YẾN LŨY QUÁI ĐÀM – CHƯƠNG 8: A QUỲ

By

·

9–14 phút

YẾN LŨY QUÁI ĐÀM

Chương 8: A quỳ

Dịch (láo): A Tĩnh

#yenluyquaidam #yenluysinh #aquy

Đây là chuyện tôi nghe kể hồi được gửi nuôi ở nhà ngoại hồi bé.

Nhà ngoại tôi là một căn nhà nhị tiến rất lớn với phần dưới lầu rộng thênh thang. Ông ngoại tôi sinh tiền giao du rất rộng rãi, nhà nông trong làng sáng sớm ra chợ bán rau thường bỏ mấy món cồng kềnh gửi nhờ nhà ngoại tôi, bán đồ xong sẽ tám với ông cả buổi rồi mới về nhà. Lúc đó, tôi kê cái ghế nhỏ ngồi bên cạnh ngoại nghe họ phiếm chuyện với nhau, nông dân trong làng đương nhiên không có kiến thức mấy, chuyện họ nói phần đa đều là quái lực loạn thần, dù sao mức độ giác ngộ chính trị ở địa phương nhỏ cũng tương đối thấp. Trong số những người này có một người tên Nguyên Sinh mà ông ngoại bảo tôi gọi ông ấy là ba Nguyên Sinh. Nguyên Sinh và ông ngoại tuổi tác xấp xỉ nhau, chữ “ba” này trong tiếng Ngô là chỉ “ông” chứ không có nghĩa là “cha” như ngôn ngữ thông thường còn “ông” lại là từ dùng để chỉ “cha”. Bởi vậy ông ngoại bảo tôi gọi ông ấy như thế là để bày tỏ sự tôn trọng và thân thiết với ông chứ không phải để đòi quyền lợi vai vế lớn hơn ông một bậc. Ông ấy nói hồi ông còn trẻ chiến tranh loạn lạc, khi ấy chắc là thời Tề Lô đại chiến [1], bà con xóm làng đều chạy khắp nơi tránh họa, cuộc sống quê nhà hết sức gian nan. Lúc ấy ông Nguyên Sinh còn chưa kết hôn phải kiếm sống bằng nghề làm thuê thời vụ. Có một hôm ông đổ khuôn đất nung gạch xanh thì trông thấy ngoài ruộng có một đôi nam nữ đi tới. Người nam đã hơn năm mươi tuổi, cao cao gầy gầy, mặc bộ áo dài bằng vải xanh cũ; người nữ trẻ hơn, chắc là con gái ông ta, tuy mặc áo vải đơn sơ nhưng tướng mạo cũng không thua gì Viên Tuyết Phân sau này. Viên Tuyết Phân là một diễn viên kịch Quảng Đông có tiếng, sau này diễn vai “thím Tường Lâm” trong “Chúc phúc” [2], là hoa đán kịch Quảng Đông trứ danh những năm bốn mươi, là người tình trong mộng của các chàng trai trẻ vùng Giang – Chiết – Thượng Hải ngày đó. Ông già đến bắt chuyện trước, nói muốn nhờ Nguyên Sinh làm giúp một việc, mỗi ngày sẽ cho ông một đồng đại dương. Với lương bổng thời đó, có mười đồng đại dương đã coi như thuộc tầng lớp trung lưu rồi, mỗi ngày một đồng đại dương, đúng là tiền công làm người ta thèm đỏ mắt, đương nhiên Nguyên Sinh đồng ý ngay tắp lự. Ông lão kia dẫn ông Nguyên Sinh đến một mảnh đất hoang bảo Nguyên Sinh đào xuống dưới. Trong phương viên tầm khoảng hai ba trượng nơi này cỏ mọc hết sức um tùm, cao hơn những hơi khác hẳn một khúc mà phương hướng người đàn ông kia bảo ông Nguyên Sinh đào là ở phía bắc. Đào được khoảng bốn thước sâu thì chợt đầu cuốc vang lên một tiếng bốp như trúng phải vật cứng, phủi đất trên đó ra xem thì hóa ra bên dưới là một tảng đá màu trắng xám cứng rắn cực kỳ. Số đá này vô cùng trơn láng hệt như xi măng cao cấp nhưng cứng hơn cả xi măng. Nguyên Sinh hỏi ông lão đó là gì, sao nơi này lại có xi măng. Ông lão nói đây là cổ mộ, thứ niêm phong mộ không phải xi măng mà là đá phấn. Đá phấn trộn với lòng trắng trứng, sau khi đông cứng lại thì cứng hơn cả đá hoa cương, chính là kiểu này. Dùng cuốc sắt vốn không thể đào tiếp được, ông lão liền bảo Nguyên Sinh tiếp tục đào xuống men theo lớp vữa. Đào đến khoảng bảy tám thước, ông ta bảo được rồi. Ngôi mộ cổ được niêm phong bằng cách đúc từ trên xuống dưới thế nên lớp dưới có thể mỏng hơn một chút. Ông lão cầm khoan bảo Nguyên Sinh khoan. Nguyên Sinh vốn có vóc người cường tráng vậy mà khoan nửa ngày cũng chỉ khoan được hai ba tấc, hơn nữa đầu mũi khoan cũng bị khoan cho cùn. Ông lão thấy đúng là không khoan tiếp được nữa liền bảo cô gái kia đến đây xem còn mình thì lên trấn đặt mua mũi khoan khác.

