phải, nhưng miệng lại nói: “Nếu anh là người xấu, muốn bắt tôi về áp trại, tôi có trốn cũng không thoát, mà tướng mạo anh thế này, tôi cũng không thiệt thòi.” Lúc ấy nàng nói những lời này, chính là bởi vì nàng thực sự nghĩ như vậy nên liền nói như vậy, không hề có ý trêu đùa. Nàng cũng không biết lời này nghe qua rất giống một câu cợt nhã, có hơi lỗ mãng. Thanh niên nhíu mày.
“Quý thế tử sao lại dễ tức giận đến vậy?” Nàng không biết trong lời nói của mình có chỗ nào chọc đến điểm cố kỵ của thanh niên, có phần nghi hoặc.
Thanh niên nhíu mày: “Cô từng gặp ta?”
Hai ngón tay nàng chỉ vào ngọc bội bên hông thanh niên: “Năm Kính Nguyên đầu tiên, khi tân hoàng vừa mới đăng cơ, trong các cống phẩm mà nước Bách Lệ dâng đến có một đôi ngọc bội dùng ngọc Độc Sơn khắc thành, vô cùng bắt mắt, tôi vừa nhìn đã thích thứ ngọc bội ngọc thụ thanh vân đó. Lúc đi đòi Hoàng đế đường ca ban cho, đường ca bảo ngọc tốt phải phối với quân tử. Lệ Xuyên Vương Thế tử là nhân tài cao quý, như cây ngọc trước đình, phối với ngọc bội ngọc thụ thanh vân này thì càng thêm phần rạng rỡ, nên đã đem ngọc bội này thưởng cho Vương thế tử rồi.”
Nàng mím môi cười: “Tôi chưa từng gặp qua thế tử, nhưng đã từng thấy qua ngọc bội của Thế tử. Vật tôi từng thích, cả đời cũng không quên. Tôi và Quý thế tử cũng xem như có duyên từ trước, cho nên Quý thế tử…” Nàng giơ đôi cổ tay trắng nõn ra phía trước dò xét, nhu thuận cười, “Anh giúp tôi cởi sợi dây thừng này nhé.”
Quý thế tử không tỏ thái độ gì, nhìn nàng một hồi lâu: “Cô là vị quận chúa nào?”
Hai tay nàng giơ lên đã rất mỏi rồi: “Hồng Ngọc của lầu Thập Hoa.” Lại tiếp tục đưa hai tay ra trước mặt, “Dây thừng.”
Quý Minh Phong nén giọng nói: “Hồng Ngọc, Thành Ngọc.” Khóe môi lạnh lẽo hơi cong lên, nhưng một khắc ấy Quý thế tử đang cúi người xuống, nên Thành Ngọc không nhìn thấy nụ cười nhàn nhạt lướt qua khóe môi rồi tức thì biến mất đó.
Thành Ngọc đã quen biết Lệ Xuyên Vương thế tử Quý Minh Phong như thế.
Nàng muốn tìm một nơi an toàn để đợi Chu Cẩn đến tìm nàng, bởi thế Quý Minh Phong đã đưa nàng trở về Lệ Xuyên vương phủ.
Đêm ấy, nàng vốn là vì cảnh ‘trăng soi đêm ngọc’ mà cùng Chu Cẩn đến núi Khởi La, nhưng khi đến sườn núi Dạ Bích ngắm được thắng cảnh trăng thanh sáng soi đêm ngọc, người bên cạnh đã đổi thành Quý Minh Phong.
Lúc ấy, y đứng sát trước mặt nàng, ánh trăng chiếu bóng người y lên trên núi Dạ Bích, cực cao cực lớn. Mà trong màn đêm u tĩnh, khối ngọc bội ngọc thụ thanh vân khua động vào nhau khi Quý Minh Phong di động, khẽ vang lên một thứ âm thanh dễ chịu.
Quân tử đeo ngọc bội để tu thân, chính là ý nói dùng tiếng ngọc vang lên để cảnh tỉnh chính mình. Nếu người đeo ngọc bội đi đứng hấp tấp, tiếng ngọc cũng sẽ vội vàng rối loạn, còn nếu đi đứng chậm chạp, tiếng ngọc lại yếu ớt khó nghe.
