TĂNG QUỐC PHIÊN GIA THƯ – PHẦN TU THÂN – 1

By

·

10–15 phút

Dịch: A Tĩnh

GIỚI THIỆU PHẦN TU THÂN:

“Thành, kính, tĩnh, cẩn, hằng” là năm chữ Tăng Quốc Phiên dùng để tu thân. Tu thân, ắt phải lấy “thành” làm gốc, cần phải trung tín, không có dạ khinh khi, chừa đi thói bốc đồng, càng lúc càng biết sửa mình, làm một quân tử khiêm tốn. Phải điềm tĩnh, rộng lượng, khoan dung, cần kiệm, liêm khiết, nhẫn nhịn, cung kính, mới có thể càng làm càng giỏi, tôi luyện tinh thần, nâng cao giá trị. Tiến đến tề gia trị quốc bình thiên hạ, gầy dựng sự nghiệp lập đức, lập công, lập ngôn được mãi trường tồn.

LÁ THƯ THỨ 1: SỬA MÌNH MẠNH MẼ, TỰ MÌNH QUYẾT ĐỊNH

Em Nguyên [1] thân mến,

Ngày hai mươi bảy.

Nhận được thư đề ngày hai mươi mốt em gửi, đã hiểu tường tận mọi điều.

Nếu em đã kiên quyết từ chức tuần phủ như vậy, thì tấu chương anh thay em viết ngày hai mươi hai nhất định hợp với ý em.

Mười chữ “Loạn thế mà đòi công danh, khó càng thêm khó” rất hợp lòng anh. Tấu chương anh trình hôm nay cũng xin gộp hai chức Khâm Triện và Đốc Triện lại làm một và chọn một vị đại quan có tiếng đảm đương chức vụ này. Giờ sẽ chép lại một bản cho em xem. Hai anh em ta phải thường giữ tinh thần tận tâm cẩn trọng, để sau này nếu có cơ duyên, dù có rời khỏi quan trường có lẽ cũng được xem như đầu xuôi đuôi lọt, tránh phạm phải tội lỗi tày đình?

Còn về đảm đương đại sự, tất phải dựa cả vào hai chữ minh – cường. Năm hạnh “học” [học rộng hiểu nhiều], “vấn” [xét hỏi đầu đuôi], “tư” [suy tư cặn kẽ], “biện” [phân biệt rõ ràng], “hành” [thực hành thực tế] được nêu ở <Trung Dung>, cái nào cũng có thể quy về sửa ngu dốt thành thấu triệt, biến yếu nhược thành kiên cường. Em xưa nay chí khí quật cường, không thể vì ngồi ở ngôi cao mà bỗng nhiên đổi tính. Phàm là chuyện ở trên đời, chí khí không đủ quật cường khó làm nên việc mà tính cách không đủ mạnh mẽ cũng không thể thành công. Về phần tu thân tề gia, ắt cũng phải lấy thấu triệt kiên cường làm gốc rễ.

Nếu huyện Sào đã bị chiếm đóng, vậy Hòa, Hàm ắt cũng sẽ về tay. Sau này công phá hai cửa biển ấy, mong em chủ trì hết thảy đồng thời báo cáo cho bốn vị Bào, Tiêu, Bành, Lưu. Anh từ nơi xa nghìn dặm, không thể can thiệp gì.

Tiện thể hỏi thăm em gần đây có khỏe.

Quốc Phiên đặt bút.

Ngoài ra: Công văn của em không nên dùng chữ “tư trình”. Nên dùng “tư” để hợp thông lệ hơn.

Đồng Trị năm thứ hai, ngày hai mươi bảy tháng tư.

Lời người bình giải:

Tăng Quốc Phiên cho rằng: Một người nếu muốn làm nên đại sự thì nội tâm tuyệt đối không được khuyết thiếu chí khí kiên cường, điểm này rất quan trọng. Trong cuộc sống, người người đều muốn tranh cường là bởi vì ai cũng đều có huyết khí. Nhưng gặp phải trắc trở, có người tức khắc nhũn thành bùn đất, ngẩng đầu than thở, chỉ lùi không tiến.

