YẾN LŨY QUÁI ĐÀM
Chương 9: Bích họa trong từ đường bỏ hoang
Dịch (láo): A Tĩnh
#yenluyquaidam #yenluysinh
—
Ngày xưa, một dải Giang Nam trải đầy miếu cổ, làng nào xóm nào cũng muôn hình vạn trạng các từ đường tế tổ, kể cả loại sơ sài đến ngoài sức tưởng tượng, miếu cóc nhái, miếu ểnh ương gì cũng có. Trong làng nhà bà ngoại tôi có một ngôi miếu đổ, người trong làng truyền tai nhau đó là miếu bát lạp. Bát lạp là tám loại côn trùng nhỏ, xưa kia sau vụ thu hoạch mỗi mùa thu, người trong làng lúc nào cũng đem thịt và ngũ cốc các loại vào miếu cúng để xin năm sau bớt được một phần số sâu hại này. Đến những năm 70, ngôi miếu đổ này chỉ còn thừa lại bốn bức tường, dân làng có đi qua đều sẽ vỗ tay hai cái rồi mới đi tiếp. Nghe bà ngoại nói, tập tục này cũng không phải xa xưa lắm mà mới xuất hiện vào cuối thời Thanh thôi, cái này cũng là bà nghe bà nội bà kể.
Khi ấy là vào thời “loạn tóc dài” [1]. Bấy giờ có một nhánh binh mã của Thái Bình Thiên Quốc đồn trú gần miếu bát lạp; mà trước khi tan vỡ, Thái Bình Thiên Quốc phong vương rộng khắp, tổng cộng phong đến hơn hai nghìn ngôi vương. Nghe nói, chỉ cần nhận mặt được tám trăm chữ Hán thông dụng là đã có thể đọc được đại khái nội dung của một tờ báo, huống chi trong tám trăm chữ Hán này thì mấy chữ như “chết”, “bệnh”, “hư”, “hoại” đều không thể dùng làm vương hiệu được, thế nên sau này Thái Bình Thiên Quốc dùng hết chữ có thể phong vương rồi thì dứt khoát phong vương theo số thứ tự, mà không biết thủ lĩnh của nhánh quân tóc dài đó là vị vương số một nghìn bao nhiêu, có điều ông ta họ Mộ Dung nên người bên cạnh liền gọi là Mộ vương. Thực ra Mộ vương là vương hiệu của Đàm Thiệu Quang, đương thời đồn trú ở Tô Châu. Tuy rằng được phong vương nhưng binh mã dưới trướng Mộ vương này cũng chỉ có vài trăm người, song với dân làng mà nói thì cũng là lực lượng mà họ không thể chống cự được, người già còn kể ban đầu ông ta vốn là đạo sĩ ở Mao sơn, biết chút phép thuật, thế nên hồi đầu đánh mấy trận với quân đội nhà Thanh cũng có thua có thắng; đến khi Lý Hồng Chương được đội quân dùng súng tây dương đến trợ chiến thì Mộ vương mới chống đỡ không nổi, kết quả là bị quân đội nhà Thanh bao vây trong miếu bát lạp, mấy trăm người chết hơn một nửa, số còn sống chỉ có trăm chục người thôi. Sau này miếu bát lạp với quân đội nhà Thanh lại có thêm một trận huyết chiến, quân Thái Bình chó cùng rứt dậu, quân Thanh tuy rằng chiến thắng nhưng cũng phải trả một cái giá không nhỏ, còn Mộ vương chẳng hiểu sao lại không cánh mà bay, không tìm được ông ta trong đống người đã chết.
Sau trận chiến, những người hảo tâm trong vùng bỏ ra một ít bao hương bồ sai người đem những thi thể này chôn trong nghĩa trang. Bà của bà ngoại có một người chú cũng được gọi đi thu dọn đống xác chết ấy. Chẳng biết mối quan hệ này phải được gọi tên kiểu gì, tóm lại lúc ấy bà ngoại gọi bừa người đó là ông cậu của mình. Khi ông cậu đến miếu bát lạp thì thấy phần lớn thi thể ở đó đều tan tành gãy vụn, tình trạng thê thảm vô cùng, thậm chí có mấy thi thể nát cả phần trước ngực, tay chân cũng bị đứt lìa. Ông cậu kéo một cái xe chở xác đến nghĩa trang, lúc đang chôn, chợt ông nghe thấy có tiếng gì phát ra từ trong đống thi thể. Sợ quá, ông xoay đầu muốn chạy nhưng ông nghe thấy âm thanh đó đang gọi mình. Xốc lại can đảm mà nhìn, ông nhận ra trong đống người chết có một binh sĩ già vẫn còn thoi thóp. Ông cậu động lòng trắc ẩn liền kéo ông cụ qua một bên, sau khi chôn hết thi thể, ngày nào ông cũng đem cơm thừa canh cặn đến cho ông cụ ăn, lại mua thêm ít dược liệu trị thương bôi cho ông ấy. Hai ngày sau, ông cụ từ từ bình phục, ông kể với ông cậu rằng mình là người Quảng Đông, bị lôi vào quân Thái Bình đánh đấm cho đến khi tới được nơi này, lúc nào ông cũng muốn trốn đi nhưng trốn không thoát. Thể chất ông cụ thực ra rất tốt, nửa tháng sau đã có thể cử động bình thường, lúc ấy binh hoang mã loạn, nạn dân cũng nhiều, ông tự xưng là người chạy nạn, còn quân Thanh đã dời chiến trường đến Thiên Kinh [2] nên cũng không ai nghi ngờ.