Ông lão vừa đi, cô gái kia liền bắt chuyện với Nguyên Sinh. Nguyên Sinh khi ấy vẫn còn trẻ tuổi, có một cô gái xinh đẹp nói chuyện với mình, hiển nhiên là ông thấy rất vui. Nói một hồi mới biết cô gái kia vốn cũng là người bên này, tiếp tục nói mới té ra nàng là em họ của một người họ hàng xa của Nguyên Sinh. Khi cô gái này được sáu bảy tuổi đã bị người buôn hoa bắt đi mất, mẹ nàng khóc đến mù cả mắt, phải nhờ Nguyên Sinh thường xuyên tiếp tế, tiễn bà đi chặng cuối cuộc đời, mộ bà còn ở chỗ cách đó không xa. Đến thăm mộ cha mẹ nàng, nàng liền rơi nước mắt. Thình lình nàng nói với Nguyên Sinh, lát nữa hễ nghe thấy nàng kêu lên một tiếng thì phải lập tức nhảy ra sau nhé. Nguyên Sinh không biết làm vậy để làm gì nhưng thấy cô gái kia rành rành bộ dạng đáng thương nên đành đồng ý. Thế là cô gái kia liền nhảy xuống cái hố đã đào rồi cắn ngón tay nhỏ mấy giọt máu xuống vữa xi măng. Một lúc sau, ông lão kia mang mũi khoan mới về bảo Nguyên Sinh đào tiếp. Lần này khoan vô cùng thuận lợi đến khi nghe ‘bốp’ một tiếng, bất ngờ xuyên thủng cả vữa xi măng. Ông lão kia lấy một cái ống đồng dài mảnh ra bảo Nguyên sinh rút mũi khoan ra rồi tức thì cắm ống đồng vào. Từ ống đồng phát ra âm thanh như là tiếng sáo, tựa như có luồng khí xông ra. Ông lão châm lửa đốt, tức thì một ngọn lửa xanh yếu ớt bốc lên từ đầu ống đồng. Thấy tình cảnh này, ông lão lập tức tỏ ra vui sướng. Đến khi ngọn lửa trên ống đồng dần dần biến thành một đốm lửa tàn, ông ta mới bảo Nguyên Sinh khoan tiếp ba lỗ nữa. Bốn lỗ khoan tạo thành hình vuông, khi ấy ông lão móc một tờ hoàng biểu [3] ra dán lên chỗ vữa rồi lại cắn đầu ngón tay vẽ một đạo phù trên giấy, sau đó lôi ra một cái chày gỗ bắt đầu gõ vào. Nói ra cũng lạ, vữa xi măng mà cả khoan cũng khó khoan được vậy mà gõ kiểu này lại bị nứt ra nhưng đường nứt chỉ nằm ở bên trong hình vuông tạo thành từ bốn lỗ khoan này. Ông lão bảo Nguyên Sinh đứng lên phía trước còn mình thì đứng ở bên cạnh Nguyên Sinh, nói bước cuối còn cần Nguyên Sinh giúp gõ sập phần vữa xi măng bị nứt. Lúc đang gõ thì thình lình nghe tiếng cô gái kia kêu lên thảm thiết, Nguyên Sinh bất giác nhảy lùi ra sau. Ông lão vẫn đang cầm chày gỗ mà gõ, thấy Nguyên Sinh bất chợt nhảy lùi, ông lão giật mình vươn tay trái ra túm chân Nguyên Sinh trong khi tay phải vẫn tiếp tục nện vào lớp vữa xi măng. Hai tiếng bốp bốp vang lên, khối vữa xi măng tức khắc đổ ầm tạo thành một hang động hình vuông, Nguyên Sinh trông thấy một bàn tay khô quắp thò ra từ trong cái hang đó tóm lấy ông lão rồi kéo tuột xuống bằng một tốc độ rất nhanh. Tay trái của ông lão vẫn đang chộp lấy chân của Nguyên Sinh, bất thần toan kéo cả Nguyên Sinh vào. Nguyên Sinh sợ đến nỗi hồn bay phách tán, lúc này chợt có một người ở sau lưng kéo lấy cổ áo Nguyên Sinh, vậy là cô gái thì kéo Nguyên Sinh lên còn ông lão thoắt chốc bị bàn tay kia kéo xuống cổ mộ.