Thành Ngọc nương ánh trăng để đánh giá Quý Minh Phong, một bên mặt y dưới ánh trăng trông hết sức lạnh lùng.
Nàng nghĩ, một kiếm khách thân thủ thế này, vậy mà lại là một quân tử tu thân tu tâm. Các kiếm khách mà xưa nay nàng từng gặp hiếm có ai tu trọn lễ nghi đến thế, còn những người đọc sách tu trọn lễ nghi nàng từng gặp thì lại không ai có thân thủ như này.
Nàng hết sức kính ngưỡng, nghĩ bụng Hoàng đế đường ca nói quả không sai. Thế tử của Quý vương phủ, đích thực là cây ngọc trước đình.
Thành Ngọc kính ngưỡng Quý Minh Phong, trong lòng tràn ngập ý định muốn kết giao, suốt dọc đường đều suy tư, đến khi Chu Cẩn tìm đến vương phủ, làm sao nàng có thể thuyết phục Chu Cẩn cho mình ở nhờ vương phủ thêm mấy ngày.
Không ngờ là, bén rễ ở vương phủ được hai ngày, cũng không thấy Chu Cẩn đến đây hội họp. Ngày thứ ba chỉ có một phong thư đưa đến, là bút tích của Lê Hưởng.
Đại ý nói Chu Cẩn lần này bị thương, động đến bệnh cũ, tuy rằng không phải nghiêm trọng lắm, nhưng cần phải tận tâm điều dưỡng, quanh vùng Lệ Xuyên lại không có linh khí tụ hội thích hợp để Chu Cẩn dưỡng thương, cô phải đi theo Chu Cẩn đến núi tuyết Ngọc Hồ một chuyến, mà Quận chúa là phàm thân nhục thể, không thể chịu được hành trình cấp bách vừa gian lao vừa vất vả nhường này, thế nên xin Quận chúa tạm ở lại Lệ Xuyên Vương phủ nửa năm, đợi Chu Cẩn hoàn toàn khỏe mạnh rồi hai người sẽ đến đón nàng, vân vân.
Đọc thư xong, Thành Ngọc sờ sờ cánh hoa của Chu Cẩn ở trước ngực. Cánh hoa còn đẹp, chắc chắn Chu Cẩn không có chuyện gì. Nàng suy tư một lát, Chu Cẩn là một hoa yêu, bất luận là đi đâu, nếu thật lòng muốn mang theo nàng, lẽ nào còn không có biện pháp? Quá nửa là trên đường đi nàng đã quá phiền đến y, thế nên Chu Cẩn mới cố ý vứt nàng ở nơi này.
Nàng ngẩn ngơ một lúc, sau đó liền mừng muốn nhảy cẩng lên.
Tự do, thật sự đến quá đột ngột rồi; Kinh hỉ, thật sự đến quá đột ngột rồi. Đến đây đi, thỏa sức đi!
Như Thành Ngọc dự liệu, Chu Cẩn đích thực là cố ý vứt nàng ở lại vương phủ, nhưng không phải vì lý do nàng chọc y tức đến lộn ruột lộn gan.
Kỳ thực, ngày tiếp theo sau khi thoát hiểm, Chu Cẩn đã tìm đến vương phủ rồi. Chu Cẩn ẩn thân ở chỗ cách Thành Ngọc mấy bước, thấy nàng ăn nói mềm mỏng nhỏ nhẹ, đi đứng khoan thai chậm rãi. Không có y và Lê Hưởng bầu bạn, dung túng, nàng trở nên ổn trọng hơn rất nhiều. Chu Cẩn vui vẻ có thừa, cảm thấy đây là một cơ hội tốt, để Thành Ngọc một mình ở lại vương phủ nói không chừng nàng có thể hiểu chuyện ra.
Nhưng đây đúng là một sự hiểu lầm. Thành Ngọc điềm đạm nho nhã như vậy, không phải vì không có Chu Cẩn và Lê Hưởng ở bên, mà chỉ đơn thuần vì nàng muốn kết giao với Quý thế tử Quý Minh Phong.
