CHUYỆN LẠ Ở THÀNH TRƯỜNG AN – HƯƠNG NƯƠNG

By

·

57–86 phút

CHUYỆN LẠ Ở THÀNH TRƯỜNG AN

TRUYỆN: HƯƠNG NƯƠNG

Dịch (láo): A Tĩnh

#truongankydam #chuyenlaothanhtruongan #huongnuong

—

(1)

Trương gia sơn ở đỉnh Phượng Hoàng có một nơi là vùng trũng khuất gió trên đỉnh núi, vùng trũng này có sơn trang với cổng chào, bia đá đánh dấu trước cổng làng có khắc “Miếu làng Trương gia”. Cách bia đá không xa có một cổng chào “Trung Hiếu” hùng vĩ, qua lạc khoản viết bằng chữ nhỏ trên cổng chào có thể lờ mờ đọc được dấu tích của hai từ “sắc tạo” [1], còn nguyên nhân dựng nên và năm tháng xây dựng đã mơ hồ đến nỗi không tra được nữa. Đằng sau cổng chào là ngôi miếu với tùng bách lượn quanh. Trên bức hoành phi ở cửa núi có khắc ba chữ lớn “Trương gia miếu” đồ sộ, mé phải bức hoành phi khắc lạc khoản bằng chữ khải viết “Binh bộ Thị lang kiêm Đô Sát viện Hữu Phó Đô Ngự Sử Tán Lý Quân Vụ kiêm Quản Lý Lương Hưởng Thiểm Tây Tuần Phủ Bộ, Bộ Viện Trương”, mé trái là “Người họ Trương đỗ đầu trong số mười hai cử nhân khoa thi cuối mùa thu năm Mậu Ngọ, Gia Tĩnh, lập”.

Ông cụ trông miếu rót cho người qua đường một chén nước súp, ông bảo thường có người lạ ra sau núi rồi vào đây nghỉ chân, nồi cơm to trong miếu chỉ cần thừa ra đều sẽ để lại hết cho khách dùng. Có người khách hỏi thăm ông cụ về lai lịch của cổng chào ngôi miếu, cũng có người hỏi về lạc khoản trên bức hoành phi ở cửa núi, lần nào ông cụ cũng bảo đây là miếu nhà, người trong tộc cho rằng văn hiến và gia phả là bí mật của bản tộc nên không muốn công khai cho người ngoài biết sự nghiệp và tên húy của tổ tiên mình.

Trong vườn gia miếu này có một người phụ nữ trung niên, bấy giờ đang dọn cỏ tạp ở kẽ bậc đá, miệng lầm bầm nói gì đó. Miếu này tổng cộng có bảy tám tạp vụ và người làm vườn, nhưng mặc cà sa đội mũ tu hành chỉ có mình bà mà thôi. Chắc là cảm nhận được ánh mắt của người qua đường mà người phụ nữ trung niên ngẩng đầu nhìn một cái rồi lại tiếp tục công việc. Thoạt nhìn, người qua đường này bất giác nảy sinh cảm giác quen thuộc nhưng mãi đến lúc về mà rốt cục vẫn không nhớ ra được bà là ai.

Mấy ngày sau, khách qua đường nọ chạm mặt Tiểu Văn trên đường, đầu óc thình lình sáng láng, nhớ đến người phụ nữ mặc tăng bào mình đụng mặt trên gia miếu nhà họ Trương mấy người trước – Chính là mẹ của Tiểu Văn đây mà. Thế nhưng vị khách này không dám xác nhận với Tiểu Văn xem đó có phải mẹ cậu chàng hay không, từ nhỏ bọn họ đều biết mẹ của Tiểu Văn đã xuất gia làm ni cô, chuyện này cũng trở thành tâm bệnh và kiêng kỵ của Tiểu Văn, ai cũng không dám nhắc trước mặt. Về nhà nhắc đến chuyện này, ông nội của người khách nói đó chính là mẹ của Tiểu Văn, tính ra cũng xuất gia được hơn hai mươi năm rồi và tiện miệng nhắc đến lai lịch cội nguồn của miếu nhà họ Trương luôn.

Nam đinh trong miếu làng Trương gia đều mang họ Trương, xưa nay chưa từng có người ngoài họ nào cư ngụ trong làng, hơn nữa làng có trước miếu, người ở đó đương nhiên đều là họ Trương, dần dần trở thành một ngôi làng quần cư là chuyện của sau này. Trước đây núi Trương gia là một ngọn núi hoang vô danh ở Tần Lĩnh, bốn bề không khói bếp, chỉ là có một ngôi miếu Sơn Thần không biết được xây từ triều nào đại nào dựng lên ở trũng núi nhưng cũng đã hoang phế dột nát từ lâu. Tổ tiên họ Trương trong lúc chiến loạn chạy thoát vào Tần Lĩnh, lúc đi ngang ngọn núi hoang đó thì gặp một ngôi miếu đổ nát bèn ở lại đó nương náu tạm thời, sau này đành phải sửa chữa tu bổ miếu toàn thể Sơn Thần biến thành nhà mình, bắt đầu khai khẩn đất hoang xung quanh sinh sống qua ngày.

Độ ẩm trong núi cao, đất đai màu mỡ lại có đủ thứ sinh vật trong núi, tổ tiên nhà họ Trương nhờ cần mẫn siêng năng mà nhanh chóng giúp cả nhà no cơm ấm cật, sau lại xây thêm mấy gian nhà tranh ở kế miếu Sơn Thần. Núi hoang thì không có thuế má phu phen, tích lũy đồ đạc trong núi làm gia sản mấy năm cũng đổi được ít tiền nhàn rỗi. Tổ tiên Trương gia trải lắm sự đời, không dùng tiền nhàn rỗi đó tiếp tục khuếch trương nhà cửa nơi ở mà cho con cái xuống núi học ở trường tư thục Trường An để biết chữ đọc sách. Học hành đến đời thứ ba cuối cùng cũng ra được một tú tài. Về sau vừa cày vừa học truyền đời lại có thêm một cử nhân cho đến khi đỗ được tiến sĩ ở kỳ thi trước điện.

Học hành với sinh con vốn cùng đạo lý với nhau, chỉ cần nắm được bí quyết thì phất lên không gì cản nổi. Trương gia trở thành nhà làm quan, người không làm quan thì kinh doanh dựa vào người làm quan, người kinh doanh lại cấp dưỡng cho người đọc sách cầu học làm quan. Đời này truyền đời nọ, vòng này tiếp vòng kia, cả nhà Trương thị bèn dần dần trở thành vọng tộc vùng bản địa. Các chi hệ họ Trương sau khi giàu có dần dọn về Trường An nhưng đời sau đều không quên vùng đất xuất thân của tổ tiên mình, vì thế sớm đã tu sửa ngôi miếu cũ trong thung lũng thành từ đường tông tộc, biến nó thành nơi bái tế làm “đất nuôi rồng” của Trương gia. Sau lại mua đất đai của ngôi miếu hoang này từ huyện phủ, đặt tên là núi Trương gia. Nơi ấy vốn dĩ là đất hoang trong Tần Lĩnh, có người tình nguyện vung tiền, hiển nhiên huyện phủ vui lòng hết sức. Từ đó, hậu nhân nhà họ Trương không ngừng tu sửa khuếch trương nền móng từ đường, lại xây thêm phần mộ an táng cho người mất ở lân cận, rồi tách một ít ruộng đất ra mua thêm nhiều nhà cửa để nuôi dưỡng những người không có cách gì nuôi sống bản thân trong tộc hoặc thất thế về làng, cứ thế mà diễn hóa thành một thôn trang lấy gia miếu làm trung tâm.

Pháp luật triều đình khi ấy có những hạn chế về đẳng cấp rất nghiêm ngặt với từ đường tông miếu, tế điện thờ cúng thần chủ với tư cách là chủ thể ắt phải phù hợp với đẳng cấp thân phận của chủ nhân, số lượng cột trong tế điện và chủng loại vật tế để thờ cúng đều có quy chế do Lễ bộ quy định, nhà quan viên cúng tế phải nghiêm túc chiếu theo phẩm cấp mà làm, vượt quá định chế là trọng tội. Trương gia trước đây tuy rằng có người làm quan nhưng quy chế từ đường chỉ vào loại trung bình, mãi đến khi có một Tuần phủ thì từ đường mới được thăng cấp lên thành nhất đẳng, chính là quy chế như miếu Trương gia hiện giờ.

Núi Trương gia tính theo văn thư khế ước thì là tài sản thuộc miếu, thuộc về loại sản nghiệp cho dù có phạm trọng tội bị tịch thu gia sản thì triều đình cũng để lại cho, huống chi gia tộc còn chưa sa sút. Mỗi năm giao thừa thanh minh, các loại xe ngựa kiệu mềm đỗ khắp xung quanh miếu, hậu nhân Trương gia vẫn ở đây tế bái tổ tiên như thường, hơn nữa càng là phú thương quan lớn càng quyên tặng nhiều tiền, cũng càng thường đến đây hơn.

