YẾN LŨY QUÁI ĐÀM
Chương 6: Giếng nhốt yêu
Dịch (láo): A Tĩnh
#yenluyquaidam #yenluysinh #giengnhotyeu
—
Một thị trấn cổ xưa nào đó ở An Huy nổi danh với nghề rèn sắt. Trong trấn có một đạo quán tên là “Thùy Nguyên Quán”, nghe nói được dựng lên từ tận thời tam quốc. Quán này được xưng là có ba món báu vật, một cái chuông, một cái giếng và một cái cây. Chuông là chuông đồng, khi gõ lên tuy rằng không thể kinh động trời đất nhưng âm sắc trong trẻo, có thể vang xa hai dặm. Cây là cây ngân hạnh ba bốn người ôm không xuể, xem ra có tuổi lắm rồi. Bởi vì niên đại quá xa xôi nên chuông đồng đã bị hủy vào thời Thái Bình Thiên Quốc, giếng cũng bị lấp không ai nghe nói đến nữa, chỉ có cây ngân hạnh đến nay vẫn còn, cành lá sum suê. Đến những năm 70 của thế kỷ 20, chính quyền địa phương quyết định trùng tu Thùy Nguyên Quán, khôi phục lại di tích cổ xưa này. Tuy đã không còn thấy tung tích cái giếng đâu nhưng chính quyền vẫn quyết định chiếu theo tạp ký trong trấn đào lại đúng vị trí cũ của giếng. Khi đạo quán cơ bản đã được dựng xong, chuông đồng cũng được đúc lại, tiếp đó người ta liền đào giếng. Khi ấy còn chưa có máy khoan giếng, thế nên phải mời chuyên gia đào giếng về. Công việc này không phải người bình thường nào làm cũng làm được bởi đào giếng không dễ mà còn nguy hiểm lắm, lỡ như đào không tốt làm thành giếng sụp thì người bên dưới toàn bộ sẽ bị chôn sống, muốn cứu cũng không cứu nổi. Cho dù không xui đến độ đó thì cũng là đào không thấy nước, kết quả đào ra cái giếng khô, tổn thất cũng tương đối lớn. Trước đây một dải Tứ Xuyên đều ăn muối giếng, rất nhiều người có tiền hễ muốn xây thêm một lầu liền mời người đến đào giếng muối, nếu đào được thì phát tài trúng mánh, đào không được thì ngay cả phần tài sản đang có cũng phải lấy mà đền, thế nên chuyên gia đào giếng xưa nay vẫn cần trợ thủ cả trên lẫn dưới, một mặt cần phải vứt bùn đào được bên dưới đi, mặt khác cũng phải quan sát tình huống, lỡ như có vấn đề gì còn kịp thời báo cho chuyên gia dưới giếng. Khi ấy chuyên gia được mời họ Hà, là người có tiếng trong vùng, tay nghề cực kỳ tốt, nghe nói liếc qua là có thể biết dưới đó có hay không có nước. Ông ta nhìn qua, bảo có thể đào được nước, song đã đào sâu hơn hai trượng dưới cây ngân hạnh rồi mà vẫn chưa thấy nước đâu. Lúc này sư phụ Hà thấy cũng hơi mất mặt, thực ra đào giếng chẳng qua chỉ để tề tụ cho đủ ba bảo vật, nếu thật sự là giếng cạn thì nối ống nước qua vờ như có nước cũng được nhưng sư phụ Hà cảm thấy làm vậy thì bảng hiệu nhà mình bể rồi còn đâu, thế nên không đòi thêm tí tiền công nào mà dẫn theo hai người đệ tử ngày đêm khổ cực. Lại đào thêm một trượng nữa, đột nhiên nghe đầu cuốc vang lên tiếng “cốp”, bới ra xem thử, không ngờ trong vũng bùn lại có một cái đầu lâu to. Vốn đào được một bộ hài cốt ở cái trấn cổ xưa này cũng không phải lạ nhưng khớp của bộ xương này lại to bằng cỡ cái mặt ghế tròn, xương người chắc chắn không to như vậy.