Lại qua thêm mấy ngày nữa, bấy giờ là mùa “gieo vội gặt vội” [3]. Bởi trong miếu bát lạp có quá nhiều người chết nên bình thường mọi người có đi cũng sẽ đi đường vòng, thành ra mấy mảnh đất quanh miếu bát lạp hồi này đã không còn ai dám tới. Địa chủ đất này sốt ruột quá nên ra một cái giá rất cao, ông cậu thèm thuồng số tiền công này cộng thêm cậy mình tuổi trẻ gan lớn nên mỗi ngày đều dậy sớm ra đồng khi trời còn mờ mịt. Bình thường ngày nào ông cũng về nhà ngủ nhưng có một hôm thấy tiết trời không tốt, đoán chừng ngày tiếp theo trời sẽ đổ mưa nên đêm ấy ông cậu làm khuya hơn một chút, sau khi làm xong thấy trời đã tối mịt nên cũng không về. Trước kia xảy ra tình huống này thì sẽ trải cái chiếu ngủ lại miếu bát lạp nhưng ông cậu từng đến miếu bát lạp dọn xác, gặp quá nhiều thảm trạng nên lòng còn sợ hãi, bởi thế không dám vào miếu mà bất chấp bên ngoài sương mù dày đặc, ông vẫn ngủ ở cửa miếu. Ngủ đến nửa đêm thì bị sương đêm rét mướt làm cho quá khó chịu khiến ông không sao ngủ nổi, thế là ông liền cả gan ngủ sát vách tường trong miếu bát lạp. Lúc đầu thì ngủ rất ngon nhưng lúc ngủ mê man cứ thấy lưng mình ngứa ngáy. Ông cũng chẳng xem chuyện ấy ra gì nhưng thình lình khoảng giữa hai vai ông nhói lên một cái như có một bàn tay tóm lấy xương bả vai ông. Lúc đầu ông còn tưởng đâu ai đó đang đùa mình, lúc định cười phá lên thì bàn tay ấy cứ liên tục kéo lấy ông, bấy giờ ông mới nhớ ra mình dựa tường mà ngủ, sau lưng vốn không thể chứa được ai. Sợ quá, ông bèn hét toáng lên. Nhưng miếu bát lạp cách làng đến một hai dặm đường, ai mà nghe thấy chứ? Đương lúc sợ đến bay hết ba hồn bảy vía thì chợt có ai đó từ ngoài miếu xông vào, tay cầm gẫy gỗ phang mạnh vào đầu ông. Ông cậu hãi quá ngất đi, đến khi ông tỉnh giấc thì đã thấy mình đang ngủ trên một thảm cỏ ngoài miếu, bên cạnh ông chính là ông lính già của quân tóc dài.
Ông lính già thấy ông đã tỉnh mới kể cho ông nghe. Ngày đó quân Thanh bao vây tiêu diệt Mộ vương, nhờ có đội quân cầm súng tây dương trợ chiến nên Mộ vương vốn dĩ không thể chống đỡ nổi. Nhưng binh sĩ dưới trướng Mộ vương thực sự rất quả cảm, giá để trường long kê mãi không ngừng (ý là giơ súng), đến khi phấn đỏ (ý là hỏa dược) sắp sửa dùng hết, Mộ vương liền bảo quân mình ngồi thành vòng tròn, đưa lưng vào nhau, mặt hướng ra ngoài, còn ông ta thì ở giữa trung tâm. Ông lính già ngồi ở bên cạnh cửa miếu bát lạp, vừa hay đối diện với bên ngoài. Nghĩ đến quân Thanh mà xông vào chém giết thì bản thân mình chắc ngỏm đầu tiên, trong cơn sợ hãi, chợt ông nghe thấy Mộ vương sau lưng bắt đầu ngâm nga nhưng không phải bài “giảng đạo lý” mà Thái Bình Thiên Quốc dùng để truyền giáo mà ngược lại giống như đạo sĩ đang niệm chú ngôn làm pháp sự. Ông lấy hết can đảm lén quay đầu lại nhìn một cái, chỉ thấy Mộ vương đứng thẳng lưng bên vách tường, tay cầm một nhúm cây kim thép sáng lấp lánh, cắm từng cái vào đỉnh đầu các binh sĩ trước mặt. Cây kim đó rất dài nhưng đỉnh đầu bị kim cắm vào mà những binh sĩ kia lại không hề phát giác, thậm chí trên mặt còn thấp thoáng nụ cười. Ông lính gì sợ đến khờ người mà lúc này đội quân cầm súng tây dương đã phát đợt công kích tiếp theo, thừa dịp đó ông nằm phục xuống đất giả chết, cảnh tượng cuối cùng đập vào mắt ông chính là Mộ vương bất chợt lách mình xông đến vách tường. Bức tường miếu dày dạn mà lại như biến thành một làn sương nuốt mất Mộ vương vào trong nó. Khi ấy, quân Thanh đã xông vào miếu bát lạp, các binh sĩ bị Mộ vương cắm