Tín ngưỡng cả đời của Tăng Quốc Phiên chính là: Muốn làm nên đại sự, phải lấy “minh-cường” làm gốc.

Trong bức thư Tăng Quốc Phiên gửi cho em Nguyên nhấn mạnh học rộng hiểu nhiều, xét hỏi đầu đuôi, suy tư cặn kẽ, phân biệt rõ ràng, thực hành thực tế được nêu ở <Trung Dung> mà cốt yếu là phải sửa ngu si thành minh triết, biến yếu đuối thành kiên cường. Ý muốn nói, một người nếu muốn trở thành kẻ mạnh thì khi đối diện với khó khăn, dựa vào mỗi dũng khí thôi chưa đủ mà ắt phải có ý chí kiên định, cũng tức là nói phải làm được chữ “trí” trong “minh trí”. Một người “trí’ có thể tìm được biện pháp giải quyết vấn đề, cũng có thể có nghị lực không sợ gian khổ, hoặc có một loại mưu trí sáng tạo lối đi riêng. Chỉ cần từ đầu đến cuối có thể không khuất phục, phục tùng nhưng không phải khăng khăng cố chấp thì đã là hành động sáng suốt rồi.

Ví dụ như:

Tử Lộ hỏi: “Mạnh mẽ là gì?”

Khổng Tử ung dung đáp: “Có cái mạnh mẽ phương nam cũng có cái mạnh mẽ của phương bắc. Cái mạnh mẽ của phương nam là ý chỉ dùng tinh thần khoan dung ôn hòa để giáo dục người khác, dù có bị đối xử dã man cũng không báo thù, là cái mạnh mẽ của người quân tử; dùng binh khí giáp thuẫn làm chăn gối, gặp phải uy hiếp tồn vong cũng quyết không chùn chân, là cái mạnh mẽ của phương bắc.”

Cũng có nghĩa là, hòa nhã mà không trôi theo dòng nước, duy trì vị trí trung lập không nghiêng không lệch, không thay đổi chí hướng lúc chính trị nề nếp, kiên quyết giữ mình lúc chính trị nhuốc nhơ, chết không thay lòng, mới là mạnh mẽ thật sự.

Ví dụ như dũng sĩ Bắc Cung Ửu [2], Bắc Cung Ửu bị đâm vào da thịt mà không lùi bước, mắt bị đâm mà không né tránh, không chỉ như thế, Bắc Cung Ửu chẳng những không chấp nhận dân chúng tầm thường bị sỉ nhục mà còn không chấp nhận quân chủ một nước bị sỉ nhục, nghe tiếng chửi mắng ắt sẽ xông ra phản kích. Dũng khí này không phải thứ người bình thường sẵn có mà phải được trui rèn, loại người này thường có chỗ vượt trội nào đó về thể trạng hay sức khỏe.

Lại lấy ví dụ về Mạnh Thi Xá [3]. Mạnh Thi Xá đối xử với kẻ địch mà mình không thể giành chiến thắng cũng giống như với kẻ địch mà mình có thể giành chiến thắng, cho dù binh lực của bản thân ít hơn người khác nhưng sĩ khí lúc nào cũng cao hơn đối phương, nội tâm kiên định, tin chắc có thể đánh bại đối phương. Mạnh Thi Xá cho rằng, bí quyết tất thắng chính là không sợ hãi, loại dũng khí này là loại ấp ủ bên trong, không dễ gì làm được. Giống như Bắc Cung Ửu, người như Mạnh Thi Xá có thể nói là kẻ mạnh, nhưng Tăng Tử [4] chỉ cần biết chuyện bản thân mình làm là đúng thì ắt “Người dù nghìn vạn, ta cứ tiến lên”, cho dù đối mặt với thiên binh vạn mã cũng không sợ hãi. Từ đó xem ra, Bắc Cung Ửu chỉ là loại dũng mãnh hiếu chiến còn Tăng Tử thì được hậu nhân tôn xưng là “tông thánh”. Dũng sĩ chỉ mạnh mẽ ở mỗi chỗ huyết khí, ắt còn lâu mới bì kịp Nho giả mạnh mẽ nhờ thấu triệt.