Trên đường nàng theo Quý thế tử về, Thế tử đã diễn bốn chữ ‘kiệm lời ít nói’ đến trình độ cực cao, mặc cho nàng giỏi ăn khéo nói thế nào, cũng khó lòng cậy được miệng của Thế tử, khiến y nhả ra được mấy từ. Nhưng trở về đến Lệ Xuyên Vương phủ, nàng thấy trong phủ của bọn họ có một cô nương tên Tần Tố Mi vậy mà có thể nói được nhiều câu với Thế tử, mà Tần cô nương ấy lại có phong cách của một thục nữ mẫu mực.
Nàng liền tỉnh ngộ, hóa ra Quý thế tử mà gặp các cô nương văn tĩnh thì sẽ kiên nhẫn hơn một chút.
Lúc ấy nàng không hề có tâm tư đa sầu đa cảm như các cô nương cùng tuổi, sẽ nghĩ nếu nàng giả vờ văn tĩnh, thực tế chính là đang che giấu bản tính thật sự của mình, cho dù Quý thế tử cuối cùng có tán thưởng nàng, nhưng cũng không phải tán thưởng con người thực sự của nàng thế này thế nọ. Nàng chỉ cảm thấy bản thân mình thật sự có thể lên trời, chuyện gì cũng có thể làm được, tính cách thế nào nàng cũng có thể khống chế, hơn nữa còn khống chế cực giỏi. Nàng cảm thấy bản thân mình như thế nào cũng đều là nàng cả.
Tuy rằng lấy danh nghĩa gặp chuyện bất trắc một thân một mình để ở lại Lệ Xuyên Vương phủ, nhưng Thành Ngọc thích ứng rất nhanh, không quen thời tiết cũng chỉ vài ngày. Người ta nói, lúc sinh bệnh dễ nhất là có cảm giác đau buồn nhớ cố hương, nàng chẳng hề có cái bệnh nho nhã đó, trong lúc bệnh nàng còn cực kỳ hoạt bát nữa là.
Quý thế tử ngày nào cũng đến thăm nàng, niệm tình nàng là một người bệnh, lúc nàng cố tình gợi chuyện y cũng mặc kệ nàng. Tuy rằng vẫn là phong cách tiếc chữ như vàng, nhưng tốt xấu gì cũng sẽ nói với nàng một hai câu.
Thành Ngọc tổng kết, trên dưới vương phủ, Thế tử có thể nói chút chuyện vụn vặt với hai vị cô nương, một người là Tần cô nương tính cách dịu dàng, người còn lại, chính là người bệnh nàng đây. Lúc bình thường, ngay cả gặp mặt Thế tử còn khó, càng đừng nói chi đến việc nói chuyện với y. Nàng lập tức ngộ ra cái chuyện ‘sinh bệnh’ này quan trọng với bản thân thế nào, bệnh hết rồi mà vẫn kiên cường nằm trên giường thêm mấy ngày nữa.
Nhưng không quen thời tiết thì có thể nằm trên giường mất bao lâu? Chưa đến mấy ngày thì cái chuyện giả bệnh này đã không tiếp tục được nữa.
Khi nàng còn cân nhắc xem có còn biện pháp nào tốt có thể giúp nàng thân cận với Quý thế tử không, Quý thế tử đã đưa Tinh Linh đến viện Xuân Hồi mà nàng đang ở tạm. Nói rằng trong vương phủ cũng không phải tuyệt đối an toàn, thế nên mới chọn cho nàng một hộ vệ, biết văn giỏi võ, vừa có thể làm bạn với nàng, vừa có thể bảo vệ nàng chu đáo.
Lúc ấy đang là cuối tháng thứ hai mùa xuân, trời xuân còn lạnh, trong viện Xuân Hồi có mai gầy hạc chiếc, nàng ôm lấy chiếc áo khoác lông chồn, ánh mắt lấp lánh nhìn Quý Minh Phong, còn Tinh Linh chỉ có một thân áo mỏng, trên tay còn cầm theo một cái ống tẩu bằng trúc tím, trang phục đó thực ra có phần quái dị.
Lúc đó nàng vẫn chưa hoàn toàn chú ý đến Tinh Linh, Quý thế tử vừa mới nhắc đến hộ vệ, khiến nàng bỗng nhiên tỉnh ngộ.