Bởi dẫu sao cũng là miếu nhà nên người làm vườn trông coi đã không phải hòa thượng cũng phải ni cô mà chỉ một ít người già của nhà họ Trương mới thường được đến đây quét tước sân trước, không những thế còn từ chối tăng ni nơi khác đến nương nhờ, người qua đường ăn cơm thì được nhưng không cho lưu trú. Mẹ Tiểu Văn với tư cách là người ngoại tộc mà hơn hai mươi năm nay vẫn cứ làm ni ở miếu Trương gia, duyên cớ chuyện này phải kể từ mấy trăm năm trước.

(2)

Thời gian nha dịch tan làm vẫn còn tới một khắc nữa, thư biện của phòng Hình đã bắt đầu thu dọn bàn làm việc và bắt đầu tán dóc.

“Trương thư biện, hôm nay vẫn không đi uống với chúng tôi mấy chén à?” Tư lại cấp trên của Hình phòng hỏi.

Trương Sinh vội cúi mình hoàn lễ: “À… Không được không được, sắp tròn một năm rồi, thực sự đã suýt quên…”

“Bỏ đi bỏ đi, tôi nói mà, anh ta có tấm lòng sắt đá, ban đầu tưởng đâu là nói chơi thôi chứ, ha ha ha…” Một thư biện đồng liêu lớn tiếng cười nói.

“Oản Nhi Cư không phải tiệm ngày đầu lập nghiệp đâu, chưởng quỹ nói thịt kho tương là bí quyết gia truyền, còn có rượu ủ mấy chục năm nữa, bảo chúng ta đến thử món mới đó.” Cấp trên nhìn chung quanh một vòng rồi nén giọng mới nói, “Nghe nói đầu bếp là em vợ của ông chủ, từng làm đứng bếp nấu cơm cho bốn đời Bộ Đường đại nhân trong Tổng Đốc Thự, giờ nghỉ hưu vì tuổi đã cao thôi. Ngoài ra nghe nói đầu bếp này còn có thể tùy ý ra vào hậu trạch của Tổng Đốc Thự, có nói chuyện phiếm với Bộ Đường đại nhân cũng là chuyện hàng ngày. Mấy ngày trước Oản Nhi Cư có mời đường tôn [2] chúng ta đến thử món mới, sau đó là nhị lão gia, tam lão gia cũng qua, giờ mới gọi đến chúng ta ấy.”

Một vị thư biện khác cũng nén giọng phụ họa: “Đúng đúng đúng, tôi cũng có nghe, một người bạn tôi nói lúc đầu bếp này ra đi có để đồ đệ mình lại Tổng Đốc Thự làm bếp trưởng, thông qua người đồ đệ này mà thư từ có thể đưa thẳng vào đó, hơn nữa ở nha môn chỉ cần phụ trách phục vụ Bộ Đường đại nhân và các khách quý, tám món thịt kho tương bí truyền không phải sáng ra là làm, bữa nào cũng có mà ăn đâu.”

“Ôi chao, thế về sau chúng ta đi ăn nhớ phải trả tiền, sao dám ghi sổ nữa.” Cấp trên nhìn thư lại vừa mới lên tiếng, nói.

Địa phương bình thường trên có Tri huyện, Huyện thừa, Chủ bạ, các loại chủ quan khinh miệt mà không ra khỏi nha môn, còn nha dịch không chấp hành công vụ lại thường dân bá tánh, thế nên ba ban sáu phòng ở giữa ai đứng đầu cũng có thể trở thành bá vương. Lại nói, nha môn không người thì làm ăn kiểu gì? Không đi ăn mấy bữa thì không thể an tâm. Cái gọi là ghi sổ của cấp trên cũng chỉ là nói thì nói thế chứ về rồi lúc trưng phái lao dịch thuế má cứ tiện tay vơ vét tiệm người ta thoải mái là xong.

“Vậy không được, nghe Ngụy Ban Đầu nói đường tôn đại nhân chúng ta ăn xong còn đích thân thưởng tiền cho nữa kìa.”

“Ôi chao, vậy chúng ta đi thì không dám nói bừa rồi, rượu cũng phải uống ít lại, lỡ đâu quá chén nói ra cái gì không thể rút lại thì phiền to, đặc biệt là hai người đó.” Cấp trên trỏ vào hai thư biện đó, “Aiz, tưởng đâu người ta vốn xem trọng chúng ta, bây giờ xem ra là chúng ta phải xem trọng người ta, Trương thư biện, tình hình này mà cậu cũng không đi? Có thể không uống rượu nhưng đi cho quen mặt. Chả phải năm sau cậu lên huyện ứng thí à, đi có thể mốc nối quan hệ với thượng cấp nha môn mà.”

Trương Sinh lại vội hoàn lễ: “À… Này thì… Này thì, thôi không làm mất hứng của mọi người, về rồi bảo nương tử làm chút điểm tâm mang cho mọi người thưởng thức nhé.”

“Thằng nhóc này!”

“Cậu thành thân hay thành Phật vậy, như đổi người khác ấy.”

“Đúng vậy, lần trước uống rượu với nhau là chuyện tận năm ngoái rồi. Sớm biết thế này đã đổ vào mồm cậu thêm mấy vò rượu nữa.”

“Bận trước đi Liễu Phong viện, Xuân Yến cô nương còn hỏi sao lâu quá rồi không gặp Trương công tử. Ha ha ha, tôi bảo cậu ta thành thân rồi, cũng thành Phật luôn nên mới quên sạch hồng trần thế tục. Xuân Yến nói thành thân rồi thì càng không phải nên ra ngoài sao? Tôi nói Trương thư biện này, Xuân Yến cô nương người ta vậy mà lại một lòng một dạ với cậu, còn mong cậu chuộc thân cho nữa đó, ha ha ha…”

“Ai dà, đừng trêu nữa, đừng trêu nữa.” Trương Sinh cúi đầu cười nhăn nhó.

Trước lúc thành thân, Trương Sinh thường tham dự các bữa tiệc nhỏ với đồng liêu, có đôi khi còn cùng nhau đến Liễu Phong viện uống rượu hoa. Xuân Yến là cô nương ở Liễu Phong viện, có phần thanh tao thoát tục, chắc là gặp mấy lão già thối nát quen rồi nên mới cư xử với thư sinh văn nhược như chàng bằng kiểu cách khác đi.

“Trương thư biện đúng thật là “Hớp ngụm rượu ngon bọt tựa kiến, pha sương tóc chải mỏng như ve” [3]!”

“Không phải ai cũng bảo Xuân Yến sắp được người ta chuộc thân thoát tịch rồi à?”

“Chuộc cái méo, ông chịu móc ra nghìn lượng bạc không? Số đó có thể mua hai ba viện ngoại trạch đó.”

“Vậy cũng đúng, có khi lão tú bà lại đang nâng giá rồi.”

“Bà ta nói chuyện có lời nào thật đâu!”

“Đủ rồi đủ rồi, đi thôi đi thôi.”

Các đồng liêu ồn ào huyên náo cười hỉ hả bước đi xa rồi Trương Sinh mới rời khỏi Hình phòng, ra khỏi nha môn cũng không cưỡi ngựa mà đi bộ thẳng về nhà. Vốn trước đó ra vào nha môn có đầy tớ theo hầu nhưng nửa năm trước phát hiện nô bộc già của mẫu thân ở tiền viện vì làm việc nặng mà kiệt sức, vốn tính mua thêm một đầy tớ trẻ trung khỏe khoắn về sai sử nhưng nương tử lại sai tùy tùng của Trương Sinh đến tiền viện luôn. Nương tử nói bây giờ đọc sách không cần người hầu nữa, chẳng qua cũng chỉ bưng trà rót nước thôi mà nên nàng càng bằng lòng tự mình hầu hạ Trương Sinh, hơn nữa nàng hiềm hậu viện đông người phức tạp. Tới lui lâu ngày, trên dưới nha môn chỉ còn có một mình Trương Sinh, nhưng chàng cũng không thấy có gì không tiện, ngược lại bớt phải nghe tùy tùng lải nhải nhà đông dài chái tây ngắn gì.

Trương Sinh vừa đi vừa tính thời gian, chớp mắt đã thành thân sắp được một năm rồi. Năm ngoái Trương Sinh đỗ tú tài trong kỳ thi viện, sau đó người nhà liền lo việc thành thân cho chàng, hơn nữa thúc phụ còn xoay được cho chức thư biện ở Hình phòng huyện nha, nói có thể làm quen sơ với pháp luật, sau này thi cử các cấp sẽ có chỗ dùng. Tuy là thư biện nhưng lại là bạch dịch [4], không được tính vào định chế nha dịch mà cũng không có tiền công làm việc. Buổi đầu dựng nước, Thái Tổ Gia quốc triều cực hận đám quan lại nhỏ bé bèn phát minh văn quy định tư lại và con em tư lại đều không được ứng thí, cho dù muốn rũ sạch tư phận tư lại cũng phải con cháu ba đời sau mới được đi thi, còn bạch dịch không gặp phải hạn chế này. Trương môn là vọng tộc làm quan nhưng chi hệ của phụ thân Trương Sinh từ đời ông nội thì đã không có người làm quan nữa, ngay cả tú tài cũng phải đến đời thứ tư mới có mình chàng. Người đứng đầu các chi hệ khác của nhà họ Trương đời nào cũng có người làm quan, có rất nhiều người hiện làm quan ở kinh thành và nhậm chức tại địa phương, chi hệ của Trương Sinh dần dần dạt ra ngoài rìa tông tộc. Cũng đúng, càng là người làm quan càng nịnh hót, không giúp gì được cho tông tộc còn phải dựa vào thế lực của tông tộc thì tự nhiên sẽ bị khinh rẻ thôi.

