TĂNG QUỐC PHIÊN GIA THƯ – PHẦN TU THÂN – 3

By

·

15–22 phút

Dịch (láo): A Tĩnh

LÁ THƯ THỨ 3: NGẠO MẠN PHẢI THIỆT THÒI, KHIÊM TỐN LỢI LẮM THAY

Hai em Nguyên, Quý [1] thân mến:

Lá thư khiển trách của anh lần trước đã khiến em Nguyên buồn lòng lại thêm tự trách, e mình gây ra tai họa, thế nên quyết tâm đi trên con đường nói năng thận trọng, hành xử chín chắn. Có thể làm vậy là phần phước cả đời của em, cũng là phúc đức của nhà ta vậy! Em Quý ngôn hành cử chỉ đều nho nhã, hơn hẳn hình tượng kiêu ngạo chây ì xưa kia.

Ngày 2 tháng 11 năm Đạo Quang thứ 19, anh vào cung nhậm chức. Ngày 28 tháng 10, vào hầu trước thềm tổ phụ là Tinh Cương công, xin rằng: “Lần này lên kinh, xin tổ phụ chỉ dạy!” Tinh Cương công nói: “Cháu không thể làm trọn chức quan này. Cháu có tài, nhưng không được vì thế mà kiêu ngạo. Ngạo mạn chiêu tai họa, khiêm nhường lợi ích thay [2]. Không làm, càng được lợi!” Lời dạy xưa còn đó, đến nay vẫn văng văng bên tai.

Nay anh kể lại chuyện này để răn dạy hai em lúc nào cũng phải lấy gạt bỏ chữ ‘kiêu’ làm đầu, kẻ ác ở Đường Ngu, có Đan Chu kiêu ngạo, có Tượng kiêu ngạo. Kiệt Trụ vô đạo, cho rằng mình đủ mạnh để bỏ ngoài tai can gián, mồm mép đủ để che lấp sai lầm. Cho rằng mình “có được mệnh trời, không kính trời, làm mặc sức” [3], đều là kiêu ngạo cả.

Từ năm tám tuổi sáu tháng xuất sơn, anh đã tận sức trừ bỏ chữ ‘kiêu’ này để răn mình không được nhiễm thói cố chấp. Gần đây lại cố gắng bỏ thói chây ì. Hôm trước khi Huy Châu bại trận, không khỏi cảm thấy tự mình cho rằng mình đúng. Sau khi bại trận, anh lập tức tỉnh ngộ, bại trận có lẽ nếu không phải vì kiêu ngạo thì là vì chây ì, chỉ một trong hai điểm đó thôi. Quốc gia bại trận, không phải do kiêu ngạo thì cũng do chây ì, tất chỉ một trong hai điểm ấy.

Bản tấu anh viết vào ngày 6, ngày 10 nhận được chỉ dụ. Nếu anh phụng chỉ xuất binh, ngày 10 nhất định sẽ làm xong chuyện, hai em ở xa, không biết ngày nào gặp lại? Chỉ nguyện hai em trừ bỏ được hai thói xấu ấy, cũng khuyên răn con cháu, giữ gìn gia quy, thì lòng anh an ủi lắm!

Ngày 24 tháng 10 năm Hàm Phong thứ 10.

Lời người bình giải:

Nhiều năm Tăng Quốc Phiên làm quan vẫn luôn tuân thủ giáo huấn của tổ phụ mình là Tinh Cương công: Ngạo mạo phải thiệt thòi, khiêm tốn ắt được lợi. Thế nên ông làm người luôn khiêm tốn cẩn trọng, bất luận là với cấp trên hay với đối thủ cũng không tỏ ra kiêu ngạo một mảy may nào. Mà cũng chính vì mỹ đức khiêm tốn cẩn trọng này của ông, ông mới có thể suôn sẻ mọi bề, làm việc lưu loát, ở vào thế bất bại chốn quan trường.

