TĂNG QUỐC PHIÊN GIA THƯ – PHẦN TU THÂN – 9
Dịch (láo): A Tĩnh
LÁ THƯ THỨ 9: CA THÁN QUÁ NHIỀU, CHỈ ĐEM LẠI ẤM ỨC VỀ SAU
Bốn em Trừng Hầu, Ôn Phủ, Tử Thực, Quý Hồng thân mến:
Mấy ngày ở kinh thành, lớn nhỏ đều bình an. Bệnh nấm da có hơi tái phát, may mà không nguy hiểm, cứ mặc nó thôi. Bảng vàng Hồ Nam niêm yết, vậy mà huyện mình chẳng ai trúng tuyển. Trong thư em Nguyên có nói văn chương của em Ôn tao nhã đường hoàng, nhưng cũng bị kìm hãm. Không biết các em mình đây mai này công danh khoa bảng rốt cuộc thế nào? Bằng đức hạnh tổ tiên ta tích lũy cùng phụ thân và thúc phụ tu tâm sửa đức, ắt các em hẳn có thể được nhiều phúc báo. Các em trẻ tuổi hào hoa, dù khoa cử chậm trễ đôi phần cũng chưa cần sợ phải dở dang. Chỉ là mấy năm gần đây công việc bề bộn, tinh thần hao tổn, anh thường mong các em có thể kế tục, thường ở kinh thành, trở thành cánh tay đắc lực của anh. Hơn nữa mong các em cùng chia sẻ trách nhiệm này, anh mới hi vọng vơi được phần nào gánh nặng. Nay vẫn chưa thành hiện thực, khiến lòng anh không biết bám víu vào đâu.
Bệnh của em Thực năm nay khiến mọi việc đều bị lỡ dỡ, vào trường thi lại mắc bệnh về mắt, khó phát huy sở trường. Em Ôn có thiên phú nhất trong số các em, duy chỉ có một khuyết điểm là ca thán quá nhiều, tính tình biếng nhác. Lúc trước còn ở trong kinh thành thì ít chịu đọc sách, lại không chịu làm văn, lòng anh vì thế mà thậm ưu sầu. Gần đây nghe nói sau khi về nhà cũng tiếp tục thường xuyên ca thán, hoặc là nhiều tháng không cầm bút làm văn. Nhà ta không người kế tục, các em khác cũng không có gì đáng để chê trách, chỉ có em Ôn là không thể thoái thác trách nhiệm, không chí tiến thủ, đổ lỗi hết cho số mệnh được.
Anh thường thấy trong số bạn bè mình, những kẻ thường hay ca thán cuối cùng hay bị dồn nén, ví như Ngô Uân Đài, Lăng Địch Châu đều thế, loại tương tự nhiều không đếm xuể. Vô cớ trách trời, ắt trời không ưng; mà vô cớ buồn người, ắt người không phục. Là lẽ dĩ nhiên, tất nhiên tuân phục. Hoàn cảnh của em Ôn là hoàn cảnh thuận lớn nhất với người có học, nhưng hở chút là oán thán, bụng đầy tâm sự, trăm điều không thuận, thực anh không sao hiểu được. Về sau nhất định phải cố gắng trừ được tật xấu này, lấy Ngô Uân Đài, Lăng Địch Châu làm tấm gương trước mắt. Phàm gặp lúc sắp sửa oán thán, ắt phải nhìn lại bản thân: Ta quả thực có chỗ nào không được vừa ý mà dồn nén cảm giác bất bình này? Bất chợt tỉnh ra, quyết tâm trừ bỏ. Không chỉ bình tâm mà khiêm tốn, mà khoa cử càng sớm có công danh, hơn nữa cũng nuôi dưỡng hòa khí, có thể giảm bớt thói xấu này. Những mong em Ôn suy nghĩ cặn kẽ, chớ xem lời anh là lời của lão già cổ hủ, không đáng nghe theo.