Hai mắt nàng cong lên, hướng về Quý Minh Phong: “Thế tử ca ca chu đáo, mời một hộ vệ tỷ tỷ đến đây bảo vệ em chu toàn. Có điều gần đây em nghĩ, lúc bước ra khỏi cửa dù sao cũng cần có chút công phu quyền cước hộ thân mới tốt, đêm mười lăm đó Thế tử ca ca sử dụng ba tấc kiếm thanh phong thật xuất thần nhập hóa, khiến người ta mê mẩn.”
Nàng mím môi: “Đương nhiên, em cũng không dám trông mong có ngày có thể luyện thành kiếm thuật giống như Thế tử ca ca, bởi thế cũng không vọng tưởng được chỉ điểm sâu xa gì,” Nàng cười tít mắt, “Em chỉ cảm thấy khi Thế tử ca ca luyện kiếm, có thể tiện tay chỉ bảo em vài chiêu cơ bản cũng là tốt lắm rồi, vậy ngày mai khi Thế tử ca ca luyện kiếm, em đến tìm anh nhé!”
Đúng vậy, không đến mười ngày, nàng đã đổi xưng hô với Quý Minh Phong từ Quý thế tử thành Thế tử, rồi lại từ Thế tử đổi sang Thế tử ca ca. Nàng còn có nhiều tính toán, bởi vậy khi xin Quý Minh Phong dạy kiếm thuật cho nàng, không dùng mấy câu như ‘Thế tử ca ca có thể dạy em mấy chiêu kiếm thuật phòng thân được không’, mà trực tiếp xem chuyện này như chuyện đã định, khẳng định ngày mai sẽ đến tìm Quý Minh Phong.
Nàng hồn nhiên nhìn Quý Minh Phong.
Quý thế tử lạnh như băng không mắc bẫy của nàng: “Kiếm thuật của Tinh Linh chỉ đứng sau ta, nếu cô muốn học thì bảo Tinh Linh ngày mai bắt đầu dạy cho, đừng đến tìm ta.”
Thành Ngọc ngấm ngầm thở dài, nghĩ câu trả lời này đúng là câu trả lời mà Quý thế tử sẽ nói. Nàng vừa cảm thấy Quý Minh Phong thực sự khó đối phó, vừa cảm thấy cao nhân có thể đều tương đối khó đối phó như vậy. Nhưng cũng vô phương, Tiểu Lý đại phu và Tề Đại tiểu thư lúc đầu cũng không dễ đối phó lắm, nhưng về sau đều trở thành bạn tâm giao với nàng. Ngày sau còn dài.
Nàng nhu thuận gật đầu: “Vậy nếu Thế tử ca ca không rảnh, cứ để Tinh Linh dạy em vậy.” Nàng còn chừa lại cho bản thân mình một đường lui, bổ sung thêm một câu: “Ảnh vệ của Thế tử ca ca, kiếm thuật đương nhiên không cần nói, nhất định có thể dạy em đàng hoàng.”
Ánh mắt Quý thế tử nhìn nàng thêm phần quái lạ: “Vừa rồi ta có nói Tinh Linh là ảnh vệ của ta?”
Thành Ngọc gật đầu: “Có.”
“Ta không có nói.” Quý thế tử bình tĩnh phủ nhận.
Thành Ngọc hoài nghi nhìn Quý Minh Phong, lẩm bẩm: “Là Thế tử ca ca vừa rồi chính miệng nói ra mà.”
“Vậy sao? Ta đã nói thế nào?”
Thành Ngọc nhíu mày: “Chẳng phải Thế tử ca ca nói Tinh Linh tỷ tỷ là một hộ vệ, biết văn giỏi võ, kiếm thuật cao minh. Hơn nữa chỉ đứng sau anh?”
Tinh Linh vẫn luôn đứng im lặng một bên như bức tượng điêu khắc cuối cùng cũng cất lời: “Chỉ dựa vào hai câu nói, làm sao thấy được tôi chính là ảnh vệ của Thế tử chứ?”
Này có gì hay mà hỏi?