Trong mắt Tăng Quốc Phiên, bất luận là việc quân thất bại hay sa sút vì quan to quý nhân, đều do một trong hai thứ kiêu ngạo hoặc chây ì tạo ra, thế nên ông cho rằng trừ bỏ một chữ ‘kiêu’ là điều quan trọng nhất. Đồng thời ông cũng cho rằng bất luận là người thông minh tuyệt đỉnh hay là người đại nhân đại trí cũng đều có khuyết điểm, không ai là hoàn mỹ vô khuyết. Ngược lại, người ngu ngốc cùng cực cũng có chỗ đáng khen. Dựa trên cách nghĩ này, đặc biệt là những người mà ông cho là ‘tài năng’ hoặc gần với ‘ngốc’, ông càng chú tâm nắm bắt sở trường của người khác để bù cho khuyết điểm của mình. Mạc phủ của ông cũng giống như một tổ trí thức, bản thân ông có bất kỳ nghi nan hay vấn đề nào đều sẽ bảo người trong phủ nêu giải pháp, hiến kế hay. Sau khi Tương Quân công chiếm Kim Lăng, quân thần triều đình bảo nhau, mỗi ngày Tăng Quốc Phiên phải tiếp kiến người đến chúc mừng ông biết bao nhiêu lần, mà gửi thư tín với cùng một ý đó càng không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng đại thể đều là kiểu cách văn chương, không ngoài cái gì ‘hùng tài đại lược, bình định đại loạn” các thứ. Tăng Quốc Phiên đều không cho là thật.

Nhưng, có một lá thư dài thườn thượt ba nghìn chữ, văn phong phóng túng, khen ngợi quy tắc lại hấp dẫn sự chú ý của Tăng Quốc Phiên. Người viết thư mở đầu bằng việc kể lại quá trình Tăng Quốc Phiên là một thư sinh vậy mà lại có thể tay không đối chọi với quân Thái Bình, hiệu triệu học sinh tử đệ liên tục chiến đấu, gian nan cách mấy cũng đứng vững không lùi, cuối cùng có được thành tựu. Lời văn súc tích hữu lực, nói ra được tâm ý của Tăng Quốc Phiên.

Đoạn cuối thư đặc biệt khiến Tăng Quốc Phiên khép sách suy tư: Tổng đốc lưỡng giang không chỉ nắm giữ ba tỉnh mà còn cai quản những chuyện là người bình thường khó lòng xử lý được như trị thủy, vận tải, buôn muối, thủy lợi. Quốc gia trong thời điểm hòa bình cần có nhân tài kiêm toàn văn võ, có danh vọng lại biết đại thể, có thể tin cậy lại đủ kiên quyết đảm đương trọng trách này. Lúc này Giang Nam chim nhạn kêu đầy đồng nội, ngoại quốc há miệng bốn bề, cùng nhau quan sát, xảo quyệt không sao lường được, nếu như không có bản lĩnh trong giữ được yên, ngoài ngăn xâm lược, không có tài cán bình định đại loạn khi chưa xảy ra, hậu quả không cần nghĩ nữa. Tăng Quốc Phiên đọc tới đọc lui, không khỏi cảm phục người viết thư này. Càng khiến Tăng Quốc Phiên cảnh giác chính là, bản thân mình quyền cao chức trọng, hẳn phải thời thời khắc khắc giữ mình khiêm tốn, chớ nên vì lập công mà ngạo mạn.

Sở dĩ Tăng Quốc Phiên có thể làm nên đại sự, một bí quyết quan tọng trong đó chính là “liên kết việc của nhiều người thành công của một người”, ý nghĩa cũng không khác mấy với câu danh ngôn “Ta mượn trí lực của toàn thiên hạ” của Tào Tháo. Có thể nói, Tăng Quốc Phiên chính là một nhân vật điển hình gồm thâu trí lực của mọi người cho mình sử dụng. Bụng dạ rộng rãi, tâm bình khí hòa, Tăng Quốc Phiên xưa nay chưa từng kể công tự mãn, trông giống như một vị lão Nho. Phàm nếu có người góp ý cho ông, đúng thì ông tiếp thu, không đúng thì ông cũng chẳng biện bác đối đáp. Hồi còn ở huyện Kỳ Môn, tỉnh An Huy, ông từng bày một hòm thư ở nha môn quan thự, trên đó cáo thị: “Công đường bản bộ cáo thị: Hễ công đường bản bộ sơ suất, văn võ quan đức hạnh hay không, quân sĩ phải chăng có người gây rối, đều có thể viết cho vào thùng. Không để kiện tụng, nhận được đốt ngay.” Đến tối, Tăng Quốc Phiên sẽ lấy ra phân tích, cái gì không xử lý được sẽ xếp qua một bên.

Hễ người có học đến cầu kiến, bất luận là can gián hay cầu chức, Tăng Quốc Phiên chưa từng không gặp. Lý Hồng Chương từng nói thẳng với thầy ông rằng ông ‘nhu nhược’, làm gì cũng nhát gan, cẩn trọng thái quá, hay chậm trễ, hiệu suất dưới đáy. Tăng Quốc Phiên không hề trách ông ta vô lễ mà còn vui vẻ tỏ ý đồng tình.