Trương Sinh từ nhỏ học hành cũng khá, phụ thân và thúc phụ đều nói là hạt mầm tốt, họa may sau này có thể gánh vách được thanh danh của chi hệ mình. Thế nhưng sức khỏe phụ thân không tốt mầ qua đời từ sớm, chuyện của Trương Sinh thường do thúc phụ làm chủ. Thúc phụ là em ruột cùng cha cùng mẹ với phụ thân, đứa con trai của thúc phụ từ nhỏ đã đá gà chọi chó, không phải người chịu học, bởi thế thúc phụ dồn hết hi vọng lên người Trương Sinh. Trương Sinh cũng không phụ kỳ vọng của gia đình, viện thí lần thứ hai đã đỗ được tú tài.

Sau khi đỗ tú tài, thúc phụ quyết định cho cậu thành thân với Hương Nương. Hương Nương là nhũ danh của Trương nương tử, nghe nói sau khi sinh ra đã có mùi thơm kì lạ trên người nên phụ thân đặt cho nàng tên ấy. Người làm mai là bạn của thúc phụ, nhà Hương Nương là bà con xa với người mai mối, phụ thân Hương Nương là Học chính nghỉ hưu về quê. Trước khi thành thân, thúc phụ và người mai mối còn dẫn Trương Sinh đặc biệt đến chào Học chính. Học chính đại nhân đích thân đánh giá tài nghệ văn chương của Trương Sinh, đại khái cũng thấy có tài bèn hứa gả con cho, bằng không Trương Sinh tuyệt đối không thể với tới hôn sự này. Hương Nương gả vào không bao lâu, Trương Sinh quyết định ăn chay kiêng rượu, ban đầu chỉ là nói đùa với Hương Nương cho vui, ai ngờ cũng sắp được một năm rồi.

Hương Nương là người tin Phật, tuy nàng là đệ tử tại gia nhưng tuân thủ nghiêm ngặt giới luật “ngũ huân tam yếm” [5], vì thế mà bị mẹ chồng mắng cho không ít lần. Thực ra trước khi thành thân Trương Sinh không biết Hương Nương là đệ tử tục gia, nếu biết có khi sẽ thấy lo ngại. Sau này gặp người làm mai rồi nhắc đến chuyện này, người làm mai nói nhà Hương Nương không tin Phật, chả phải do ông ta thường đến chỗ Học chính đại nhân uống rượu mới biết Hương Nương có tuổi tác xấp xỉ Trương Sinh sao. Chẳng qua cũng chẳng hề gì, ăn chay cũng chẳng có gì mà không thích nghi được, ngược lại tự thấy người nhẹ nhõm hơn, có khi kiếp trước mình cũng là đệ tử Phật môn không chừng. Người duy nhất bất mãn là mẫu thân chàng, lão nhân gia người không tin Phật, cũng không muốn con trai tin Phật, vì thế đã quở trách Hương Nương không ít lần, sợ Trường Sinh vì thế mà lánh vào không môn, dẫu sao chàng cũng là đứa con độc nhất.

(3)

Trương Sinh vừa suy nghĩ vẩn vơ vừa bước vào cửa nhà, sau khi thỉnh an mẫu thân ở tiền viện thì bước vào hậu viện. Hương Nương nghe tiếng bước chân, mừng rỡ ra đón, dùng phất trần giúp Trương Sinh phủi sạch bụi đường. “Tướng công vất vả rồi.”

“Mẫu thân không tới hậu viên sao?” Từ lúc mẫu thân vào hậu viện quở trách nương tử một lần lúc chàng đi vắng, câu này đã trở thành câu cửa miệng của Trương Sinh lúc về nhà.

Hương Nương không tiếp lời, nàng chỉ mỉm cười lắc đầu, sau đó buông phất trần xuống rồi đổ nước vào chậu đồng. Trương Sinh rửa tay xong thì ngồi trước chiếc bàn vuông ba mấu một chân, trên bàn đang bày mộc nhĩ xào rau diếp, gỏi mầm đậu, cải thảo lên men, cà tím hấp và bánh táo bọc cao lương, toàn là món Hương Nương tự làm ở nhà bếp, hoàn toàn không giống các món ăn của những nhà phú hộ.

Nhà có sẵn ruộng đất từ đời ông bà tổ tiên, chia đến nhà họ cũng còn không ít, hoàn toàn không thiếu ăn thiếu mặc. Lúc mới thành thân, vợ chồng hai người đều ăn cơm chung với mẫu thân ở tiền viện, bữa cơm nào cũng có rượu thịt. Mẹ Trương thích gắp thịt cho con trai ăn còn Hương Nương chỉ gắp mỗi rau, bản thân nàng cũng chỉ ăn rau. Sau này Hương Nương dọn dẹp lại phòng bếp nhỏ bỏ không, nói nếu như nửa đêm Trương Sinh đọc sách có đói cũng có thể nấu ít thức ăn đêm bất cứ lúc nào. Thời gian lâu dần, cơm tối đều ăn ở hậu viện, chàng không xem chuyện đó ra gì, mẫu thân ăn cơm sớm, nếu cùng ăn thường xuyên quá thì phải đợi chàng từ nha môn trở về; chia nhau ra ăn đến lúc mình về thì mẫu thân và nha hoàn tôi tớ đều đã ăn cả, thế là chỉ có vợ chồng hai người cùng ăn cơm.

Hậu viện vốn vẫn còn hai nha hoàn nhưng cũng bị Hương Nương sai ra tiền viện hầu hạ mẹ chồng, từ hồi Hương Nương gả vào đây, nàng nhất quyết không dẫn theo nha hoàn nhà mẹ đẻ. Nếu như không phải đến truyền lời thì nha hoàn cũng tránh quấy rầy nên không muốn ra hậu viện, bởi thế ngày thường hậu viện chỉ có hai vợ chồng trẻ sống với nhau.

“Mấy ngày nữa là ngày rằm, vừa hay đến phiên tướng công được nghỉ phép, nếu như không có việc gì… tướng công cùng nô gia đến chùa Quán Âm dâng hương nhé.” Hương Nương ngồi bên cạnh gắp mầm đậu cho Trương Sinh, nói.

“Chính là thiền tự Quán Âm ở đỉnh Phượng Hoàng à?”

“Phải, tướng công từng đến ư?”

“Chưa, chưa đến bao giờ. Bận trước có nghe một đồng liêu nhắc tới, hình như là đi theo mẹ anh ta, nghe bảo nơi đó có cây ngân hạnh cổ được không ít người tế bái, phải chờ tròn trĩnh nửa ngày mới xong.”

“Ừ, chính là cây ngân hạnh nghìn năm.”

“Nhưng có duyên cớ nguyên do gì không?”

“Ngân hạnh có rất nhiều loại, tục xưng là Phật Chỉ, Tiểu Phật Thủ, Đồng Tử Quả. Thiền tự Quán Âm có Đồng Tử Quả, “đồng tử” ngụ ý là “đồng tử” [6], nghe nói mỗi một quả rơi xuống đều đại diện cho một đứa bé trai sắp sửa ra đời, bởi thế mà có rất nhiều bà lên đó… cầu con…” Nói rồi, má Hương Nương đỏ ửng, khóe môi hơi nhếch lên, nhìn về phía chiếc kệ chứa đồ cách sau lưng Trương Sinh một quãng không xa. Trên đó có một chậu thụy hương, đóa hoa trắng muốt đang nở đến hồi rộ nhất, tỏa hương thoang thoảng.

“Ừ, đúng rồi, nương tử muốn sinh con trai cho ta mà, ha ha.”

“Tướng công… Nô gia vào nhà cũng sắp một năm rồi, muốn sinh đứa con cho tướng công sớm chút, huống chi… mẹ chồng cũng giục gấp lắm rồi.”

Thấy Hương Nương chứa chan tình ý thế, Trương Sinh vui sướng bỏ đũa xuống mà nắm lấy tay nàng: “Được, ta đi với nương tử, cũng lâu lắm không ra ngoài rồi, lúc này cảnh sắc trên núi ắt đang hồi đẹp lắm. Mấy ngày trước thỉnh an mẫu thân, mẹ còn hỏi khi nào mới ẵm được cháu trai nữa là, ha ha…”

“Tướng công…”

Ăn cơm xong, Trương Sinh theo thói quen soi đèn đọc sách một lúc rồi mới đi nghỉ, trước khi thành thân chàng đã có thói quen này, sau khi thành thân cũng không lơi lỏng. Huống chi kỳ thi hương sắp đến, người đọc sách nào mà chả mong trúng cử.

