TĂNG QUỐC PHIÊN GIA THƯ
PHẦN KHUYẾN HỌC – 5: Chỉ có đọc sách mới có thể thay đổi khí chất
Dịch (láo): A Tĩnh
—
Lời răn gửi Kỷ Trạch, Kỷ Hồng nhi:
Hôm nay đặc biệt sai người gửi thư về nhà, vừa mới lên đường; lại nhận được thư ngày 10 tháng 4 do Vương Huy Tứ gửi đến (thư của con và chú Trừng mỗi người một bức), đã tường mọi lẽ.
Chữ gần đây con viết lúc nào cũng toát ra cái vẻ bạc nhược, lực bút không vững chãi, nét mực không tròn đầy, giống hệt cái thể trạng xưa nay vẫn yếu ớt của con. Nên dùng giấy dầu phỏng theo “Quách gia miếu” với thể chữ nhan, “Bia Lâm Lang” và “Tháp Huyền Bí” thể chữ liễu, xem như thuốc trị bệnh này. Ngày ngày lưu ý, chuyên tâm dốc sức vào hai chữ “hậu trọng”. Bằng không chất chữ quá mỏng, tức thể chất cũng vì thế mà càng mỏng hơn.
Khí chất của con người vốn là bẩm sinh, khó lòng thay đổi, duy chỉ có đọc sách là có thể thay đổi được khí chất. Những người tinh thông phép xem tướng cổ xưa đều nói đọc sách có thể thay đổi được cốt tướng. Nếu muốn tìm cách thay đổi cốt tướng, ắt trước tiên phải có ý chí kiên định. Cứ lấy cuộc đời cha mà nói, trước năm ba mươi tuổi thích nhất là hút thuốc, chẳng lúc nào rời tay, đến ngày 21 tháng 11 năm Nhâm Dần Đạo Quang mới lập chí bỏ thuốc, đến nay không động đến nữa. Trước năm 46 tuổi làm gì cũng không bền bỉ, từ năm năm gần đây mới gắng sức mà bỏ thói xấu này, bây giờ chuyện lớn chuyện nhỏ gì cũng làm cho đến cùng. Từ hai chuyện này cho thấy, chẳng có gì là không thay đổi được.
Về hai chữ “hậu trọng” cho con, lập chí ắt sẽ được. Cổ nhân nói kim đan hoán cốt, cha cho rằng lập chí cũng giống như đan dược vậy. Bốn phong thư của chú Mãn sơ ý quên gửi nên đặc biệt nhờ dịch trạm gửi bù.
Dặn thế, Địch Sinh dạy rõ.
Ngày 24 tháng 4 Đồng Trị nguyên niên.
Bình giải:
Tăng Quốc Phiên cho rằng đọc sách có thể thay đổi khí chất của một con người. Ông bảo, khí chất của người là do bẩm sinh mà có, vốn là khó thay đổi được, chỉ có đọc sách mới có thể thay đổi được khí chất của một người mà thôi. Cổ nhân cũng từng nói một câu cực kỳ thấu đáo: Người đượm mùi sách, mặt ắt long lanh. Ý là, người đọc sách đến mức am hiểu sâu sắc thì dung mạo tự nhiên sẽ trong veo, sáng láng.
Cả đời Tăng Quốc Phiên lấy Nho gia làm gốc, áp thêm vào tư tưởng của bách gia. Ý tưởng của mỗi nhà gần như ông đều có cơ hội trải nghiệm trong một giai đoạn nào đó trong đời. Nhưng, tình thế thay đổi, hoàn cảnh và địa vị cũng đổi theo, Tăng Quốc Phiên không ngừng hoàn thiện chính mình, học thuyết của mỗi nhà đều được thể hiện ra các mức độ mạnh yếu khác nhau và có điểm riêng biệt trong tư tưởng của Tăng Quốc Phiên, điều này phản ánh Tăng Quốc Phiên giỏi về vận dụng thuật “quyền biến” mà các trường phái tư tưởng đã nói.
Tăng Quốc Phiên những năm đầu ở kinh thành rất sùng tín Nho gia; khi quản lý Tương quân, trấn áp Thái Bình Thiên Quốc, ông sử dụng Pháp gia; về sau khi công thành danh toại thì chuyển qua Đạo gia của Lão Trang. Tăng Quốc Phiên có nền tảng Nho học vững chắc là vào thời kỳ ông đang làm quan ở kinh thành. Sau khi sử dụng học thuyết của Trình Chu như một bước đệm mở ra cánh cửa lớn bước vào quan trường, ông không bỏ nó sang một bên mà bắt đầu nghiên cứu sâu hơn.