Bởi thế, Tăng Quốc Phiên với tư cách là hậu nhân của Tăng Tử, dùng thành tích tự thân để chứng minh điểm này. Trong tư tưởng của Tăng Quốc Phiên, cho rằng “biết nghĩ ắt thấu suốt, yếu đuối ắt mạnh mẽ”. Từ kiến giải của Khổng Tử với cái mạnh mẽ của phương nam để thấy, hai cách nói này thực ra đều xem người thực hành đạo đức mới là kẻ mạnh thực sự.

Ngoài ra, vào ngày một tháng bảy năm Đồng Trị thứ hai (năm 1863), trong thư Tăng Quốc Phiên viết cho em trai là Tăng Quốc Thuyên có viết: Bản thân chữ “cường” vốn là một đức hạnh, trong thư viết cho em trước đây đã giảng giải hai chữ minh – cường là không thể thiếu. Nhưng bản thân chữ ‘cường’ tất phải đi từ chữ ‘minh’, sau đó trước sau đều kiên cường bất khuất. Nếu như hoàn toàn không hiểu về sự việc mà nhất mực ngang tàng, đến khi bị người khác dùng đạo lý chính xác biện bác đồng thời đem hậu quả thực tế sự việc ra nghiệm chứng, lúc ấy mới cúi đầu nhận lỗi, sẽ bị bàn tán khắp kinh đô. Anh cũng từng dạy không phải không cần mạnh mẽ mà là bởi vì nghe nhìn không đủ, nhìn việc không thấu đáo tỏ tường, thế nên không dám dễ dàng hiếu thắng. Mặt khác, chúng ta đều đang trong thời kỳ đỉnh cao, quan viên dưới quyền chúng ta ra ngoài khí thế hung hăng, nói lời ngang ngược, lúc nào cũng làm người ta khó mà thân cận. Nếu chúng ta cứ nhất mực tỏ ra mạnh mẽ mà không thu mình khắc chế một phần, vậy quan viên thuộc hạ nhất định sẽ gây ra họa lớn.

Từ đó cho thấy, minh cường tức là dám chiến đấu, sau khi đã xét đoán chắc chắn, Tăng Quốc Phiên sẽ không nhượng bộ ý kiến của người khác mà có chủ kiến của mình, cũng dám đấu tranh.

Tính tình của Tăng Quốc Phiên, nói trên phương diện ý chí, cũng thuộc loại rất kiên cường ương ngạnh. Trong thi văn và cuộc đời quân sự của Tăng Quốc Phiên, ta luôn có thể nhìn thấy ý chí kiên cường của ông, tuyệt không phải loại yếu hèn. Thơ văn của ông có rất ít tác phẩm mang hơi thở tầm thường mà lúc nào cũng hào hùng tráng chí, khí thế oai phong độc đáo tràn ra khỏi bút mực, tính cách quật cường vọt lên khỏi trang giấy, như bài thơ ông làm lúc tại chức kinh quan [5] năm 30 tuổi hơn:

Ngày này năm ngoái viết bài thơ, khí thế muốn như chém cá kình.

Canh ba uống rượu mời trăng sáng, chiếc thuyền lướt nhẹ vạn núi xanh.

Vân Mộng về tay như ngậm cỏ, Quân sơn chưa chắc khó tan tành.

Chớp mắt hừng đông đã lấp ló, cỏ xanh mơn mởn khắp Bồng Doanh.