Việc Tăng Quốc Phiên không hề kiêu ngạo có liên quan đến lời dạy của tổ phụ ông là Tinh Cương công. Trước khi Tăng Quốc Phiên xa nhà lên kinh, ông từng hầu trước bậc thềm tổ phụ, xin tổ phụ dạy bảo: “Lần này lên kinh, xin tổ phụ chỉ dạy!” Tinh Cương công nói: “Cháu không thể làm trọn chức quan này. Cháu có tài, nhưng không được vì thế kiêu ngạo, mạo mạn chiêu tai họa, khiêm nhường lợi ích thay.” Đoạn đối thoại này đã gây ra ảnh hưởng lớn lên Tăng Quốc Phiên, nhiều năm sau đó, khi hồi tưởng lại chuyện này, vẫn còn như văng vẳng bên tai.

Tăng Quốc Phiên làm quan không ngạo mạn cũng có liên quan đến cọ sát quan trường của chính ông. Giữa những năm Đạo Quang, ông làm quan trong kinh thành, tuổi trẻ khí thịnh, có khi tự phụ, “gây thù chuốc oán với rất nhiều người quyền cao chức trọng”; năm Hàm Phong thứ nhất, Tăng Quốc Phiên tổ chức huấn luyện quân đội ở Trường Sa (một thành phố thuộc Hồ Nam TQ), cũng hở chút là chỉ trích người khác, gây thù chuốc oán đậm sâu với các cấp tuần phủ. Trong năm Hàm Phong thứ thứ sáu, trên chiến trường Giang tây, Tăng Quốc Phiên lại có khoảng cách với quan lại địa phương. Năm Hàm Phong thứ 7 thứ 8, khi đang ở nhà chịu tang, qua hơn một năm tự xét lại mình, ông nhận ra nguyên nhân bản thân mình làm việc thường không suôn sẻ. Ông tự thuật rằng: Mấy năm nay ra đời, ông ghét người khác trợn mắt coi thường quan lại kinh thành, lại vì bản tính cứng đầu mà dần trở nên cố chấp, bất tri bất giác làm ra rất nhiều việc không tha thứ được, nói ra nhiều lời không thể tha thứ được, bây giờ hổ thẹn không thôi. Tính hay kiêu căng, lắm lời dối trá, xét hưng suy của Khanh đại phu đời trước và các nguyên nhân dẫn đến tai họa chốn quan trường ngày nay, không có cái nào quan trọng hơn hai nguyên nhân này.

Kiêu ngạo tự mãn là kẻ thù lớn của đời người, ỷ thế hiếp người là nét bút hỏng phá hủy quan hệ giữa người với nhau. <Thượng Thư – Đại Vũ Mô> viết: “Nghĩ mình hiền đức mà kiêu, là bại hoại đạo đức.” Tự mãn về bản thân, tức tự mình kìm hãm không tiến lên được; ngạo mạn với người, tức mình tôn người khác ti, làm mối quan hệ đôi bên căng thẳng. Người tự mãn ắt cho mình cao quý, người tự cho mình cao quý ắt khinh khi người khác, đôi bên đối đãi không thể tôn trọng lẫn nhau, thế nên không thể xây dựng mối quan hệ hài hòa. Nếu muốn tạo ra mối quan hệ giữa người với nhau được tốt đẹp, tất phải bài trừ kiêu ngạo, đối đãi người khác một cách khiêm cung. Khiêm cung nghĩa là có tính tự giác cao với khuyết điểm và chỗ chưa toàn vẹn của mình, luôn so sánh chỗ chưa tốt của mình với chỗ đã tốt của người khác, khiêm tốn mà học hỏi họ, để không ngừng hoàn thiện và trau dồi bản thân. Người tự mãn tự cao lúc nào cũng chỉ thấy chỗ tốt của mình và chỗ chưa tốt của người khác, lúc nào cũng thấy bản thân cái gì cũng hay còn người khác chẳng chỗ nào tốt, vì thế tự cao tự đại, coi thường tất cả mọi người. Mà người khiêm tốn bao giờ cũng có thể phát hiện ra ưu điểm của người khác, khiêm tốn học hỏi họ, tập hợp điểm mạnh của mọi người để bổ khuyết cho bản thân. Khiêm tốn là một loại đức hạnh, không những có thể thể hiện được sự tôn trọng đối với người khác trong quan hệ giữa người với người mà còn biểu hiện tinh thần cầu tiến tích cực và yêu cầu nghiêm khắc với bản thân.