Trong môi trường mới, ông được các bậc tôn sư về triết lý như Đường Giám, Nụy Nhân chỉ điểm, đăng đường nhập thất, làm cho tố chất triết học trong mình bước lên một cảnh giới mới. Kiểu tu dưỡng thân tâm của Nho gia là một loại trình độ “nội thánh”, thông qua bản lĩnh “nội thánh” khắc kỷ, cuối cùng đạt được mục đích trị quốc bình thiên hạ. Ông còn phát huy cái đạo “ngoại vương” của Nho gia, chủ trương ứng dụng những gì đã học vào thực tế. Về Nho học, Tăng Quốc Phiên đặc biệt nghiên cứu sâu về triết lý Trình Chu [1], đây là đặc điểm tư tưởng quan trọng nhất của ông trong thời kỳ này, mà bộ lý luận và cách vận dụng này đã xâu chuỗi cả cuộc đời ông.
Thái Bình Thiên Quốc nổi dậy, Tăng Quốc Phiên nhận lệnh lúc lâm nguy, tổ chức Tương quân trấn áp khởi nghĩa nông dân. Thời kỳ này đặc biệt làm sáng tỏ tư tưởng sùng bái chủ trương nghiêm hình chấp pháp của ông với Pháp gia. Ông cho rằng cần phải “thuần túy sử dụng hình phạt nghiêm khắc”, cho rằng nếu không dùng thủ đoạn nóng như lửa đốt thì không thể trị được. Tư tưởng Lão Trang của ông, được biểu lộ trước sau nhất quán. Ông thường bày tỏ rằng ở nơi danh lợi ắt phải nhường bước. Khi kết cục thất bại của Thái Bình Thiên Quốc đã là điều chắc chắn, hoạt động quân sự của Tương quân sắp đại công cáo thành, tư tưởng này càng trở nên mãnh liệt hơn, cảm giác nguy cơ về “thỏ chết chó săn bị nấu” thường quanh quẩn trong đầu ông. Ông viết thư cho em mình, bảo rằng từ xưa đến nay, người quyền cao chức trọng chẳng mấy ai có được kết cục tốt, phải từ chối bớt mấy phần quyền thế mới có thể đảm bảo được hậu vận, sau khi đánh hạ Thiên Kinh, Tăng Quốc Phiên liền lập tức cho giải tán Tương quân, toan lùi về sau khi đã thành công, để loại bỏ ngờ vực của chính phủ nhà Thanh.
Có thể thấy đọc sách giúp Tăng Quốc Phiên “ba lần chuyển mình”, thậm chí là “nhiều lần chuyển mình” trong suốt cả cuộc đời. Trong mắt ông, chỉ cần có thể ngày nào cũng tiến bộ thêm điều gì đó mới, gắng sức trăm lần thì không sợ không thể thay đổi được khí chất, vượt trên người thường, đạt đến cảnh giới của thánh nhân.
—
A Tĩnh:
Đọc sách có thể thay đổi được khí chất thì tôi nghĩ là đúng đấy. Những thứ ta đọc sẽ góp phần thay đổi tư tưởng, thái độ và hành vi của ta, từ đó đổi luôn cả khí chất. Nó không mạnh bạo, nhanh chóng mà ngấm ngầm, nhẹ nhàng, từ tốn. Đến khi ta nhận ra sự thay đổi của bản thân mà nhìn lại thì chẳng biết, thời gian đã trôi qua bao lâu rồi. Nhưng có một lợi ích nữa của việc đọc nhiều sách đã được Tăng Quốc Phiên giới thiệu trong lá thư này chính là khả năng “quyền biến”, đọc sách góp phần giúp tăng thêm nhận thức về những hoàn cảnh khác nhau trong cuộc sống để từ đó có được thái độ và hành vi thích hợp. Tăng Quốc Phiên không cố định bản thân phải sống theo phong cách hay phương châm nào (ngoài việc luôn đề cao phải tài bồi học vấn và đạo đức) mà tùy hoàn cảnh ông sẽ chọn lựa những cách khác nhau để đối đãi với sự việc và con người, đây mới là nhân tố, mà tôi cho rằng, giúp ổng thành công và yên ổn qua nhiều bước ngoặt thời đại.
—
[1] Tức Tân Nho giáo. Sau khi Nho giáo suy yếu, đến thời Bắc Tống thì được phục hưng. Sáng lập bởi Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Trương Tái; sau được kế tục bởi Trình Hạo, Trình Di; cuối cùng được Chu Hi thời Nam Tống tập hợp và hệ thống một cách hoàn chỉnh.