Thành Ngọc tuy rằng chưa từng ‘bái nghiêm sư thụ cao huấn’, nhưng nàng lớn lên trong lầu Thập Hoa, có Mẫu Đơn Đế Vương Diêu Hoàng sinh ra vì thế gian quốc vận ở sát bên phòng nàng. Trong lầu Thập Hoa, Chu Cẩn ngoại trừ mỗi ngày theo lệ đến giáo huấn trấn áp nàng, chỉ đặc biệt cùng với Diêu Hoàng khui rượu, bình thơ, đánh cờ, bàn chuyện quốc vận thế gian.
Lúc nàng chép bài tập thì bọn họ ở phòng bên bàn luận chuyện Bắc Vệ thế này thế nọ. Lúc nàng thêu hài gấm thì bọn họ ở phòng bên bàn luận Ô Na Tố thế nọ thế kia. Lúc nàng mô phỏng trận đá cầu thì bọn họ ở phòng bên bàn luận man tộc Tây Nam thế kia thế kìa. Mỗi ngày đều chìm trong đó nên mưa dầm thấm đất, cho dù nàng có bị kém trí thì cũng có thể hiểu được ba phần thế cuộc thiên hạ, càng đừng nói chi nàng không phải kẻ kém trí.
Biên cảnh tây nam mà Quý thế tử tọa trấn lúc này có tình trạng thế nào, không nói mười phần, nhưng tám phần hiểu biết thì nàng có.
Đất tây nam man tộc gần Lệ Xuyên phủ này có mười sáu bộ tộc man di. Từ lúc Đại Hi mới khai triều, Thái tổ hoàng đế luận công ban thưởng, phong Bách Thắng Tướng quân Quý Uy làm vương, ban cho Lệ Xuyên phủ, tọa trấn Hạm Thành, giao cho trọng trách bình định mười sáu bộ tộc man di.
Từ thời của Thái Tổ Hoàng Đế đến nay, Quý Uy đã có tổng cộng mười ba đời con cháu tiếp nối Lệ Xuyên Vương, thu phục được mười ba bộ tộc man di, chỉ còn mỗi nước Nam Nhiễm có thế lực mạnh nhất là khúc xương khó cắn nuốt được.
Nam Nhiễm xưa nay vẫn có quan hệ thông gia với hai bộ tộc man di là Tham Nghiệp và Hoắc Đồ cư ngụ ở ngọn núi Cửu Môn địa thế hiểm trở, chắn ngang con đường duy nhất đi về hướng nam thông đến nước Mông Nhật sản xuất rất nhiều hương liệu, hơn nữa còn thường xuyên quấy rối mười ba bộ khác, luôn là mối họa cần phải diệt trừ trong lòng các đời Lệ Xuyên vương.
Lệ Xuyên vương và Vương thế tử đời này muốn kiến công đầu thì phải thu phục được Nam Nhiễm, nhất thống mười sáu tộc man di.
Chu Cẩn làm việc cẩn trọng, trước khi đến Lệ Xuyên đã giảng đủ bài học, trong số đó đương nhiên cũng có cả Lệ Xuyên vương phủ. Nói rằng nước Nam Nhiễm nhiều núi nhiều sông, rừng lạ sông hiếm, lại thêm người Nam Nhiễm giỏi về dùng vu thuật cổ độc. Lệ Xuyên Vương phủ vì muốn công phá Nam Nhiễm, mười lăm năm trước đã bắt đầu bồi dưỡng ảnh vệ, dùng các loại bí pháp dạy dỗ giáo huấn, cuối cùng cũng nuôi được một nhóm lương tài, giúp Vương phủ thăm dò các giai thoại bí mật của Nam Nhiễm và mười lăm bộ tộc khác. Chu Cẩn còn nhắc nhở một câu, nói mười tám ảnh vệ hiện tại dưới trướng Vương thế tử, thay vì gọi là ảnh vệ, chi bằng gọi là kiệt tác nghệ thuật do Lệ Xuyên vương dốc lòng bồi đắp hay hơn, ngay cả trong cung cũng khó lòng tìm được các lương tài như vậy.
Tóm lại, đáp án cho vấn đề này không phải đã rõ ràng hiển nhiên sao, Tinh Linh hỏi “Sao nhìn ra được?” Thành Ngọc cảm thấy cái này đơn giản chính là cho không đáp án, miễn không mù thì có thể nhìn ra.