Ngồi trước thư án cầm quyển “Thuyết Uyển” trên tay, Trương Sinh do dự rồi đặt qua một bên, lại giở quyển “Kim Cang Bát Nhã Mật Đa Mật Kinh” bị đè ở dưới lên.

Hương Nương thu dọn chén đĩa rồi bưng trà đặt lên thư án.

Sau khi phái nha hoàn đến tiền viện, Hương Nương đều tự mình dọn dẹp. Trương Sinh từng nói mấy lần nếu nương tử muốn nấu cơm thì ít nhất cũng nên để cho nha hoàn đến dọn nhưng Hương Nương không chịu, nói cảm thấy hậu viện đông người phức tạp thêm.

Trước khi xuất giá, Hương Nương chưa từng làm việc gì ở nhà mẹ đẻ nhưng sau khi gả cho Trương Sinh thì cố chấp tự lực cánh sinh, không hề bận tâm mình là tiểu thư xuất thân nhà quan lại. Hương Nương liếc thấy quyển sách Trương Sinh cầm thì mỉm cười nói: “Tướng công lại đọc kinh rồi, mẹ mà biết được lại nói nô gia.”

“Lúc này mẫu thân ngủ lâu rồi.”

“Thuyết Uyển bị bỏ rơi biết bao nhiêu ngày rồi, cũng không thấy tướng công đọc công danh của Thái Tổ gia gì cả.”

“Không ngờ nương tử cũng biết chuyện này?”

“Tướng công quên rồi, gia phụ là Học chính mà.”

“Đúng rồi nương tử, chỗ này nhắc đến tứ tướng, tứ tướng là gì?” Trương Sinh trỏ vào kinh thư hỏi.

Hương Nương vốn đang mỉm cười nhìn Trương Sinh thình lình nín lặng, do dự giây lát rồi ngồi xuống chiếc ghế tròn trước thư án mới khiêm cung nói: “Tứ tướng gồm ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Phật Đà nói toàn thể chúng sinh hữu tình, chúng sinh vô tình đều là dạng sống với ngũ uẩn dung hòa, mà chúng sinh đều chấp vào bản ngã hằng thường bất diệt của dạng sống này.” Hương Nương chau mày, nhẹ nhàng đẩy Thuyết Uyển đến trước mặt Trương Sinh, “Tướng công không được hỏi nô gia về những thứ này nữa mà nên đọc nhiều văn chương giúp ích cho hoạn lộ của mình. Một là nô gia không thể giảng kinh cho tướng công nghe, hai là cho dù tướng công muốn hiểu cũng nên thỉnh giáo một người khác, không thể biết từ miệng nô gia được.”

“Nương tử không phải nghĩ nhiều, chỉ là tiện miệng hỏi thôi.”

Hương Nương đẩy chén trà đến trước mặt Trương Sinh rồi bỏ đi. Trương Sinh khép quyển kinh thư lại, mở Thuyết Uyển ra. Dù chỉ là những chuyện vụn vặt hằng ngày nhưng Trương Sinh giở được hai trang thì đã thấy chán. Trước đây Trương Sinh chưa từng có cảm giác này, gần đây mới thường xuyên xuất hiện, tuy mắt vẫn dán vào trang sách nhưng mạch tư tưởng sớm đã bay đến chín tầng mây rồi.

Thành thân không được bao lâu thì Trương Sinh trong lúc vô tình để ý thấy một chiếc hộp sơn đen chạm hoa văn đỏ là đồ bồi giá của Hương Nương, kích cỡ không lớn nhưng cực kỳ tinh xảo. Hộp không khóa nhưng cũng chưa thấy Hương Nương mở ra bao giờ, chàng tưởng đâu có vật quý báu gì mới mở hộp ra, không ngờ trong đó lại là mấy quyển kinh Phật bọc lụa. Trương Sinh tiện tay giở một quyển ra xem, kết quả xem mê mẩn quá nên cứ đứng xem mãi cho đến khi Hương Nương phát hiện. Lúc ấy, Hương Nương hết sức căng thẳng, vội vàng xin lỗi Trương Sinh nói chỉ là đồ cũ ở nhà mẹ đẻ, không nỡ bỏ mới cầm qua đây tưởng niệm, ở nhà chưa từng giở xem bao giờ. Sự thực cũng đúng là như vậy, Trương Sinh ở nhà chưa từng thấy Hương Nương giở xem, nhưng thứ làm Trương Sinh lấy làm kinh ngạc là phản ứng của Hương Nương. Chuyện Hương Nương biết chữ chàng đã biết từ trước lúc thành thân. Con của một Học chính, cho dù là gái thì biết chữ cũng chẳng lạ lùng gì. Trương Sinh hỏi Hương Nương sao lại không lấy ra, rảnh rỗi đọc chơi cũng được mà.

Mẹ Trương không tin Phật cũng không hỏi tới, sau khi ba Trương qua đời mẹ Trương ngày nào cũng theo sát con trai, Trương Sinh vì thế mà phiền não không thôi, bụng nghĩ nếu mẫu thân cũng giống thẩm nương ngày ngày bái Phật niệm kinh, tốt xấu gì cũng có chuyện để làm, mình cũng có thể được tự do chút.

Hương Nương nói trước lúc xuất giá phụ thân có dặn, con gái gả đi rồi phải cố gắng hết sức không đọc sách viết chữ, ở nhà đọc thì không sao nhưng đừng để mình làm trò cười cho người khác, tự cổ nữ tử bất tài mới là đức. Thêm nữa mẹ chồng không tin Phật, nàng càng không dám lấy ra, huống chi tham thiền ngộ đạo cực kỳ dễ lan truyền, lỡ như ảnh hưởng đến công danh của Trương Sinh thì tội lớn lắm thay. Kết quả là Trương Sinh tự cầm kinh sách ra bàn, dường như cực kỳ hứng thú. Lúc đầu Hương Nương hãy còn băn khoăn, sau thấy Trương Sinh thực sự có ý nên cũng dần bớt kiêng dè, chỉ đề phòng mẹ chồng và nha hoàn thấy. Ngày thường thổi đèn nằm xuống, hai vợ chồng cũng thường nói về các điển cố trong kinh Phật, như thế, thời gian đọc sách mỗi tối của Trương Sinh đều thành đọc kinh Phật.

Có lần trong bữa cơm, hai người lại nói về kinh Phật, Hương Nương nói có lẽ Trương Sinh có Phật duyên nên mới thế. Trương Sinh hỏi làm sao biết là có duyên với Phật hay không, Hương Nương bèn thuận tay trỏ vào thức ăn trên bàn, đùa rằng chẳng hạn như rượu thịt đây, xem Trương Sinh có thể kiêng được mấy ngày. Kết quả là Trương Sinh tức thì nổi hứng bèn quyết định thử xem, thậm chí không khai trai [7] không uống rượu, không ngờ rằng mới đó mà sắp một năm rồi.

Trước đây tuy đều ăn cơm với Hương Nương trong hậu viện nhưng bữa cơm cũng có rượu thịt, bởi Trương Sinh vẫn muốn ăn còn Hương Nương chỉ làm chứ không ăn. Nói đến chuyện này, Hương Nương bảo làm là làm ăn là ăn, rượu thịt là rượu thịt, Phật Đà là Phật Đà nhưng bản thân mình dẫu sao cũng vẫn là mình, ăn thịt uống rượu chưa hẳn là trong lòng không có Phật hay kiêng rượu thịt là trong lòng có Phật. Thiền sư Đạo Tế nói “Rượu thịt trôi tuột khỏi dạ dày còn Phật Tổ ở lại trong tim”, cho dù muôn ngàn chúng sinh không thể độ hóa kiểu như ngài nhưng giữ giới chung quy vẫn là một loại tu hành. Phật ở trong tim không ở thân, ăn với không ăn không có gì khác biệt, giữ giới là một loại chấp niệm, chỉ thế mà thôi.

“Tướng công nghỉ ngơi sớm đi.”

Trương Sinh còn đang ngơ ngẩn trên mây thì bị Hương Nương ngắt dòng tư tưởng, hai vợ chồng bèn thổi đèn nằm nghỉ.

(4)

Vào rằm mấy ngày tiếp theo, Trương Sinh nghỉ phép.

Sáng sớm, hai vợ chồng từ biệt mẫu thân. Trước đó hai ngày, Trương Sinh đã nói với mẫu thân là khi nghỉ phép chàng muốn theo Hương Nương đến chùa Quán Âm cầu con. Mẹ Trương nghe xong thì cực kỳ vui vẻ, sáng sớm hôm nay cũng nở nụ cười hiếm thấy với Hương Nương. Trong mắt bà, con trai có làm quan được không không quan trọng, có người nối dõi mới là quan trọng nhất.