Trên phương diện thư pháp, Tăng Quốc Phiên không thích kiểu chữ nhỏ nhắn mềm mại mà thích những chữ mạnh mẽ cứng cáp. Ông bảo: “Đỗ Lăng [6] nói: Chữ quý nhất là gầy mà chắc, lý luận này ngàn đời chẳng sai.” Dáng chữ cứng cáp nhưng gầy mảnh chính là đại diện cho phong cách mạnh mẽ cứng rắn, tục ngữ nói: Nét chữ nết người. Viết chữ tuy là chuyện nhỏ nhưng có thể nhìn ra tính cách của một con người. Có những người giỏi biết tài người khác, chỉ dựa vào chữ của người đó cũng có thể đoán được đại khái rồi.

A Tĩnh:

Tôi đã đi tìm thử các sử liệu khác để xem năm Đồng Trị thứ hai này xảy ra chuyện gì mà Tăng Quốc Phiên lại viết lá thư này cho em trai Nguyên Phủ, bởi phải biết ngữ cảnh thì mới hiểu được tại sao Tăng Quốc Phiên vừa bày tỏ sự đồng tình với việc em mình từ chức Tuần phủ, vừa khuyên em mình phải sáng suốt mạnh mẽ. Tiếc là không tìm thấy sử liệu liên quan.

Cơ mà với nội dung lá thư này thì lời khuyên của Tăng Quốc Phiên tính ra cũng giản dị, bản gốc dùng chữ “minh” và “cường”, thực ra có thể đổi thành “trí” và “dũng”. “Minh” là sáng suốt, có thể xem như đồng nghĩ với trí tuệ. Người có trí tuệ sáng suốt biết mình làm thế nào là đúng thì sau đó nên “cường” (mạnh mẽ) cũng tức là “dũng” (can đảm) theo đuổi lý tưởng, chính kiến của mình cho dù có gặp phải gian nan trắc trở. Nên thực ra cần phải “kiên cường” cũng có thể xem như cần phải “kiên định”. Giữa “minh”/”trí” và “cường”/”dũng”, kỳ thực tôi đánh giá cao chữ “minh” và cũng thấy “minh” khó làm hơn vì biết cái gì là đúng là sai, tưởng dễ chứ không hề dễ. Tăng Quốc Phiên dẫn lại 5 chữ trong Trung Dung quả là 1 cách rất chính xác để rèn được chữ “minh”, phải học, phải hỏi, phải tư duy rồi phải biện giải, sau đó áp vào thực tế xem kết quả như thế nào, là tốt hay xấu. Đi qua hết 5 chữ này dần dần mới “minh” và “trí” được.

[1] Tức Tăng Quốc Thuyên, tên chữ là Nguyên Phủ. Tăng Quốc Thuyên nhậm chức Tuần phủ Hồ Bắc năm 1864, còn lá thư này được viết vào năm Đồng Trị thứ hai là năm 1863, nghĩa là lúc đó “em Nguyên” của Tăng Quốc Phiên vẫn chưa giữ chức Tuần phủ Hồ Bắc. Đọc nội dung thư thì có vẻ như Tăng Quốc Thuyên đã từ chối chức vị này và được Tăng Quốc Phiên tỏ ý thông cảm, nhân tiện dạy dỗ làm người phải biết nỗ lực phấn đấu vì mục tiêu đúng đắn.

[2] Bắc Cung Ửu: Thống lĩnh ngự lâm quân nước Kim trong tiểu thuyết “Cuồng hiệp – Thiên kiêu – Ma nữ” của Lương Vũ Sinh. Nổi danh về sức mạnh.

[3] Mạnh Thi Xá: Là một dũng sĩ được nhắc đến trong Mạnh Tử, nổi danh về lòng can đảm.

[4] Tăng Tử: Tên thật là Tăng Sâm, nười nước Lỗ, đệ tử của Khổng Tử và là một nhà tư tưởng cuối thời Xuân Thu, đại diện tiêu biểu của Nho giáo, 1 trong 72 hiền nhân và là 1 trong 5 đại thánh nhân của Nho giáo.

[5] Kinh quan: Quan viên nhậm chức làm việc trong kinh thành thời cổ đại.

[6] Đỗ Lăng: Tức Đỗ Phủ, vì ông có một danh xưng nữa là Đỗ Lăng Dã Khách.

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x