“Thế tử ca ca nói Tinh Linh tỷ tỷ là một hộ vệ, hơn nữa còn biết văn giỏi võ, kiếm thuật cao minh,” Nàng trả lời, “Vậy một cô nương nhu nhược mỹ lệ, trong ngày xuân lạnh lẽo thế này mà vẫn có thể một thân áo mỏng, không chút động tĩnh đứng ở đây rất lâu, hộ vệ bình thường trong cung cũng không làm được vậy, Tinh Linh tỷ tỷ đương nhiên không thể chỉ là một hộ vệ bình thường.”
Lòng nàng tự có tính toán, hộ vệ không bình thường trong Vương phủ, đương nhiên chính là ảnh vệ rồi. Ảnh vệ ưu tú nhất đều nằm dưới trướng của Quý Minh Phong, nếu như Tinh Linh thật sự lợi hại như Quý thế tử đã nói, vậy nhất định chính là ảnh vệ của y rồi.
Quý Minh Phong và Tinh Linh đều không nói gì. Thành Ngọc nhìn hai người, hồ nghi nhíu mày: “Lẽ nào đã đoán sai?” Vừa nghĩ, cũng có khả năng Tinh Linh là kỳ nhân dị sĩ nào đó cũng nên. Đoán sai thì đoán sai, nàng cũng không để ý lắm, hết sức tùy tiện nhún vai: “Đoán bừa thôi.”
Gương mặt lạnh như băng của Quý thế tử không có bất cứ biểu cảm nào, nhưng ánh mắt dừng trên gương mặt nàng rất lâu, sau đó xoay đầu nói với Tinh Linh: “Giao Quận chúa lại cho cô, từ nay về sau nên làm thế nào, hẳn là không cần ta nói chứ.”
Tinh Linh không hề có thứ lễ nghi tuân lệnh theo tôn ti trật tự đối với chủ thượng như các hộ vệ thông thường mà Thành Ngọc từng thấy mà lập tức quỳ xuống tỏ rõ trung thành với Quý Minh Phong. Tinh Linh chỉ cười trong trẻo, dùng giọng nhu hòa nói: “Từ nay về sau Quận chúa nếu có nguy nan gì, Tinh Linh dù chết cũng sẽ bảo vệ chu toàn cho Quận chúa.”
Bởi vì Thành Ngọc sống trong lầu Thập Hoa rất hiếm khi nghe thấy các loại ngôn từ chết hay không chết, ngẫu nhiên nghe thấy có người lấy chết xin thề thế này, khó tránh cảm thấy kinh động. Nhưng thứ kinh động lúc ấy, cũng chẳng qua chỉ nảy lên trong lòng nàng một lúc rồi thôi, chưa từng khiến nàng bận tâm nhiều.
Một câu nói này của Tinh Linh dường như khiến Quý Minh Phong hài lòng, y gật đầu, lại nhìn Thành Ngọc, nhưng không nói thêm gì, xoay người bước đi.
Thành Ngọc nhìn theo bóng lưng của Quý Minh Phong, rầu rĩ thở dài. Mãi đến khi bóng lưng của Quý Minh Phong xuyên qua cửa viện không còn thấy được nữa, mới thu hồi tầm mắt, dời lực chú ý sang người Tinh Linh sắp tới đây sẽ bầu bạn với nàng.
Tinh Linh vẫn cười cười nhìn nàng. Thành Ngọc lúc này mới phát hiện cô gái này lúc cười cũng vô cùng xinh đẹp, chỉ là một con mắt của cô ấy mang theo sóng nước dồn dập óng ánh động lòng người, còn con mắt còn lại giống như mặt gương trống rỗng mờ mịt không có gì trong đó. Trên cái ống tẩu bằng trúc tím trên tay cô có quấn một cái tua ngọc màu mật ong, ngọc đó vừa nhìn đã biết là vật cổ.
Không đợi nàng lên tiếng, Tinh Linh đã mở lời: “Diệu toán vừa rồi của Quận chúa, thật khiến tôi nhìn các tiểu thư quý tộc bằng ánh mắt khác xưa, đã có hơi tin lời bình luận Thế tử dành cho Quận chúa rồi.”