Nghe được tin này, không ít người cảm thấy mới mẻ, ai nấy đều tấm tắc khen kỳ, không biết rốt cuộc là xương gì, trong đó có một cụ già được cháu dẫn đến xem, xem xong giật mình biến sắc nói: “Đây là xương giao long đó!” Hóa ra Thùy Nguyên Quán có một truyền thuyết kể rằng Hứa Tinh Dương chân nhân từng đến nơi này. Ban đầu nơi này là nơi Hứa Tinh Dương giết chết giao long, bởi thấy cháu của giao long chưa gây tội ác tày trời gì mới động lòng trắc ẩn, nhốt con giao long cháu dưới giếng rồi trồng một cây bạch quả kế bên cây ngân hạnh, nói với nó rằng: “Khi bạch quả chín, có thể rời giếng.” Nhưng cây ngân hạnh đó là cây ngân hạnh đực, không kết đôi với bạch quả, thế nên giao long cháu vĩnh viễn không thể ra khỏi giếng. Chuyện kể kiểu này vùng nào cũng có, chẳng mấy lạ lùng nên trước đây cũng không ai nhắc tới, vừa nghe cụ nhắc đến xương giao long, người từng nghe chuyện liền nháo nhào đồng ý, bảo chắc chắn là xương giao long rồi. Có người còn lo bò trắng răng nói cái gì con giao long hung ác mà Hứa chân quân nhốt ấy mà được đào lên là cái trấn nhỏ này sẽ bị lũ lụt, biến thành đầm sâu. Ngày tiếp theo vẫn có không ít người đến xem nhưng khi đến trước cửa Thùy Nguyên Quán thì phát hiện cửa đã bị khóa và có người ở đó canh chừng; nghe ngóng một hồi nhưng không ai dám kể chuyện gì xảy ra, thế nên có người toan đi tìm sư phụ Hà hỏi thử. Cơ mà hỏi thử thì lại nghe nói sư phụ Hà không còn ở đây, trên trấn còn phát cho người nhà ông ta một món tiền trợ cấp nữa, đến đây mọi người mới biết là có chuyện thật rồi. Mấy tháng trôi qua, Thùy Nguyên Quán mở cửa, những người này cố tình đi xem cái giếng mới đào nhưng nhìn không ra có gì kỳ lạ mà trấn nhỏ này cũng không bị lũ lụt, thế nên câu chuyện này dần dần lắng xuống.
Lại sắp qua thêm hai mươi năm nữa chuẩn bị đón chào thiên niên kỷ mới. Chính quyền trong trấn bắt đầu xúc tiến đầu tư để phát triển kinh tế địa phương, có người giới thiệu một thương gia giàu có đến. Thương gia giàu có này tuy mới chừng bốn mươi tuổi nhưng thân hình tráng kiện, cũng rất có nguyện vọng đầu tư, biết ông ta rất thích cổ vật nên lãnh đạo trong trấn vì muốn tỏ lòng cảm tạ đã đặt làm mô hình tinh xảo của Thùy Nguyên Quán bằng kĩ nghệ rèn sắt chế tác bởi một người thợ lành nghề của địa phương cho ông ấy. Mô hình này được làm cực kỳ khéo léo, chế tác mô phỏng đúng với hiện trạng, không ngờ rằng thương nhân này trông thấy liền xỉu ngay. Chuyện này cũng dọa các vị lãnh đạo kia sợ hết hồn, không biết chuyện gì xảy ra. Lúc đến bệnh viện thăm thương nhân, có người thư ký lén hỏi: “Tiên sinh không thích mô hình kia hả?” Người thư ký này và vị thương nhân kia rất hợp ý nhau. Ban đầu ông ta úp mở quanh co một hồi, sau mới nói ra sự thật. Hóa ra thương nhân này không phải ai khác mà chính là người đồ đệ của sư phụ Hà khi ấy. Hôm đó, sư phụ Hà thấy mình phán đoán sai đào không ra nước, cảm thấy quá mất mặt liền bất chấp tất cả liều mạng tiếp tục đào xuyên đêm với hai người đồ đệ mình. Đào được đến bốn trượng sâu là do người đồ đệ này cầm cuốc. Gã cuốc hai cái, chỉ cảm thấy đầu cuốc đập trúng vật gì rất cứng. Dưới giếng tối quá nên cũng nhìn không được bèn duỗi tay ra sờ, ra là một cái đầu lâu dài tầm một xích, miệng dày. Gã vừa cầm cái đầu lâu ấy lên liền thấy có nước thấm ra ướt nhẹp từ kẽ đất. Gã kinh hãi có thừa bèn thuận tay nhét cái đầu lâu đó vào lưng quần, gọi: “Sư phụ, có nước nè!” Sư phụ Hà nghe thấy cuối cùng cũng đào ra nước, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Lúc này là thời khắc quan trọng nhất, sư phụ Hà liền gọi đồ đệ lên còn mình thì một mình thắt dây thừng xuống dưới. Người đồ đệ vừa lên, sư phụ Hà liền nhìn gã nói: “Ôi chao, chú bị thương rồi, mau băng bó đi.” Nói rồi liền xuống dưới ngay. Đồ đệ nhìn kĩ mới thấy hai tay mình đúng là có dính chút máu nhưng khi rửa dưới vòi nước bên cạnh thì lại phát hiện trên người mình hoàn toàn không có vết thương nào, vậy số máu đó từ đâu mà ra? Gã bắt đầu thấy lo liền đến miệng giếng hỏi vọng xuống: “Sư phụ, dưới đó sao rồi?” Cũng chính ngay lúc này, gã nghe thấy tiếng kêu thảm thiết của sư phụ từ dưới đó vọng lên: “Mau kéo thầy lên!” Gã vội kéo dây thừng quấn trên mình sư phụ lên nhưng mới kéo lên đã thấy sức nặng dị thường. Dốc hết sức kéo một hồi mới thấy đầu sư phụ lộ ra khỏi miệng giếng nhưng cả gương mặt đều trắng bệch, tròng mắt lồi ra, hai tay bấu chặt nền đất. Gã hốt hỏi nói: “Sư phụ, rốt cuộc xảy ra chuyện gì?” Nhưng sư phụ cũng không nói được gì nữa. Lúc đó, nương theo anh trăng, gã trông thấy từ phần lồng ngực sư phụ trở xuống như đang mặc một cái áo da, nhĩn cho kĩ lại mới biết hóa ra là một con quái vật hình dạng như rồng đã nuốt chửng hơn nửa người sư phụ. Gã sợ đến mức tay mềm nhũn ra, cũng trong chính giây phút này, sợi dây thừng đột nhiên bị đứt, con quái vật kia mang theo sư phụ cùng tuột xuống giếng. Gã sợ đến nỗi co giò chạy thẳng, không dám ngoái đầu, sau đó làm thuê đầu đường xó chợ. Ngẫu nhiên có một lần phát hiện ra trong cái đầu lâu vắt ở eo lúc đó có một viên ngọc đen sáng bóng, bán được không ít tiền, từ đó mới có vốn làm ăn phát đạt.
Người thư ký hãy còn nhỏ tuổi nên không rõ chuyện này, thế nên liền về kiểm tra lại hồ sơ ở cục cảnh sát, chỉ thấy bảo lần đó đào giếng xảy ra sự cố, kết quả làm sư phụ Hà bị chôn sống dưới giếng. Khi ấy, lãnh đạo trấn sợ chuyện này truyền ra làm mọi người sợ không dám đến Thùy Nguyên Quán nữa nên mới đè chuyện này xuống, bỏ mặc không lo, ghi chép cũng mơ hồ. Người thư ký nghi ngờ tay thương nhân này hẳn là nói dối, khả năng cao hơn là bọn họ đào được báu vật được chôn dưới đất của người xưa, người đồ đệ thấy tiền sáng mắt bèn mưu sát sư phụ, sau đó bịa ra câu chuyện này để che giấu sự tình. Về phần nước màu đỏ trào ra dưới giếng, có thể là do dưới đất có chu sa chứ không có gì kỳ lạ. Chỉ là chân tướng của việc này rốt cuộc có phải thế không thì chẳng ai biết được.
Hiện giờ người thương nhân giàu có kia đang là khách quý của lãnh đạo, cho dù năm đó ông ta thực sự tham tài hại mạng cũng là chuyện chết không đối chứng rồi.