Không những làm người phải khiêm tốn cẩn trọng mà làm quan càng phải bài trừ kiêu ngạo, khiêm tốn đúng mực, tiếp thu lời khuyên của người khác. Người giữ chức cao quyền trọng không phải bằng chứng cho việc mình tài cán gì hơn thủ hạ. Chỉ có khiêm tốn chịu nghe mới có thể tập hợp được sở trường của mọi người để sửa đổi khuyết thiếu của bản thân, ra sức vì đất nước. Hoàng đế khai quốc nhà Hán là Lưu Bang từng nói: “Nói về bày mưu lập kế, quyết định thắng lợi từ nơi xa nghìn dặm, ta không bằng Tử Phòng; Làm yên đất nước, vỗ về chúng dân, lo lương thực vật tư, không để đứt đoạn lương thực, ta không bằng Tiêu Hà; liên kết trăm vạn người, đã chiến là thắng, đã công là thành, ta không bằng Hàn Tín. Ba người họ đều là nhân tài, ta có thể dùng được, thế nên ta mới có được thiên hạ vậy. Hạng Vũ có được Phạm Tăng mà không biết dùng, thế nên mới bị ta tóm được.”

Thử nghĩ nếu như Hạng Vũ không phải người ương bướng tự cho mình là đúng, có thể bài trừ kiêu ngạo, khiêm tốn nghe lời, giết chết Lưu Bang trong hồng môn yến, vậy lịch sử sẽ có cách viết như thế nào! Nếu Lưu Bang không nghe lời khuyên của ba người kiệt xuất ấy, làm sao có thể có được thiên hạ? Có thể thấy, người kiêu ngạo tự phụ khó thể làm nên việc lớn!

Kiêu ngạo là đại kỵ trong quân sự. Gia Cát Lượng gạt nước mắt chém đầu Mã Tắc kiêu căng tự phụ, chỉ bởi vì Mã Tắc tự phụ mình thuộc làu binh pháp, tự mãn về sách vở nhà binh dày cộm mà không nghe lời đúng đắn của người khác, cuối cùng thất bại ở Nhai Đình. Cần phải biết, binh pháp tác chiến biến ảo khôn lường, làm sao có thể vì ôm một bụng thi thư mà tự mãn được? Có thể nói người tự phụ ắt chịu thiệt, không có ranh giới đong đo!

Những nhà làm quan, bởi vì có quyền có thế mà có nhiều cảm giác ưu việt hơn người khác, thế nên lúc làm việc gì, thường không cố kỵ quá nhiều, càng sẽ không kiêng dè cảm nhận của người khác. Cử chỉ hành vi luôn ra vẻ phô trương, ngang ngược, đi đâu cũng gây ra ấn tượng ỷ thế hiếp người, thời gian lâu dần, sẽ nuôi dưỡng thành một loại kiêu ngạo chây ì, dần dần cũng thành bại hoại.

Bởi thế, Tăng Quốc Phiên viết thư cho em trai mình rằng làm quan và làm người nhất định phải cố gắng trừ bỏ tính khí kiêu ngạo và chây ì. Lấy Đường Ngu, Đan Chu ra làm ví dụ răn dạy các em. Người có học vấn thực sự, sẽ không bao giờ kiêu ngạo.

Ví dụ như, thánh hiền thời cổ là Khổng Tử có thể xem là người tri thức uyên bác, nhưng Khổng Tử chưa từng kiêu ngạo. Trước sau ông luân nhắc nhở mình và dạy dỗ học sinh rằng: “Ngạo mạn phải thiệt thòi, khiêm tốn lợi lắm thay.” Có một hôm, ông dẫn theo đệ tử mình là Tử Lộ đi tham quan thái miếu của thiên tử nhà Chu. Ở nơi này, ông gặp một món đồ gốm có dáng vẻ tinh xảo, bèn hỏi người canh miếu: “Món đồ gốm này tên gọi là gì?” Người canh miếu bèn đáp: “Vật này là y khí đặt trên ghế bên hữu.”

Khổng Tử nghe xong bèn nói: “Y khí này, tôi nghe nói nếu chứa đầy nước, nó sẽ đổ; nếu trống không, nó cũng đổ. Chỉ khi nước chứa vừa phải, nó mới đứng được. Có phải vậy không?” Người canh miếu trả lời: “Đúng vậy, tiên sinh nói không sai chút nào.”

Thế là, Khổng Tử bèn gọi Tử Lộ lấy nước để thử xem sao, kết quả đúng thật là vậy. Lúc này, Khổng Tử cảm thán rằng: “Thế gian làm gì có thứ ‘đầy’ mà không đổ chứ? Trăng tròn ắt khuyết, nước đầy ắt tràn, mặt này nhất định có đạo lý sâu xa của nó!”