Thành Ngọc bắt được trọng điểm: “Ồ? Em đoán đúng rồi.”
Tinh Linh cười dịu dàng: “Nhưng tôi có chút hiếu kỳ, không biết Quận chúa có tính ra được, trong vương phủ có nhiều người tài như vậy, tại sao Thế tử lại đặc biệt phái tôi đến đây hầu hạ Quận chúa không?” Lúc nói lời này, Tinh Linh hơi cúi đầu xuống, ngón tay dài mảnh tái nhợt có như cố tình lại như vô tình đùa nghịch viên ngọc trắng trên thân tẩu, cánh môi nhếch lên thành một nụ cười nhàn nhạt. Dáng vẻ sống động, bộ dạng phong lưu, phảng phất như một bức tượng ngọc đột nhiên thức tỉnh trong tiết xuân se lạnh.
Thành Ngọc nhìn Tinh Linh, cảm thấy trong vương phủ này đâu đâu cũng là nhân vật ưu tú. Nàng cười lắc đầu: “Việc này em thật sự không biết, xin tỷ tỷ nói cho hay.”
Tinh Linh càng sâu xa cười một cái: “Thế tử nói Quận chúa là một người ‘tỏ tường trăm sự’ nhỏ, người trong vương phủ có thể nói chuyện được với Quận chúa, ước chừng chỉ có mỗi người ‘tỏ tường trăm sự’ lớn là tôi. Tôi đến làm bạn với Quận chúa, Quận chúa mới không thấy buồn.”
Tinh Linh đứng ở nơi này chân thành như thế, dáng người nhẹ như mây bay, giọng nói ấm như gió nhẹ, khiến người ta kinh động, hơn nữa còn muốn thân cận.
Đây chính là lần đầu tiên Thành Ngọc gặp được Tinh Linh.
Năm đó Tinh Linh hai mươi bảy tuổi.
Thành Ngọc sau này mới biết, Tinh Linh từng là ảnh vệ ưu tú nhất trong số mười tám ảnh vệ của Quý Minh Phong, bởi vì trong lúc làm nhiệm vụ bị thương đến một con mắt, sau đó không đảm nhiệm được chức trách trước đây nữa, Quý Minh Phong mới sai cô đến làm hộ vệ cho nàng.
Sau khi Tinh Linh mất, Thành Ngọc thường nhớ lại lần đầu gặp mặt này, nàng đích thực đã thích Tinh Linh ngay từ lần đầu gặp mặt.
Lúc ấy khi nàng ở Lệ Xuyên Vương phủ, thích nhất chính là Quý Minh Phong, thích nhì, chính là Tinh Linh được Quý Minh Phong phái đến bên cạnh nàng.
———-
7 chém:
(1) Cho Quý thế tử chúng ta một phiếu nào. Quý thế tử của chúng ta ngoại trừ hơi lạnh ra, thực tế không có kém anh 3 của các người đâu, các người thử yêu thương anh ta chút xem. Thiết lập của anh ta thực sự là thiết lập của nam chính đó, chỉ đáng tiếc là gặp trúng anh 3 của mấy người thôi. Quả thực là, trời đã sinh Du sao còn sinh Lượng.
(2)
Liên Tam lạnh lùng cười: Vừa mới biết hắn đã vắt cạn cả óc tìm cách thân cận, giao hảo, sao không thấy em đối với tôi như vậy nhỉ?
Thành Ngọc hùng hồn nói: Bởi vì lúc mới gặp Quý thế tử, anh ta đã hiển lộ phong phạm của cao nhân trước mặt em, kiếm thuật cực kỳ lợi hại! Còn Liên Tam ca ca, chỉ được mỗi cái tướng mạo quá đẹp mà thôi, ngoài ra không có gì đặc biệt.
Liên Tam: …
Thành Ngọc: Liên Tam ca ca bị sao thế?
Liên Tam: Không được nói chuyện với tôi nữa, tôi tức đến hàm hồ luôn rồi.