Tùy tùng đánh chiếc xe lớn chạy miết về nam, chùa Quán Âm ở dưới đỉnh Phượng Hoàng của dãy núi Chung Nam, cách thành Tây An mấy chục dặm. Phải trở về trước khi trời tối, bởi thế mà xe ngựa chạy liền một mạch không dám dừng nghỉ quá nhiều. Trương Sinh và Hương Nương ngồi trong thùng xe, Hương Nương không ngừng vén góc rèm xe nhìn ra ngoài cửa sổ, vừa nói chuyện với Trương Sinh vừa nhìn người đi đường và các vật hiếm lạ, vui vẻ vô cùng.

Ngày nào Trương Sinh cũng đều ra vào nha môn nên không thấy quá buồn bực chứ Hương Nương nếu không phải cùng ra ngoài với Trương Sinh thì cả ngày phải rầu rĩ trong nhà. Thấy Hương Nương vui vẻ như vậy, Trương Sinh nghĩ bụng cũng nên đưa Hương Nương ra ngoài đi lại vận động nhiều hơn mới được.

Chùa Quán Âm đó là tự viện do Đường vương Lý Thế Dân sắc tạo. Tương truyền năm đó Kinh Hà Long vương và một vị tiên sinh bói toán đấu khí với nhau. Long Vương không giáng mưa theo ý chỉ của Thiên Đế mà mạo phạm thiên điều, phải bị Quang Lộc đại phu Ngụy Chinh chém trên đài Quả Long. Kinh Hà Long Vương biết khó thoát tội chết liền giảng hòa với tiên sinh bói toán xin được một kế, báo mộng nhờ Đường vương cứu mạng. Lý Thế Dân bằng lòng cứu ông ta nên cố tình tìm Ngụy Chính đến đánh cờ vào ngày giết rồng toan làm lỡ thời gian hành hình, không ngờ lúc đánh cờ Ngụy Chính vờ ngủ rồi chém chết Long Vương trong mơ. Sau khi Long vương chết liền tức thì nổi giận, liên tục nhập mộng quấy rầy hù dọa Lý Thế Dân. Lý Thế Dân sợ hãi sinh bệnh, lúc bị bệnh nhớ đến Quán Âm Bồ tát từng điểm hóa Đường Tam Tạng đi tây thiên thỉnh kinh liền xin Bồ Tát siêu độ cho Kinh Hà Long Vương, thế nên mới sắc tạo chùa Quán Âm này.

Đỉnh Phượng Hoàng là đỉnh núi thình lình mọc lên trong quần thể núi ở mạn bắc dãy Chung Nam, hình núi tựa như Bồ Tát ngồi thiền, cực kỳ thích hợp làm đạo tràng Quán Âm. Ngày chùa xây xong, Lý Thế Dân khỏi bệnh liền đích thân tế bái, lại cho trồng một cây Đồng Tử Quả, chính là cây ngân hạnh đến nay đã hơn nghìn tuổi trong chùa. Dưới gốc cây có suối Nhãn Cổ ngầm thông đến Kinh Hà, nước suối trong lành mát ngọt, nghìn năm không cạn. Cho đến ngày nay, chùa Quán Âm nhờ có cổ tự cổ thụ cổ tuyền mà hấp dẫn rất đông khách hành hương, cả ngày đông người tấp nập.

Tiếng chuông trên xe lanh lảnh theo cùng vó ngựa và tiếng trục xe cót két thẳng tiến chùa Quán Âm. Ngày thường Trương Sinh rất ít đi tự viện, chỉ vào lúc giao thừa tế tổ và thanh minh tế mộ mới đến gia miếu một chuyến cùng người trong tộc; bức tượng thờ trong gia miếu là ai chàng cũng chưa từng quan tâm, chỉ biết bài vị của lịch đại tổ tiên đều được thờ trong điện thờ ở hậu điện. Tằng tổ, tổ phụ, phụ thân cũng ở đó, xem ra sau khi mình chết cũng sẽ có một tấm bài vị được thờ phụng ở đó rồi.

Trương Sinh lặng lẽ theo Hương Nương dâng hương hết các điện rồi đến hậu viện. Lúc ở trên xe, Hương Nương đã dặn chuyến này đi là để cầu xin Đồng Tử Quả, Trương Sinh vào tự viện thì dập đầu nhiều mà nói ít thôi. Cây ngân hạnh ở hậu viện che nửa vòm trời, thân cây ba người ôm không xuể, cành lá rậm rạp um tùm xòe ra che cả nửa cái đình, cành cây dưới thấp treo đầy các loại dải lụa, hà bao, trang trí. Dưới gốc cây có thờ một bức tượng Quán Âm bằng ngọc thạch, trước tượng có đặt một đỉnh lư hương cực lớn hương khói lượn vòng, xung quanh có vài bà đang quỳ, hai tay chấp thập. Có phụ nữ trẻ, cũng có các bà mẹ chồng hoặc mẫu thân tuổi tác đã cao. Hương Nương dập đầu trước tượng Quán Âm rồi tìm một nơi đất trống dưới táng cây, cũng quỳ chấp thập một cách thành kính.

Chung quanh có không ít các ông tỏ vẻ chán ngắt hệt như Trương Sinh, khỏi đoán cũng biết là đang đợi người nhà. Trương Sinh ra sườn núi sau cây đi dạo, nơi đó ít người đến chơi. Tùng bách xung quanh sườn núi ấy vậy mà ken nhau dày đặc, hai bên con đường nhỏ còn có cải thảo, cải dầu, cà rốt mọc thành từng khóm, có tăng nhân đang làm việc.

Trong lúc tản bộ, Trương Sinh không ngừng ngoái đầu nhìn Hương Nương dưới táng cây, trong lúc bần thần, tư tưởng lại bắt đầu chộn rộn, nhớ đến chạng vạng mấy ngày hôm trước. Ngày đó, sau khi ăn tối, Trương Sinh và Hương Nương theo lệ đến thăm hỏi mẫu thân, thỉnh an xong Trương Sinh bị mẫu thân giữ lại một mình, trông thấy khí sắc của mẫu thân, Trương Sinh liền biết có chuyện.

“Con mẹ gần đây có dụng công đọc sách đàng hoàng không?”

“Thưa mẹ, ngày nào con cũng dụng công đọc sách.”

“Toàn đọc mấy thứ tà môn ngoại đạo linh ta linh tinh, con tưởng mẫu thân không biết ư?”

“Mẫu thân…”

“Tâm tư nên đặt ở công danh, chớ quên lời dặn của cha con lúc lâm chung.”

“Vâng, con trai nhất định… không phụ di nguyện của phụ thân.”

“Hôm kia đi thăm thím con, nghe nói thúc phụ con cứ nhắc sắp tới sẽ kiểm tra việc học hành của con, hình như có quen đại quan nào có học thức nói là muốn chỉ điểm thêm cho con, con mẹ chớ nên lười biếng.”

“Dạ, thưa mẹ.”

“Thím con còn nói nha môn có chuyện cười về con, làm thúc phụ con tức đến đập bàn ngay tại chỗ, nói mặt mũi bị con làm cho mất sạch cả rồi.”

Trương Sinh nhất thời hoang mang, nghĩ không ra mình đã gây ra chuyện gì không thỏa đáng ở nha môn liền nói: “Mẫu thân, con trai ở nha môn chưa từng làm gì nên tội, có lẽ thúc phục nghe nhầm thì sao? Hình phòng cũng có một thư biện họ Trương nữa.”

“Thúc phụ con nói con sau khi thành thân thì không ăn chung với đồng liêu, còn phao tin mình phải ăn chay niệm Phật, có chuyện này không?”

Trương Sinh cả kinh: “Thưa mẹ… Con trai chỉ là… Chỉ là nói đùa với đồng liêu thôi… không phải thật…”

“Không phải thật thì sao lại có trò cười này? Thúc phụ con cực kỳ bất mãn chuyện ấy. Tốt xấu gì cũng là nha môn, không kết giao đồng nghiệp có thể làm việc được chăng? Sau này thăng tiến làm quan cũng không kết giao đồng nghiệp được chăng?”

“Thưa mẹ…”

“Từ ngày con dâu vào cửa, xem dáng vẻ mỗi ngày của con đi, cơm không lo ăn, sách không lo đọc, nha môn thì lời ong tiếng ve, toàn học mấy trò nghịch ngợm phá phách, tốt xấu gì cũng là Học chính đại nhân, sao lại dạy ra đứa con như vậy? Mẹ lại hỏi con, con dâu vào cửa đã sắp một năm rồi, sao còn chưa có hỉ? Đường huynh của con hơn con hai tuổi mà con người ta bao lớn rồi kìa? Có thể thấy tâm tư con dâu không ở chỗ con. Nó ăn chay niệm Phật, vi nương không muốn quản nhưng cha con chỉ có một đứa con là con, chuyện nối dõi không thể xem thường.”

“Thưa mẹ…”

“Chi hệ nhà ta ở Trương gia đã rơi xuống bước này, con còn không tỉnh ngộ?”