Nguyên Sinh sợ đến khờ người, bò lên mà tay chân lạnh toát, người cũng không nhúc nhích nổi. Lúc này cô gái kia cũng chui vào cổ mộ, lát sau thì chui trở ra, cầm theo trên tay vật có hình như cây nấm. Vật đó đỏ lòm như máu, cô gái gẩy một miếng trên đầu vật đó ra rồi bỏ vào miệng Nguyên Sinh, Nguyên Sinh chỉ thấy cả người nóng ran, dần dần hồi phục sức lực. Nguyên Sinh hỏi cô gái chuyện đó là sao, cô gái nói ông lão kia là người trộm mộ, ông ta thấy nơi này có một ngôi mộ cổ, trong đó còn có “a uy” nên mới sinh lòng đào trộm. Trong một ngôi mộ cổ có mọc “a uy” thì xác ướp trong mộ chắc chắn đã biến thành cái xác giữ của, cần phải có thân thể máu thịt làm tế phẩm mới xong. Nàng cảm kích việc Nguyên Sinh đưa tiễn người mẹ đã mất của mình mới cứu Nguyên Sinh một mạng. Nguyên Sinh vốn còn có cách nghĩ khác nhưng nghe cô gái này nói nhiều chuyện quái dị như vậy, đời nào còn dám hỏi thêm? Về sau Nguyên Sinh cũng không dám vào ngôi mộ cổ kia xem có còn báu vật gì khác không mà chỉ lấy đất lấp vào chỗ hở rồi bỏ đi, nếu không phải chuyện đã qua năm sáu chục năm rồi ông ta cũng không kể lại việc này.

Lúc đó tôi không biết “a uy” là thứ gì. Sau này đọc sách cổ phát hiện ở triều đại nhà Đường có một câu rằng “Vàng bạc có giả, a quỳ không thật.” A quỳ thực ra là một loại thuốc có mặt ở một dải khu vực phía tây, là một loại bột phấn tạo ra sau khi nhựa cây khô cứng lại, có tác dụng trợ tim. Bởi Trung Quốc không sản xuất thứ này mà trước đây các “a quỳ” ở các hiệu thuốc đều là hàng giả nên mới có câu nói ấy. Nhưng ở dân gian người ta có một cách nói khác, a quỳ là một vị thuốc cực kỳ quý hiếm, là thuốc thần có thể cải tử hồi sinh, là một loại nấm mốc sinh trưởng trên các ván quan tài. Mà ván quan tài có thể mọc lên a quỳ đều không phải ván bình thường mà nhất định phải là loại gỗ đàn hương cổ tuổi đời trên trăm năm, mà người chết được chôn bên dưới nhất định phải ăn nhiều thuốc bổ lúc sinh tiền, hơn nữa còn phải hạ táng lúc đang giả chết. Cuối cùng, phải đốt đèn nhựa sơn [5] trong cổ mộ cho đủ bảy ngày, như vậy khi người chết tỉnh dậy từ trong quan tài, tinh hoa đúc thành từ các loại thuốc bổ được dùng lúc sinh tiền phà ra khỏi miệng ngưng tụ trên quan tài mới có thể mọc ra a quỳ. A quỳ thấy ánh sáng là chết nhưng không có ánh sáng thì không mọc lên được, bởi thế không thể không đốt đèn nhựa sơn chiếu sáng dịu nhẹ ở đầu quan tài bảy ngày, không làm vậy nấm sẽ không mọc. Điều kiện ngoài sức tưởng tượng lại cực kỳ hà khắc này về lý không thể thực sự có khả năng tồn tại, đương nhiên chỉ là truyền miệng dân gian mà thôi. Có điều, ông ngoại tôi sống rất thọ, 91 tuổi mới lìa đời, mà sau khi ông ngoại qua đời lại được sáu bảy năm mới nghe Nguyên Sinh tạ thế, chỉ không biết ông ấy sống đến gần trăm tuổi rồi có liên quan gì đến vị thuốc mà mình từng ăn không.
1
Các hạ có gì muốn nói?x

[1] Tề Lô đại chiến, còn được gọi là chiến tranh Giang Chiết, xảy ra vào thời kỳ quân phiệt Bắc Dương năm 1924, khi Đốc quân Giang Tô thuộc quân phiệt trực hệ (phái Trực Lệ) là Tề Tiếp Nguyên và Đốc quân Chiết Giang Lô Vĩnh Tường thuộc quân phiệt hoản hệ (phái An Huy) tranh giành quyền quản hạt Thượng Hải và các khu vực lân cận mà làm bùng phát chiến tranh trên quy mô lớn.

[2] Chúc Phúc là một truyện ngắn của Lỗ Tấn kể về cuộc đời khá là bi kịch của một nhân vật được gọi là “thím Tường Lâm”. Vai thím Tường Lâm cũng là vai diễn tiêu biểu của Viên Tuyết Phân.

[3] Loại giấy dùng để vẽ bùa.

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận

FB CHỦ NHÀ

1
0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x