——————————————
[1] Nguyên văn là “Thiên phong ủng thúy sắc” : có-khả-năng bắt nguồn từ câu “Cửu thu phong lộ Việt Diêu khai, đoạt đắc thiên phong thúy sắc lai” của Lục Quy Mông, dùng để ca ngợi sắc xanh của sứ men xanh ở Việt Diêu. Đây là loại sứ có màu xanh biếc như núi, bóng loáng không vẩn đục, ánh lên sắc xanh.
[2] Nguyên văn ‘Phi hưởng lạc nhân gian’, là một câu trong bài Khai tiên từ của Lý Mộng Dương triều Minh. Cả bài gồm bốn câu như sau: “Bộc bố bán thiên thượng, phi hưởng lạc nhân gian. Mạc ngôn thử đàm tiểu, diêu động khuông lư sơn’. Trong đó ‘Phi hưởng lạc nhân gian’ là chỉ tiếng thác nước đổ xuống.
[3] Nguyên văn là ‘Tham soa thập vạn gia’, xuất xứ từ bài thơ Vọng Hải Triều của Liễu Vĩnh. Nguyên văn, dịch nghĩa, dịch thơ có thể xem ở Thi viện: https://www.thivien.net/Li%E1%BB%85u-V%C4%A9nh/V%E1%BB%8Dng-h%E1%BA%A3i-tri%E1%BB%81u/poem-bY1Tse_7XsbqcmdDHw47Ug
[4] Đêm ngọc trong câu này là “Dạ Bích”. Ở đây có hai cách hiểu, một cách hiểu trực diện là trăng sáng chiếu lên sườn núi Dạ Bích, còn cách hiểu thứ hai là ví cảnh trăng chiếu lên sườn núi khiến núi tỏa sáng như ngọc, cũng có thể vì nguyên nhân này mà núi đó được đặt tên là Dạ Bích. Chuyện này tui cũng không chắc chắn lắm. Nhưng khi chuyển ngữ thì tui chọn cách hiểu thứ hai vì trăng chiếu lên núi mà không có gì đặc biệt thì không thành thắng cảnh.

Trong lúc chờ Tĩnh dịch nốt tập cuối, vào đây xem lại cho đỡ nhớ Hồng Ngọc Quận Chúa ^^
Đế Chiêu Hy thì mình không thích lắm, nhưng Quý Minh Phong quả thực không đến nỗi nhỉ 🙂 Nếu Quý Thế Tử được cô Thất “độ” cho thêm xíu hào quang nam 8, thì không chừng cũng có fan hâm mộ ah. Này cũng không biết tốt hay không, nhưng từ Đào Hoa qua Chẩm rồi cả Bộ Sinh Liên, không có nam 8 nữ 8 nào lấy được thiện cảm của mình ah. Chục năm qua đi quả thực suy nghĩ cũng thay đổi nhiều, cảm thấy không nhất thiết hễ là người không được yêu thì phải đi xé couple 🤣
Hihi lâu lâu mình cũng đọc lại phần phàm thế trong lúc thiếu đường :)))).
Thực ra thì Quý thế tử cũm được nếu như bớt ích kỷ một chút ó :)))). hình tượng Quý Minh Phong vốn là hình tượng nam chính trong đa số ngôn tình á chứ, tài giỏi bản lĩnh, ngoài cứng trong mềm, gánh trên vai trách nhiệm cũng hoàn thành sứ mệnh bằng mọi giá. Tinh thần trách nhiệm cao. Đã dị còn vật vã giữa tình yêu và sứ mệnh. Tình tiết kiểu này hồi 10 năm trước mình mê chết luôn. Phải Quý Minh Phong tới đây thôi là đủ làm nam chính rồi :)))
Cơ mà tiếc cho Quý thế tử là anh là nam phụ, nên Đường Thất bồi cho anh 1 cú làm chị em không thể chấp nhận nỗi là đổ hết sự bất mãn của mình lên người khác mà cụ thể là Thành Ngọc. Kiểu đàn ông cứ làm không được việc, gặp chuyện bất mãn lại đổ lên đầu người phụ nữ của mình, vừa ích kỷ vừa thiếu bao dung. Gặp tui đã chạy 180 cây số haha. Bởi dị mình mê anh 3 chứ hông mê Quý Minh Phong hihi