“…”

“Vi nương nhiều đêm mơ thấy cha con, cha con nhìn mẹ bằng vẻ mặt nặng nề, xem ra là hiềm mẹ dạy con không tốt, nếu con không đi về đường ngay nẻo chính thì coi chừng lớp da của con…”

Toàn là lời từ tận tâm can của mẫu thân nhưng Trương Sinh nghe cực kỳ khó chịu.

Mấy ngày trước tan làm về hậu viện, thấy Hương Nương ngồi tựa bên giường lẳng lặng khóc thầm, truy hỏi mấy lần mới biết trưa đó mẫu thân ra hậu viện quở trách nàng, ghét nàng dẫn trượng phu dấn thân vào không môn. Mà không mang thai được là thật lòng muốn Trương gia tuyệt hậu, còn tiện thể mắng luôn nhà thông gia một trận. Vì chuyện đó mà Trương Sinh hết sức phiền lòng. Ban ngày ở nha môn thỉnh thoảng lại cảm thấy bất an, cứ lo mẫu thân lại đến hậu viện.

Thâm tâm chàng cực kỳ yêu thích Hương Nương, đêm động phòng gặp được cứ thấy thân thiết thế nào. Hương Nương nói mình cũng có cảm giác đó, hai người không hề xa lạ gì nhau, ngược lại là càng lúc càng thấy mẫu thân khó chịu.

Trong lúc tâm hồn treo ngược cành cây, trông thấy Hương Nương dưới gốc cây vẫy tay gọi mình, Trương Sinh liền rảo bước xuống núi.

“Được rồi? Mau cho ta xem thử.”

Hương Nương vui vẻ xòe hai tay ra, trong lòng bàn tay nàng là một quả ngân hạnh hơi lớn hơn hạt đậu tằm một chút, hình quả tròn xoe trong xanh ẩn vàng, đầu trước tròn vo không góc cạnh, hai góc rộng hơn, hai bên nổi lên hai gờ rõ rệt, mặt đáy hệt như đuôi cá.

“Đây chính là Đồng Tử quả?”

“Ừ, chỉ xin có một canh giờ hơn mà đã rơi xuống rồi, khéo thay rơi trước mặt nô gia.” Hương Nương không giấu nổi vẻ vui mừng, lấy khăn lụa tỉ mỉ bọc quả đồng tử vào trong.

“Đây ý là nói Bồ Tát đồng ý ban cho chúng ta đứa con trai?”

“Tướng công không được vọng ngôn, hà bao có trên người không?”

Trương Sinh móc hà bao trước vạt áo ra, là hà bao do Hương Nương chính tay thêu, một mặt thêu hoa sen mặt còn lại thêu đứa trẻ, hai người cùng nhau chọn một cành cây rồi treo lên. Trên cành có treo rất nhiều hà bao dây đỏ, cầu con có mà sinh được con rồi hoàn nguyện cũng có.

Thời gian còn sớm, Hương Nương dẫn Trương Sinh đi một vòng từng ngóc ngách tự viện, dập đầu bái lạy từng cái một, cuối cùng khi đến đại hùng bảo điện, Trương Sinh bỏ lại đĩnh bạc rồi hai người mới ra đi.

Trên đường về, Trương Sinh thấy Hương Nương ngập tràn vui sướng thì bảo chi bằng thỉnh tượng Bồ Tát về nhà nhưng Hương Nương kiên quyết từ chối. Nói thỉnh về nhà nhất định sẽ chọc mẹ chồng nổi giận, huống chi Trương Sinh vẫn phải lấy công danh sự nghiệp làm chủ, không thể bị ảnh hưởng chút nào. Bái Phật chú trọng hành vi, chú trọng việc làm, không phải ở cung phụng.

(5)

Hôm nay, Trương Sinh đang chỉnh lý lại một bộ hồ sơ kết án tố tụng thì một vị đồng liêu vừa bước vào đã bảo chàng đến phường Giới Thạch, nghe bảo thúc phụ chàng về, đang đợi chàng ở đó. Trương Sinh mau chóng ra khỏi Hình phòng, rảo bước vòng qua ba ban, dân, tạo, phòng [8], trông thấy thúc phụ chấp tay sau lưng đứng trước cột đá ở phường Giới Thạch dõi mắt nhìn công đường cách đó không xa như đang nghiền ngẫm điều gì. Thúc phụ là điển lại Lễ phòng ở huyện nha Trường An. Tri phủ tân nhiệm là thám hoa, hết thảy mọi thứ ở Lễ phòng nhiệm kỳ mới này đều tương đối phức tạp, các công tác có liên quan đến thượng cấp nha môn đều do thúc phụ tự mình phụ trách. Tuy nói Trương Sinh và thúc phụ làm cùng làm việc ở nha môn nhưng cả ngày Trương Sinh chỉ ngồi trong hình phòng chép sổ, rất ít khi trông thấy thúc phụ.

Đến trước cột đá, Trương Sinh chắp tay làm lễ với thúc phụ: “Thưa thúc phụ.”

Thúc phụ ‘ừ’ một tiếng, nhấc chân hướng về một góc giữa công đường và Binh phòng. Lúc này đã là giờ bãi đường, chỗ này là góc chết không người trông thấy. Trương Sinh đi cách sau thúc phụ ba bước, thúc phụ không nói không rằng chàng cũng không nói tiếng nào. Đến góc khuất, thúc phụ mới xoay người. “Gần đây Hình phòng bận lắm sao?”

“Vâng, thưa thúc phụ, cấp trên yêu cầu sắp xếp lại toàn bộ văn thư đã kết án, nghe nói Tri phủ đại nhân có thể lấy đọc bất cứ lúc nào.”

“Ở đó có thấy tiến bộ gì không?”

“Dạ có thưa thúc phụ, việc này luôn giúp tạo ra nhận thức thực tế về Đại Cáo và Đại Minh Luật, thu hoạch được rất nhiều.”

“Ừ, vậy thì tốt.”

Công việc thư biện của Trương Sinh là do thúc phụ dùng tình nghĩa với tư lại Hình phòng mới có, bảo để chàng hiểu được pháp lệnh trước, đợi khi quen rồi mới tìm cơ hội đổi đến Hộ phòng, về sau ứng thí làm quan cũng có ích. Mấy năm nay nội các triều đình sạch sẽ mẫn cán, đề mục ứng thí thường đề cập đến luật pháp quốc gia và đường hướng chính sách, không hiểu thì bản thân không trả lời được. Thúc phụ nhỏ hơn phụ thân ba tuổi, từ nhỏ đã được học hành, chỉ là thi hoài không đậu. Về sau phụ thân chưa đến ba mươi đã bệnh mất, sức khỏe tổ phụ ngày một suy giảm, đành nhờ quan hệ xin được một việc ở Lễ phòng cho thúc phụ. Mà một khi trở thành tư lại cũng đồng nghĩa với việc phải đoạn tuyệt với con đường công danh khoa cử.

“Phiền thúc phụ bận tâm rồi.”

“Gần đây bài vở thế nào?”

“Nhi tử không dám lười biếng, ngày nào cũng thức khuya dậy sớm khổ học, lúc việc ở nha môn có rảnh cũng ôn tập bài vở.”

Sau khi phụ thân tạ thế, thúc phụ gánh vác trách nhiệm dạy dỗ Trương Sinh. Điểm này thì thúc phụ đối với Trương Sinh không khác gì con ruột, thậm chí còn nghiêm khắc với Trương Sinh hơn, bởi thế từ nhỏ Trương Sinh nói chuyện với thúc phụ đã tự xưng “con” chứ không phải “cháu”.

“Vậy thì được, đậu tú tài rồi càng phải dụng công hơn, sớm ngày thi đậu cũng coi như xóa bỏ được si niệm của tổ phụ, phụ thân và thúc phụ con.”

“Dạ, nhi tử nhất định cố gắng.”

“Hôm nay tìm con là muốn bảo con chuẩn bị. Tri huyện tân nhiệm của chúng ta là thám hóa, lần đầu nhậm chức đã được phái đến một huyện lớn như Trường An, bản thân ngài cũng là người học rộng hiểu nhiều, văn chương xuất chúng, bây giờ còn là con rể của Phiên Đài đại nhân, hơn nữa còn có tình nghĩa môn sinh với Cao các lão trong triều đình, có thể xem là tiền đồ xán lạn.”

“Vâng, nhi tử có nghe.”

“Nghi thức nghênh đón đường tôn nhậm chức là do thúc phục chuẩn bị, kiểm tra huyện học hai ngày nay cũng do thúc phụ dẫn đi, mấy lần tiếp xúc cũng coi như quen thuộc, thúc phụ nhân lúc ở huyện học đã xin đại nhân giúp con. Nể mặt nhà họ Trương, đại nhân bằng lòng tìm cơ hội chỉ điểm văn chương cho con một chút. Đường tôn dẫu sao cũng là người từng thi cử, cơ hội khó kiếm, con phải chuẩn bị cho tốt đừng để lúc đó làm mất mặt nhà họ Trương.”

