YẾN LŨY QUÁI ĐÀM – CHƯƠNG 3: SAI GIÁ

By

·

9–14 phút

YẾN LŨY QUÁI ĐÀM

Chương 3: Sai giá

Dịch (láo): A Tĩnh

#yenluyquaidam #yenluysinh #saigia

Vào những năm 80, cổ vật trở thành trào lưu. Tuy hành vi sưu tầm cổ vật đã có từ lâu nhưng người thực sự sưu tầm cực ít. Đến những năm 80, bỗng nhiên có tin đồn rằng cái tủ của một nhà nào đó bán được đến vạn tệ, cái chén của nhà nào đó bán được mấy nghìn, những con số này dọa người ta giật mình ngơ ngác. Ai nấy đều nhao nhao về lật tung đồ cũ trong nhà mình lên, kì vọng có món nào đó cũng có thể bán được ra cái giá cao như vậy. Thêm nữa các văn vật lưu lạc dân gian không ít, bởi thế sưu tầm cổ vật bất giác biến thành một nghề rất kiếm được tiền, được không ít người theo.

Trên trấn có một gã lông bông không nghề không ngỗng nhưng lại hết sức thông minh. Có lần có người sưu tầm cổ vật bảo gã giúp mình đến các thôn làng thu mua các đồ đựng cũ, nói rằng bất kể thu mua cái gì cũng được, chỉ cần là đồ cổ là được. Trận đó gã kiếm được mấy nghìn tệ, bỗng dưng no cơm ấm cật được một hồi lâu. Thế là tai mắt liền bắt đồng linh hoạt, gã nghĩ chuyện này cũng không khó làm, thay vì kiếm cho người ta, chi bằng kiếm cho bản thân mình. Bởi cũng không có nhiều vốn nên gã toàn đi mua những món nhỏ lẻ, tuy rằng kiếm không được số nhiều nhưng nhất thời ví tiền cũng phồng lên không ít. Có một dạo gã về làng thu mua hàng hóa, lúc đến một nhà kia xin miếng nước uống thì phát hiện trong vườn nhà đó có một cái chậu cho mèo ăn, hình dáng cực kỳ cũ kĩ, lòng chậu còn có ít hình hoa tráng men. Gã cảm thấy món này có thể đáng tiền liền nói chuyện với người nhà ấy, tốn mười tệ mua về. Sau khi về rửa sạch nhìn kĩ mới phát hiện giữa chậu có một con cá nhưng hình vẽ rất thô sơ, đưa đến cho mấy ông chủ mua hàng xem thử ai cũng cười nói là đồ làm vào thời Dân Quốc, nhiều lắm chỉ đáng hai ba tệ. Nghĩ bụng mình đã tốn mất mười tệ, giận quá gã toan dứt khoát không bán mà để ở giếng trời hứng nước mưa trồng củ tỏi luôn. Qua một thời gian, có một thương nhân đồ cổ từ Quảng Đông đến mua hàng, bởi ra giá cao mà có rất nhiều người đến tìm ông ta thử. Đồ giả thời nào cũng có, bấy giờ bởi vì đồ cổ đáng giá nên đồ giả cũng nhiều hơn, chỉ là tên người Quảng Đông này có ánh mắt sắc sảo, thật giả chỉ liếc một cái là nhìn ra ngay, những kẻ thu đồ cổ kia nói những món ông ta chọn đều là đồ tốt thế nên chỉ cần là món mà người Quảng Đông đó muốn mua thì sẽ vùn vụt nâng giá, gần như coi ông ta là giám định viên tình nguyện, làm người Quảng Đông kia cũng mất sạch hứng thú.

Gã lông bông nọ cũng mời ông ta đến nhà mình xem thử, nhưng bởi vì gã này vốn ít, kết quả người Quảng Đông kia nói hàng mà gã thu được có một phần ba là giả, số còn lại không đáng một đồng. Gã lông bông hết sức không phục bèn đem hết số đồ mình cất giữ ra, người Quảng Đông kia nhìn món nào cũng đều lắc đầu; lúc xem cái ấm thì bởi căn phòng cũ kĩ này quá tối nên bèn bưng cái ấm kia đến chỗ giếng trời xem cho tỉ mỉ, vừa nhìn hai cái thì chợt liếc thấy cái chậu trồng tỏi kia, ông ta liền kinh ngạc nói: “Có bán cái chậu này không? Tôi ra giá một nghìn.” Vừa nghe thế, gã lông bông hết sức kinh hoàng nhưng ngoài mặt thản nhiên như không, chỉ nói món này là chú ruột nhờ gã bán giùm, có bán hay không phải hỏi chú mới biết. Người Quảng Đông kia sốt ruột, chỉ đành để gã mau chóng đi hỏi, xem chừng chuyện chắc chắn xong, bỏ thêm chút đỉnh cũng chẳng sao cả. Người Quảng Đông ấy vừa đi, gã lông bông vui quên trời quên đất, mau chóng vứt củ tỏi trong chậu ra rửa cho thật sạch, đặt vào một cái hộp giấy cứng lót bông. Bày biện thế xong, cái chậu bất giác trông cũng quý hơn nhiều, gã lông bông cảm thấy chuyến này chắc chắn có thể kiếm được một món hời to. Những người mua cổ vật thường có một câu rằng “Mua mười nói một,” nghĩa là ra giá một thường chỉ là một phần mười giá trị thật thôi. Tên Quảng Đông kia vừa ra giá đã nói một nghìn, chứng minh cái chậu này ít nhất phải đáng một vạn. Nhưng hét đến một vạn người Quảng Đông kia sẽ không có lời, ra đến tám nghìn chắc là đã ổn. Càng nghĩ gã càng thấy sướng, cả đêm không ngủ được, cũng sợ cái chậu này vỡ mất bèn cho vào cái rương gỗ bên giường.