Vương Hiểu Lâm tiên sinh làm khâm sai ở Giang Tây, hôm qua nhận chỉ, lệnh ông nhậm chức tuần phủ Giang Tây, anh nhậm chức ở bộ Hình, e rằng đến sang năm mới bàn giao được. Viên Sấu Lục [1] năm rồi lại sinh một cô con gái, đã được bốn gái, nhưng hai đã chết non, đã mới tang anh lại thêm tang em, hơn nữa còn không mưu cầu được chức vụ gì, than ôi, “hàn lâm nghèo” khó làm lắm thay! Hoàng Lộc Tây đến từ Giang Tô được giới thiệu vào kinh, tình hình khác xa hồi mới đậu tiến sĩ ngày xưa, không ngờ lại có tài quản trị kinh tế. Vương Hoành Thần được triệu vào mùng chín tháng nhuận năm nay, được bổ làm tri huyện. Cuối tháng đó dọn vào đền Hạ Oa [2] mà ở, vậy mà đêm mùng hai tháng chín vô cớ chết đi. Đêm trước đó còn nói chuyện với người ở cùng mình là Văn Nhậm Ngô đến canh hai, sáng hôm sau ăn sáng, ngạc nhiên không thấy ông ta thức dậy, mở cửa ra xem, thì đã chết rồi. Lẽ sinh tử, ở hiền gặp lành, lại không sao hiểu được.
Chuyện quê mình khuyến khích góp tiền bù thâm hụt, trước đây trong thư anh đã nói, tuyệt không thể miễn cưỡng quyên góp. Thiếu hụt của huyện, một nửa là thiếu hụt cho quan viên, một nửa là thiếu hụt cho thư lại, chứ bách tính đều vô tội cả. Xưa nay thư lại đều ăn no mặc ấm, trên ăn của quan dưới ăn của dân, lấy danh nghĩa “thu giùm nộp giùm” [3] nhưng khi thực sự trưng thu thì lại xem bách tính như thịt cá mà nhai cắn; lúc nộp giùm thì lại xem quan lại như chim mồi mà thao túng. Quan vòi tiền, gạo thư lại như vòi đồ ăn trong mồm hổ sói, van xin năm lần bảy lượt, cuối cùng vẫn không chịu nhả ra. Thế nên dần dà mới thành thâm hụt, hoàn toàn không phải thâm hụt do dân, cũng không phải do quan viên biển thủ một mình.
Năm nay chuyện lương hưởng phụ thân đại nhân bàn bạc, một là bài trừ tệ nạn “thu giùm nộp giùm” trước đây, thực là lợi cho cả quan lẫn dân, kẻ không được lợi gì chỉ có thư lại. Cho dù chỉ là để giữ Chu công làm Chế Đài [5] cũng đã xem như tạo phúc không ít. Các em phải cực lực giúp phụ thân đại nhân xử lý chuyện này. Duy việc quyên tiền bù thâm hụt không thể gấp gáp, ắt phải để người người tự nguyện mà quyên. Nếu có chút cưỡng chế nào, ắt nghĩa lớn lại thành hại dân. Tương lai có khi trở thành cái cớ cho thư lại, hơn nữa bọn chúng nhất định sẽ thông đồng với các thân hào xấu đòi khôi phục chính sách thu giùm nộp giùm, không thể không đề phòng vậy.
Hai trăm bạc chỗ Lương Thị Ngự tất được mang đi nội trong tháng này. Hai trăm bạc chỗ Lăng trạch cũng được giao nộp. Sáu bảy chục lượng cử người giao nộp dùng để cho thân tộc, cũng nhất định không thể để cho chậm trễ. Nhưng những nhà trong thành gần đây khó khăn túng quẫn, trừ những nhà nêu trên ra, nhưng nhà khác không thể nộp thêm,
Huyện lệnh đã thương lượng xử lý chuyện công, tự nhiên không thể không giao thiệp, nhưng nếu có thể, các em không nên thường xuyên vào huyện nha. Chỗ Đào, Lý anh trả lời thư sau. Bản huyện cũng rất khó đảm bảo rằng không có kẻ mượn danh nhờ vả, em Trừng nên báo trước anh hay.
Thư viết không sao hết ý. Những việc khác mai này thư sau. Anh Quốc Phiên đặt bút.
Hàm Phong nguyên niên, ngày mùng 5 tháng 9.
Lời của người bình giải:
Trong các phương pháp học hỏi xử thế mà Tăng Quốc Phiên nhắc đến, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không được ca thán, hơn nữa còn khuyên răn bốn người em mình không được lúc nào cũng than vãn, phàm những khi muốn ca thán, ắt phải cúi đầu tự hỏi: Có chuyện gì mà khiến mình không vừa ý? Tại sao mình lại ôm những thứ bất bình này? Nội tâm tích cực phản tỉnh bản thân, một bụng hòa khí, nuôi thân bổ khí, như vậy ắt không có việc gì là không chấp nhận được. Sau khi chấp nhận mới nghĩ cách thay đổi; cái gì có thể thay đổi thì thay đổi, không thể thay đổi thì chấp nhận, không có gì đáng để than vãn.
Ca thán quá nhiều, vô cớ trách trời, nếu như quả thật có trời, trời cũng không dung; vô cớ giận người, người đương không bị vu vạ, ắt sẽ không phục. Trách mình trước hẵng trách người là để tạo ra hoàn cảnh dễ chịu cho bản thân mình, mới mong vạn sự thuận buồm xuôi gió; chuyện nào cũng trách người, ngược lại càng cho thấy mình bất lực. Không ai bằng lòng nghe người khác than vãn, người ta chỉ cần kết quả thôi. Bất kể chuyện gì, kết quả cũng là quan trọng nhất.
Trong cuộc sống, chúng ta thường xuyên than trời trách người vào những lúc gặp phải những khó khăn vất vả, chịu đủ mọi đả kích. Thánh nhân cũng như chúng ta, có đôi khi thốt ra lời cảm thán, nhưng, chỗ thánh nhân khác biệt chúng ta chính là, thánh nhân không sa vào khổ não, không vì không thể thúc đẩy đại đạo trong thiên hạ mà than trời trách đất, càng không ôm một bụng oán than mà không có bất cứ hành động nào.
Về việc này, Khổng Tử đã dạy chúng ta nên làm cái gọi là “Người không hiểu (ta), nên (ta) không giận” [5]. Chữ “giận” của câu này, bao hàm cả nghĩa “oán trời trách người”. Cũng có nghĩa là, nếu như người thực sự có tu dưỡng sâu sắc, ắt không oán trời, cũng không trách người.
Gặp phải việc gì, có thể thường xuyên phản tỉnh, nội tâm không chứa đựng ý niệm oán trời trách người, như vậy chúng ta cũng có thể nhanh chóng tìm được mấu chốt vấn đề, cũng có thể bình tĩnh xử lý, tìm được cách thức giải quyết.
Thế mới nói, “Người không biết, nên không giận” là một loại chí hướng, một loại khí độ. Chỉ khi có được chí hướng, khí độ này mới có thể có càng nhiều tri thức, địa vị càng cao càng không hí hửng đắc chí; gặp việc không thuận lợi nhưng không oán trời trách người, một bụng ca thán. Bằng không ắt sẽ “Đến được nơi cửa trời cao nhất, chẳng chứa nỗi ai chỉ mỗi mình”[6].
—
[1] Tức Viên Phương Anh, từng làm biên soạn ở viện Hàn Lâm, nên đoạn sau mới có chỗ ví ổng là “hàn lâm nghèo”.