“Vâng, nhi tử tạ hơn thúc phụ.” Nghe thấy việc này, Trương Sinh khó tránh lấy làm kích động, lại hành lễ với thúc phụ lần nữa.

“Chẳng qua nghe mẫu thân con nói con ở nhà không hề đọc sách đàng hoàng mà đi đọc mấy thứ bàng môn tà đạo, sách đó là sách gì?” Thúc phụ nghiêm mặt, rõ ràng không vui.

Trương Sinh cả sợ, một hành động vô tình không ngờ lại truyền đến tai thúc phụ, còn đang nghĩ xem phải đáp thế nào, thúc phụ đã tiếp lời: “Nghe nói là có liên quan đến Hương Nương?”

“Thúc phụ, nhi tử và Hương Nương chỉ nói chuyện phiếm mấy câu về mấy quyển sách tạp cất ở nhà Học chính đại nhân thôi, chắc là bị mẫu thân nghe thấy, không có gì quan trọng.”

“Ừ, vậy thì tốt, nghĩ ắt cũng không đến nỗi gây ra tổn thất gì, sách mà Học chính đại nhân đọc thì có vấn đề gì chứ? Con cũng nên đi lại chỗ nhạc phụ con nhiều hơn nhờ lão nhân gia chỉ giáo thêm một chút, ban đầu đại nhân chấm là chấm cái tài hoa học thức của con nên mới chịu hôn sự này.”

“Vâng.” Trương Sinh cúi người hành lễ.

“Nói đi cũng phải nói lại, gần đây nghe đồng liêu đồn con gây ra trò cười gì ở nha môn?”

Trương Sinh ngước mắt chau mày nhìn về phía góc tường, cố gắng nhớ lại việc mấy ngày gần đây, cũng không thấy có gì sơ suất, công việc bàn giao đều thỏa đáng kịp thời. “Nhi tử xử lý công văn đều kịp lúc mà…”

“Nghe Lưu tư lại nói nửa năm nay con không tham gia dự tiệc với mọi người, rượu cũng không uống, còn nói là con muốn ăn chay niệm Phật gì đó, định tham thiền ngộ đạo, có chuyện này không?”

Chả trách hôm nay thúc phụ lại đanh mặt như vậy, tuy rằng ngày thường cũng nghiêm nhưng dẫu sao cũng hiền từ, hôm nay vừa gặp đã thấy là lạ. “Chuyện này… Thưa thúc phụ, chuyện này… Chỉ là hai câu nói đùa của con với Hương Nương thôi.”

“Hai vợ chồng với nhau nói gì không quan trọng, chỉ là không được để truyền ra ngoài, càng không được để truyền đến tai đồng liêu. Con không màng thể diện nhưng thúc phụ cần thể diện. Vậy là thực sự không đi ăn với đồng liêu thật à?”

“…”

“Aiz, làm việc ở nha môn xưa nay chỉ ăn ba chén “độ” là lễ độ, thái độ, trình độ [9]. Con tưởng đồng liêu với nhau chỉ có ăn cơm uống rượu thôi sao? Ít nhất là trên phương diện thái độ cũng phải chén thù chén tạc, con có thể làm thư biện ở nha môn không phải nhờ Lưu tư lại nể mặt thái độ của thúc phụ trên bàn rượu ngày xưa sao? Con có biết một chỗ trống của thư biện Hình phòng, cho dù chỉ là bạch dịch chứ ngoài kia phải cần tới bao nhiêu đĩnh bạc mới có thể với tới không? Cho dù là án lớn bằng trời nhưng khẩu cung tố tụng không phải nằm cả trong tay hành văn thư biện à, con tưởng ăn cơm là đi ăn cơm thật ư? Mình không tỏ thái độ tốt với người khác, tháng rộng năm dài làm sao đi với nhau được hả?”

Trương Sinh khom mình: “Thúc phụ giáo huấn rất phải, nhi tử nhớ rồi.”

“Về rồi đi ăn với đồng liêu đi, con làm chủ, nhớ kĩ phải coi trọng mạng lưới quan hệ với đồng liêu đó.”

“Vâng.”

“Lần này thúc phụ đi phủ nha Tây An công tác, có công hàm của huyện Trường An, đằng đó có một tên sai vặt chặn thúc phụ bên ngoài công đường đến hai canh giờ. Sau cùng phải lăn lộn tìm người có quan hệ trong tộc mới lấy được công văn ra, còn phải đưa tên sai vặt kia đỉnh bạc cảm tạ, bằng không công văn có bị dằn thêm dăm ngày ba bữa cũng là sự thường.” Thúc phụ nhìn Trương Sinh cúi đầu mà thở dài: “Cha con không có ở đây, đương nhiên thúc phụ phải nghiêm khắc với con, về sau làm quan hay giết lợn còn chưa biết nhưng nhớ thúc phụ là thúc phụ của con. Hôm nay bớt lo cho con có khi mai kia bớt phải bực mình.”

Trương Sinh lập tức khẩn khoản lo lắng quỳ xuống: “Thúc phụ nói thế thì nhi tử làm gì còn chốn dung thân nữa.”

“Thúc phụ chỉ muốn con hiểu được nỗi khổ tâm của thúc phụ thôi, nhà họ Trương ta nhà lớn nghiệp lớn, nhưng công đức tổ tiên không phải ở mỗi nhánh chúng ta, chỉ khi dựa vào bản thân đỗ đạt công danh mới mong có được tương lai tốt đẹp nhờ họ Trương được. Xuất thân không ra gì người nhà cũng chê không xứng. Không thì giống như hai đứa nghiệt chướng anh họ em họ của con, chỉ có thể sống nhờ điền trang qua ngày, chuyện trong họ không thể góp được một phân sức lực, thúc phụ sớm đã không còn hi vọng hai đứa nó có thể thành tài nữa rồi.”

“Nhi tử nhất định không phụ kì vọng lớn lao của thúc phụ.”

“Được rồi, mau về đi, ra ngoài nửa ngày rồi đừng làm Trương tư lại không vui, dẫu sao cũng là cấp trên của mình.” Thúc phụ đỡ vai Trương Sinh, xem như an ủi.

“Vâng, thúc phụ.”

“Nghe thím con nói gần đây mẫu thân con có sang nhà mấy lần, bóng gió nhắc tới Hương Nương, vẻ như giận hờn mà lại chẳng vui, bảo con cố gắng kéo dài hương hỏa.”

“…”

“Chuyện này thúc phụ cũng không nhiều lời, cha con chỉ có một mình con, thành thân rồi mẫu thân thúc giục cũng là lẽ thường, con phải tự lo liệu lấy.”

“Dạ… thúc phụ.”

Sau khi về nhà, Trương Sinh cứ rầu rĩ không vui, đến khi rửa tay thay quần áo ngồi xuống trước bàn cũng rất ít nói, hoàn toàn không thấy dáng vẻ hoạt bát ngày thường.

Hương Nương dè dặt hỏi: “Tướng công, hôm nay công vụ mệt mỏi lắm à…”

“Hôm nay ở nha môn thúc phụ tìm ta, hỏi chuyện học hành.”

“Phiền thúc phụ lo lắng rồi.”

“Thúc phụ nói đã cầu xin Tri huyện đại nhân chỉ điểm văn chương cho ta. Tri huyện đại nhân là thám hoa, tài học văn chương đều rất giỏi.”

“Vậy càng nên cảm ơn thúc phụ, nô gia sau sẽ làm ít điểm tâm, tướng công mang cho thúc phụ, cũng cho các đồng liêu nha môn một ít.” Hương Nương thấy Trương Sinh không đáp, lại nói, “Tướng công… Có phải nô gia làm sai gì rồi không?”

“Không có gì, chỉ là thúc phụ còn nói chuyện khác. Đằng mẫu thân hình như biết ta đang đọc kinh, cũng nhiều ngày không ăn cơm với đồng liêu, thúc phụ nói ta không màng thể diện, trái với mong muốn ban đầu của ông ấy.”

“Đều là lỗi của nô gia…” Hương Nương đã rơi nước mắt, không ngờ chuyện khuê phòng lại làm ảnh hưởng đến trượng phu.

“Không sao đâu.” Trương Sinh siết chặt tay Hương Nương, tay còn lại lau nước mắt cho nàng, “Là tự ta không nghĩ đến, cố tình cũng được vô ý cũng thôi, tóm lại là không ngờ đến.”

“Mấy cuốn kinh kia thôi đốt hết nhé? Hoặc là dâng đến chùa Tiến Phúc, nô gia chỉ lo tướng công mất tập trung, thật không nên mang qua đây mới phải.” Hương Nương nói rồi toan đứng lên.

Trương Sinh kéo Hương Nương lại: “Vậy thì không cần, chỉ cần trong lòng ta muốn đọc, nàng đốt bao nhiêu cũng chẳng hề gì.”

“Vậy phải làm sao?” Làm lỡ tướng công, nô gia thật đáng chết.”

“Không sao.”