Ngày tiếp theo, quả nhiên người Quảng Đông kia đến, vừa đến liền vồn vã hỏi chú ruột gã nói gì, đồ có bán không? Gã lông bông cười nói: “Hỏi thì hỏi rồi, chú ruột tôi nói đây là đồ tổ truyền, vốn không muốn bán nhưng nếu ông đã biết nhìn hàng, chú tôi bảo trả chín nghìn tệ sẽ bán cho ông.” Người Quảng kia do dự một lúc, nói: “Tám nghìn bán hay không?” Đây chính là cái giá mà gã muốn nhưng gã lông bông quá am hiểu nghệ thuật trả giá, làm bộ làm tịch một hồi đến khi đang muốn đồng ý thì ai ngờ người Quảng Đông kia chợt nghiến răng nói chín nghìn thì chín nghìn, chỉ có điều phải lấy mấy món hôm qua ông ta xem ra cho ông ta chọn. Bình thường một món bán được hai ba trăm đã là không tệ, gã lông bông hài lòng lắm rồi, thế nên lấy cái chậu trong rương quần áo ra. Vừa thấy gã mở rương quần áo móc cái hộp giấy cứng ra, người Quảng Đông kia bất chợt biến sắc, đến khi gã lấy ra hẳn rồi, người Quảng Đông kia đã đấm ngực giậm chân, nước mắt nước mũi kèm nhèm.

Gã lông bông giật nảy mình hỏi ông ta sao thế, người Quảng Đông kia mới than vắn thở dài nói cái chậu này có tên là chậu “trăng lên cá nhảy”, đổ đầy nước vào đặt dưới ánh trăng, con cá dưới đáy chậu sẽ bơi lội trong cái chậu đó, là một món bảo vật cực kỳ hiếm có. Nhưng chính vì nó là báu vật nên bắt buộc phải dùng nước mà nuôi hơn nữa còn không được dùng nước sạch mà phải dùng nước có mấy động vật nhỏ như lăng quăng mới được, làm vậy con cá trong chậu mới sống. Ông ta thấy cái chậu được để trong sân, bên trong còn trồng ít tỏi, vừa nói vừa chỉ chỉ trỏ trỏ, bảo vốn vảy cá trong chậu đã ánh vàng lấp lánh, bây giờ cạn khô cả rồi biến thành cá khô, món bảo vật này cũng không còn đáng giá nữa, vừa nói vừa lắc đầu. Gã lông bông trước tiên cũng giật mình ngơ ngác bởi thấy người Quảng Đông kia nói sống động như thật, song gã vẫn giữ chặt cái chậu không buông, bụng nghĩ mấy câu này quá nửa là mánh khóe gạt người, cái chậu vẫn đáng giá như thường, bởi thế bèn cười lạnh nói nếu cá trong chậu này đã chết khô rồi thì vụ mua bán này coi như bỏ, vừa nói vừa ra vẻ muốn thu về. Lúc này người Quảng Đông kia liền nói tuy rằng cá đã chết khô nhưng cái chậu vẫn còn, chẳng qua là không đáng nhiều tiền như vậy, chỉ có thể trả một nửa. Gã lông bông không chịu, đã thỏa thuận là phải chín nghìn. Cuối cùng người Quảng Đông hết cách bảo tám nghìn, ngoài ra thêm một món đồ nhỏ nữa, bằng không hai bên phủi tay ra về. Gã lông bông cũng sợ cuối cùng xôi hỏng bỏng không, huống chi tám nghìn đã là cái giá gã muốn ban đầu rồi thế nên đồng ý.