[2] Đền Hạ Oa được xây dựng vào khoảng năm thứ 5 đến thứ 10 Hàm Phong, bởi các hương thân trong vùng như Vương Thần, Thành Hạo, Vương Lâm, Lôi Lão Văn, thờ ba vị thần là Tam Tiêu Nương Nương, Quan Công và Long Vương. Ngôi đền này được nhà họ Vương, cụ thể là Vương Phúc Thành (còn được gọi là Vương Tam Hổ) chủ trương xây cất. Vương Thần là con trưởng của Vương Phúc Thành. Không rõ ông Vương Thần này có phải Vương Hoành Thần mà Tăng Quốc Phiên nhắc đến trong thư không, nhưng nghi ngờ là phải nên mới có chuyện ổng đem ví dụ này ra để nói về nhân quả.
[3] Nguyên văn là “bao chinh bao giải” (包征包解), một chế độ thu tô thuế ở thời Minh sau đó được thời Thanh tiếp tục sử dụng (có cải tiến sửa đổi không thì tôi chưa kịp tìm hiểu), đại khái chế độ này đặt ra một số hình thức nộp thuế trung gian qua các cửa hàng lương thực hoặc hàng bạc, chủ những cửa hàng này sẽ nộp thuế thay người nộp thuế rồi người nộp thuế nộp lại cho họ, các thư lại sẽ kiểm soát đối chiếu bằng sổ sách. Muốn nói chi tiết hơn thì tôi phải đọc thêm để hiểu tường tận đã nên tạm chú bao nhiêu thôi, bạn nào muốn tìm hiểu cứ copy nguyên chữ Hán search nhé.
[4] Chế Đài là một trong các tôn xưng quan lại địa phương triều Thanh, thời điểm này viên quan giữ chức ở quê Tăng Quốc Phiên họ Chu, nên mới có câu này, cốt yếu là ổng bảo việc quyên tiền này nhằm giúp Chu tri huyện giữ được ghế trong thời gian dài, cũng là tạo phúc không ít, từ đây có thể đoán Chu tri huyện trong mắt Tăng Quốc Phiên cũng là một viên quan tốt, cơ mà tôi không đi tìm hiểu thêm để xem ông Chu này là ông Chu nào, nên không chắc lắm ổng có tốt thiệt không :v.
[5] Nguyên văn là “Nhân bất tri, nhi bất uẩn” – một câu trong Luận Ngữ.
[6] Câu này có-vẻ-như người biên soạn trích từ phần giải thích của Trần Mi Công thời nhà Minh về câu “Nhân bất tri, nhi bất uẩn” trong Luận Ngữ, sau được Nam Hoài Cẩn dẫn lại để củng cố kiến giải của mình. Đại khái ông Trần Mi Công này nói: “Một mình mình vui nghĩa là gì? Là: Không việc gì một mình yên tĩnh, một ngày như hai ngày. Vui với người khác là gì? Là: Nói chuyện với người khác, hơn hẳn mười năm đọc sách. Vui với mọi người là gì? Là: Nơi này rỗng động trống trơn, há chỉ chứa được mấy trăm chừng này”. Câu cuối cùng xuất phát “không động vô vật” trong Thế Thuyết Tân Ngữ, lại-nghe-kể trong đó viết Vương thừa tướng gối đầu lên đùi Chu Bách Nhân, trỏ vào bụng ông ta hỏi: “Trong này của khanh chứa cái gì?” Đáp: “Trong này là động rỗng chẳng có gì cả, nhưng có thể chứa được đến trăm người”. Tích này nối tích kia là vậy nhưng tóm lại, ở đây chỉ muốn nói làm người nên có chí khí độ lượng, “bụng rỗng” không để chứa vật mà để “chứa trăm người”, bằng không dù có địa vị càng cao, học vấn càng nhiều (lên đến nơi cao nhất cổng trời) thì cũng chỉ biết tới mình chứ chẳng chứa được ai, tóm lại là chê người ta hẹp hòi nhỏ nhen đó ạ.