kim thép vào đỉnh đầu bất thần nhảy lên, chém giết chẳng màng hết thảy, thậm chí bị súng bắn trúng chỗ yếu hại mà cũng không có cảm giác gì, làm ông thấy bất ngờ lắm. Chỉ là ít không thể địch nhiều, số binh sĩ gần như không chết ấy cuối cùng vũng bị chém đến máu thịt bầy nhầy. Trong lúc hỗn loạn, ông lính cũng bị chém cho một đao nên hôn mê bất tỉnh. Sau khi được ông cậu cứu sống, ông vẫn luôn khất thực ở gần đó sống qua ngày, nghe nói Mộ vương vẫn chưa bị bắt nên nhớ ra chuyện này, ông vẫn muốn đến xem kết cục nhưng mãi không có gan, đến sáng sớm hôm nay mới lấy hết can đảm đi xem. Vốn chẳng thấy cái gì, đang lúc thất vọng thì bất ngờ phát hiện gương mặt tướng quân trên bích họa sau tường vậy mà giống với Mộ vương một cách khó tin. Sự trùng hợp này khiến ông sợ hãi, vốn muốn chạy đi ngay nhưng nhận ra ông cậu tối đó đến ngủ trước miếu bát lạp nên bèn ở lại một đêm. Khi nghe thấy tiếng kêu thảm thiết của ông cậu, ông lính bất chấp sợ hãi chạy vào thì thấy một bàn tay thò ra từ vách tường túm lấy ông cậu kéo vào trong, thế nên ông ra tay cứu ông cậu. Theo ông nghĩ, Mộ vương là người biết dị thuật, ngày đó muốn thi phép để lưỡng bại câu thương với quân triều đình nhưng quân Thanh xông vào gấp quá, ông ta chưa thi triển phép thuật xong mới đành trốn vào trong vách tường, biến thành bích họa. Bởi vì phép thuật chưa được hoàn tất nên vào rồi không thể chui ra, thế nên không thể không tìm một người thế mạng. Nói đến đây, ông lính già hạ giọng nói Mộ vương chắc là chưa bỏ cuộc, bởi vậy cần phải mau chóng phá bỏ bích họa đó đi. Ông cậu hỏi sao tự bản thân ông ta không chịu làm, ông lính buồn bã nói mình làm quân tóc dài lâu quá, bị áp bức lâu ngày, cuối cùng vẫn là không dám.
Ngày tiếp theo không ai còn thấy bóng dáng ông lính già, cũng không biết ông đã đi đâu. Ông cậu gọi mấy thanh niên trai tráng trong làng cầm theo cái bay đến miếu bát lạp, nói miếu bát lạp có quỷ, mọi người cùng nhau trừ hại cho dân. Đến miếu bát lạp, thấy Một vương trên bích họa mặt mày hung ác, tay trái ôm lấy cánh tay phải, hai mắt như đang trợn trừng mà nhìn ông cậu, nhưng không động đậy gì. Ông cậu mặc dù sợ hãi nhưng nghĩ nếu như không phá bỏ ông ta, chỉ e người khác cũng gặp phải tai ương này, bởi vậy liền lấy cái bay đập vào bức tường. Tuy rằng tường đập rồi chỉ còn toàn là tro bụi nhưng lại thấy có máu chảy ra. Trông tình cảnh này, người bên cạnh đều thấy rõ là có quỷ, thế là dứt khoát phá bỏ cả bức tường có bích họa đi. Chỉ là sau khi phá bỏ thì phát hiện những chỗ khác của bức tường này không có dị tượng gì, vết máu trên tường chỉ xuất hiện ở nơi có hình người với tay trái ôm lấy cánh tay phải. Người ta vứt đất đá xuống sông, về sau nghe nói những ngày trời mưa còn có thể nghe thấy tiếng khóc nức nở truyền ra từ miếu bát lạp, cơ mà thực tế đều là tin vịt, sau đó không hề xảy ra chuyện lạ lùng gì, chỉ là dân làng mỗi lần đi ngang qua đều quen vỗ tay hai cái, nghe nói là để gia tăng chút dương khí dọa ma quỷ tránh đi.
—
[1] Ý chỉ thời Thái Bình Thiên Quốc nổi lên. Cái tên này bắt nguồn từ việc những người này không cạo đầu của nhà Thanh mà nuôi tóc dài rồi búi lên như thời đại trước.
[2] Thiên Đô: Tức Nam Kinh, danh xưng thời Thái Bình Thiên Quốc.
[3] Chữ gốc là “song thương”, đây là mùa người ta gấp rút gặt lúa sớm và gieo lúa muộn vì lúa sớm phải gặt ngay khi chín còn lúa muộn phải được cấy trước mùa thu nên từ trung tuần tháng 7 đến đầu tháng 8 đều phải làm nông trong trạng thái gấp rút.