Lúc đó cái giá tám nghìn tệ là một con số không nhỏ. Gã lông bông cầm món tiền này, thoắt chốc áo lụa quần là. Người chung nghề thấy gã đột nhiên trúng mánh liền nhao nhao hỏi gã bới được món báu vật nào, gã lông bông ban đầu không chịu nói, sau mới hí ha hí hửng kể lại câu chuyện này. Vừa nghe cái chậu không đáng một đồng kia vậy mà lại bán được tám nghìn, bọn cùng nghề toàn bộ ngơ ngác, nghĩ không ra chuyện như thế nào. Bởi vì theo họ thấy cái chậu đó đừng nói là tám nghìn, tám tệ cũng không tới. Nhưng nếu bảo người Quảng Đông kia không biết nhìn hàng thì sao lúc mua đồ của người ta lại nhìn thấu từng chân tơ kẽ tóc vậy. Mãi đến mấy năm sau đồ cổ ở thôn quê cơ bản đều bị mua sạch, có mua tiếp cũng chỉ toàn đồ nhái, mấy tên này có người đổi nghề, có người ra ngoài thu mua, gã lông bông bởi làm nghề đã lâu nên cũng theo cùng. Một năm kia gã từ Quảng Đông trở về, lúc tụ tập nói chuyện phiếm với dân trong nghề bèn nhắc lại vụ làm ăn thuở ấy, gã lông bông thở dài nói mọi người đều bị cụ người Quảng kia lừa rồi. Lúc gã đến thị trường mua bán văn vật ở Quảng Đông còn đặc biệt hỏi xem khi ấy trên thị trường có xuất hiện cái chậu cá nào không đáng tiền nhưng lại bán giá cao không, những người trong nghề ở Quảng Đông kia đều toàn bộ lắc đầu nói hoàn toàn chưa từng nghe qua món nào như vậy, mà nghe gã tả lại cũng thấy không phải món gì tốt. Chuyến này gã cũng mang theo một số đồ, đằng Quảng Đông nhất thời không dám xuống tiền mua, bảo phải mời một vị tiền bối “mắt lửa” đến giám định mới được. Người đó đến rồi mới hay chính là người Quảng Đông đã từng mua hàng của mình. Đôi mắt lửa ấy danh bất hư truyền, đã nhìn là chuẩn, sau khi xong việc gã len lén thỉnh giáo “mắt lửa”, khi ấy “mắt lửa” vốn đã quên béng gã rồi, vừa kể lại chuyện thì liền cười nói: “Tiểu huynh đệ này, cái chậu cá đó của cậu vốn không đáng tiền, có điều, trong đống đồ vụn vặt của cậu có một cái ấm Mạn Sinh [1].” Ấm Mạn Sinh là tác phẩm của Trần Mạn Sinh triều Thanh, vốn là tinh phẩm trong các loại ấm tử sa. Sau gã lông bông đó nghe ngóng được rằng sau mấy lần “mắt lửa” đi Giang Tô và Chiết Giang mua hàng có đem về một cái ấm Mạn Sinh, bán được hai mươi mấy vạn. Đến nay, chỉ sợ giá đã lên đến hơn hai mươi vạn Mỹ kim rồi. Về việc tại sao phải bịa chuyện quỷ thần, “mắt lửa” cũng cười nói làm ăn phải thế, ban đầu những tên thu đồ cổ kia tiếc của không bán mà chỉ xem ông ta như giám định viên tình nguyện mới ép ông ta phải diễn một màn này. Mà càng nói cho kỳ quái, đối phương sẽ một lòng tin rằng cái chậu kia đáng tiền mà không biết rằng thứ thực sự đáng tiền chính là cái ấm.

[1] Ấm Mạn Sinh: Ấm Mạn Sinh hay Mười tám kiểu ấm Mạn Sinh là một trong những tác phẩm được thư họa gia, điêu khắc gia triều Thanh – Trần Hồng Thọ thiết kế, hai anh em nghệ nhân tử sa Dương Bành Niên, Dương Phụng Niên đích thân chế tạo thành mười tám loại kiểu dáng ấm tử sa kinh điển. Bởi tên tự của Trần Hồng Thọ là Mạn Sinh nên được đặt tên là mười tám kiểu ấm Mạn Sinh hay còn được gọi là ấm Mạn Sinh. Trần Mạn Sinh dùng kim thạch, thư họa, thơ từ dung hợp vào công nghệ làm ấm trà, bổ sung lẫn nhau, tạo ra một loại phong cách nghệ thuật ấm tử sa độc đáo mà lão luyện, tạo ra tiền lệ kết hợp hoàn mỹ giữa văn học, thư họa, điêu khắc và công nghệ làm ấm trà, tạo ra phong cách nghệ thuật làm ấm trà độc đáo, để lại danh ngôn kinh điển trong lịch sử làm ấm trà: “Ấm quý nhờ chữ, chữ truyền theo ấm”.

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận

FB CHỦ NHÀ

1
0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x