Tử Lộ nghe xong, dường như cũng hiểu được đạo lý của nó, hỏi rằng: “Thưa thầy, thầy có cách gì giúp nó không đổ không?”

Khổng Tử bèn nói: “Không được tự làm nó đầy! Điểm này và làm người cùng chung một đạo lý. Một người đức cao vọng trọng, cần phải khiêm tốn cung kính mới có thể được người ta tôn trọng; một người giàu sang, nếu cần cù tiết kiệm, tài sản mới không vơi bớt; người làm quan cần phải làm hết chức trách, không được buông thả; người có học, phải càng biết nghe ý kiến của người khác, không được cố chấp theo ý mình. Ta nghĩ y khí được đặt ở ghế bên hữu đại để cũng là muốn nói với người khác đạo lý này đây!”

Cuộc đời Khổng Tử vì được y khí này khai thị mà từ đó về sau không bao giờ tự mãn, mãi đến tuổi xế chiều, ông còn nói: “Nếu như có thể cho ta sống thêm mấy năm, đọc thêm nhiều sách, như vậy ta sẽ có thể biết được càng nhiều hơn, cũng ít phạm phải sai lầm hơn.”

Từ đó có thể thấy, thánh hiền ngày xưa còn vậy, huống chi người hiện đại chúng ta, hẳn càng nên hiểu rằng tự phụ chiêu tai họa, khiêm tốn lợi lắm thay. Tăng Quốc Phiên đã làm được điểm này, lúc nào cũng khiêm nhường kiềm chế, khen người hạ mình, khiêm tốn nhất mực, bất luận là trị quân hay công bố đều dùng những từ ngữ khiêm tốn trước, chưa bao giờ tranh giành công danh, thèm muốn quyền lực. Ngược lại, ông còn chủ động xin được giảm quyền.

Chính vì thái độ khiêm nhường cẩn trọng này mà Tăng Quốc Phiên biết cách giữ mình, an ổn tuổi xế chiều. Bởi mới nói, một người nếu muốn có sự nghiệp thành tựu hoặc mỗi ngày một tiến bộ hơn, cần phải thường có tinh thần khiêm cung mới được.

—

A Tĩnh: Ngạo mạn gây hại thế nào, nghĩ cũng không cần diễn giải quá dài dòng. Người ngạo mạn xem mình tài giỏi hơn người, ắt khó thấy được ưu điểm của người khác, cũng khó hạ mình mà học hỏi người khác, vì thế mà khó tiến bộ hơn. Thế nên tôi thấy phần bình giải của Lý Vấn Cừ hơi dài dòng. Cơ mà trong đó có câu chuyện về y khí là đáng bàn.

Người bình giải dẫn câu chuyện này với lời của Khổng Tử là không được làm cho y khí “đầy” (mãn), mãn này cũng là chữ mãn trong “tự mãn”, “ngạo mạn”, tức là không được ngạo mạn vì ngạo mạn ắt dẫn đến sụp đổ. Nhưng lấy câu chuyện này ra làm ví dụ thì tôi lại liên tưởng tới người không biết “làm đầy” năng lực bản thân, trong khi thứ không được làm đầy nên là “tính tự cao” mới đúng. Vậy để năng lực của bản thân không dâng đầy và trào ra ở ranh giới tự cao thì nên bổ sung thêm 1 thái độ nữa, là thái độ không ngừng nâng “ngưỡng” đầy của mình lên, càng ngày càng đặt mục tiêu cao hơn cho năng lực của mình để bản thân luôn cố gắng hoàn thiện mình mà vẫn đảm bảo bản thân không bao giờ chạm đến ngưỡng tự cao, vì luôn nhìn thấy một cột mốc cao hơn mà bản thân mình cần vươn tới.

—

[1] Nguyên là Nguyên Phủ (tức Tăng Quốc Thuyên), Quý là Quý Hồng (tức Tăng Quốc Bảo).

[2] Nguyên văn “Mạn chiêu tổn, khiêm thụ ích”, có xuất xứ từ quyển Thượng Thư là một trong Tứ Thư của Nho giáo.

[3] Cũng là một câu trong Thượng Thư, đoạn này chỉ trích Kiệt Trụ vô đạo, trời ban ân ức cho muôn dân thì vua một nước phải vâng lệnh trời chăm lo cho trăm họ, nhưng Trụ Vương vô đạo cho rằng bản thân mình là người mang mệnh trời nên không kính trời, làm việc tùy ý, xem thường cúng tế, cho rằng bạo ngược không thành vấn đề gì. Mà xem mình ngang trời thì cũng đủ thấy ngạo mạn đến mức nào, không cần bình thêm.

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x