“Ngày mai nô gia đi hỏi ý mẹ, hay là tướng công và nô gia ăn cơm cùng mẹ ở nhà bếp lớn nhé, đằng đó rượu thịt phong phú, ban đầu nô gia và tướng công chỉ nói chơi với nhau, không dám xem là thật.”

“Ta thực sự không thèm ăn mấy thứ đó, lại nói, trông thấy mẫu thân cũng thấy, khó chịu…”

“Tướng công không nói vậy được, mẹ mà biết được lại nghĩ là lỗi của nô gia…”

Cơm còn chưa ăn đã phải dọn đi, đêm đó Trương Sinh cũng không đọc sách, hai người thổi đèn lên giường nghỉ sớm, không ai nói tiếng nào.

Trương Sinh nghĩ rất nhiều việc, chính bản thân chàng cũng không biết về sau nên thế nào, dường như chàng không phải là chàng, những chuyện trước đây thích thú đều không thấy thích nữa, cũng không muốn đọc sách vở công danh, mấy ngày trước đồng liêu nhắc đến Xuân Yến ở Liễu Phong viện chàng còn thấy mơ hồ, ngớ người nhớ lại nửa ngày mới nhớ ra Xuân Yến là ai.

(6)

Hôm nay ở nha môn, Trương Sinh cứ thấy tâm thần bất định, viết văn thư sai rất nhiều lần, cứ cảm thấy sắp có chuyện xảy ra. Còn hơn một canh giờ nữa mới tan làm mà hoảng hốt vô cùng, thực sự ngồi không yên nổi bèn xin phép về nhà.

Vừa vào cửa sân đã thấy không đúng, ngày thường tiền viện lúc nào cũng có nha hoàn nô bộc mà hôm nay trống vắng không thấy bóng người. Rảo bước xuyên qua bức tường hoa, thấy đám nha hoàn đều đang tập trung ở hậu viện, lúc các cô trông thấy Trương Sinh thì chàng đã vào nhà.

Mẫu thân đang ngồi bên bàn, nha hoàn thân cận là Quế Nhi đứng kế bên, trên bàn có bình rượu, một đĩa thịt, mấy quyển kinh thư bừa bộn dưới đất, cái tráp sơn đen khắc hoa văn đỏ mở bung ra lật úp bên cạnh kinh thư, Hương Nương mặc hợp y nằm vật trên giường, không chút động đậy.

“Mẫu thân…” Trương Sinh tức đến mức thở dồn dập, “Chuyện này…”

“Ờ, con trai mẹ về rồi,” Mẹ Trương thở dài nói, “Cũng được, nói rõ ra đi, vi nương muốn bồng cháu, nhưng con dâu ngày nào cũng ăn chay niệm Phật, e rằng đêm đến cũng khó mà cùng con cá nước vui vầy, cứ tiếp tục như thế há chẳng phải khiến Trương gia tuyệt hậu? Vi nương nhiều lần nghe nói chuyện này nhưng chẳng xem ra gì có điều con dâu vậy mà dám đem hộp kinh thư ra để trong phòng. Về sau nhà mình không được phép chứa thứ này nữa. Vi nương vừa định đốt đi, nếu con về rồi thì tự con đốt vậy, cũng coi như giết chết ham muốn tham thiền ngộ đạo của con, lo mà đọc sách mới là chính đạo.”

“Mẫu thân, làm, làm vậy là sao?”

Trương Sinh ở bên giường ngửi thấy mùi rượu trên người Hương Nương, trong miệng Hương Nương vẫn còn ngậm nửa miếng thịt, mà nàng lại nhắm nghiền mắt mê man. Chàng mau chóng moi miếng thịt trong miệng Hương Nương ra, lắc lư người vợ không còn phản ứng mấy lần.

“Mẹ bảo Quế Nhi đổ cho chút rượu, đút cho chút thịt, để con bé dứt lòng thành Phật đi mà lo sinh cháu cho mẹ.”

“Cần chi khổ vậy… Mẫu thân.. Cần chi khổ vậy…”

Mẹ Trương đứng dậy đi đến đứng bên cạnh cửa, không ngoái đầu lại nói: “Hôm nay thúc phụ con về nhà cũ, mẹ có đi gặp chú ấy, nghe nói là xin được Tri huyện lão gia một ơn huệ chỉ điểm cho con, con phải nghiêm túc lên, cẩn thận ngày mai học hỏi.” Mẹ Trương phẩy tay áo dắt các nha hoàn ra tiền viện.

“Cần chi khổ vậy… Cần chi khổ vậy…” Nhờ Trương Sinh lắc mạnh hồi lâu mà Hương Nương tỉnh dậy, mở mắt ra liền ói.

“Ọe…”

“Ọe…”

“Ọe…”

“…”

Qua một hồi lâu, đến khi không ói ra được gì nữa, Hương Nương mới cụp cổ nhoài người bên mép giường, mặt đầy nước mắt.

Trương Sinh ngồi bên mép giường, kéo Hương Nương dậy, đỡ nàng lên đùi mình.

Hương Nương òa khóc nói: “Đã nói với mẹ chồng… muốn cùng tướng công.. đến tiền viện ăn cơm… rượu thịt đầy đủ… nô gia đã nghĩ lâu lắm rồi… vẫn định… đốt kinh thư đi… đỡ phải làm lỡ dở tướng công… sau đó… sau đó mẹ xông vào… mắng chửi nô gia… đủ điều… nói nô gia mê hoặc tướng công… Quế Nhi… đập cái tráp… đổ rượu… quyết liệt… vào miệng nô gia…”

“Đừng nói nữa, nương tử… ta biết nàng chịu khổ rồi…” Trương Sinh ôm Hương Nương, cũng khóc nấc.

“Không phải nô gia muốn xem… Mà là muốn đốt… Đốt đi… Mới lấy ra…”

“Nương tử đừng nói nữa…”

Trương Sinh siết chặt Hương Nương vào lòng, nghiêng người vào giường nức nở.

Sắc trời sáng rồi tối, lại từ tối rồi lại sáng, hai người vẫn cứ dựa vào nhau mà khóc mà dần thiếp đi.

Hóa ra hôm nay lúc Hương Nương thỉnh an mẹ chồng đã uyển chuyển nói muốn cùng Trương Sinh về tiền viện ăn cơm, nhà bếp lớp có thức ăn phong phú, mẹ chồng nghe thấy vẫn rất vui mừng, ở trước mắt mình thì tốt xấu gì cũng sẽ ăn nhiều hơn. Về đến hậu viện, Hương Nương liền mở cái tráp lấy kinh thư ra toan đốt. Vừa hay mẹ Trương sai Quế Nhi đến chuyển lời, Quế Nhi rón ra rón rén dòm từ song cửa vào, giây lát sau thì lặng lẽ bỏ đi.

Quế Nhi là nha hoàn thiếp thân của mẹ Trương, ở bên cạnh mẹ Trương nhiều năm, cực kỳ kiêu ngạo. Từ lúc Trương Sinh lấy Hương Nương vào cửa ả đã thấy Hương Nương không thuận mắt, luôn ấp ủ ý xấu trong lòng.

Này cũng chả trách, Quế Nhi ở nhà họ Trương nhiều năm, sớm đã có lòng muốn làm di nương cho Trương Sinh, thường ở trước mặt mẹ Trương xin xỏ muốn ra hậu viện chăm sóc công tử, bưng trà rót nước dẫu sao cũng chu đáo hơn nô bộc. Mà ả không đi được là vì Trương Sinh không ưng. Sau này Trương Sinh thành thân, mẹ Trương nói muốn đưa Quế Nhi vào phòng Trương Sinh, trông con dâu ốm yếu thế sợ không chăm sóc con trai mình được, có Quế Nhi ở đó cũng biết ấm lạnh thế nào. Kết quả là chuyện này lại bị Trương Sinh từ chối, nói trước mắt có Hương Nương đủ rồi, hơn nữa còn phải lo đọc sách, nhiều người ngược lại không được yên tĩnh. Quế Nhi nhất thời đổ hết chuyện này lên đầu Hương Nương, cảm thấy Hương Nương mê hoặc Trương Sinh. Trông thấy Hương Nương bày kinh thư ra, Quế Nhi đảo mắt một cái nghĩ ra một kế, đến tiền viện tố cáo với mẹ Trương là Hương Nương lừa mẹ Trương, giờ đang đọc kinh trong hậu viện, còn bày cả ra bàn kìa. Mẹ Trương nghe thế tức không chịu được bèn lập tức ra hậu viện, vào phòng bắt gặp ngay Hương Nương đang chấp thập trước kinh thư. Thực ra ý của Hương Nương vốn là định đốt kinh thư, tự thấy hổ thẹn mới âm thầm phát nguyện, có tội tình gì muốn phạt cứ phạt mình nàng.

Mẹ Trương vào phòng liền mắng: “Con vợ khốn khiếp ăn nói điêu ngoa, hóa ra chỉ là muốn dỗ ta, miệng nam mô bụng bồ dao găm… Suốt cả ngày tăng không ra tăng tục không ra tục…”

Mắng mệt rồi liền bảo Quế Nhi xé đi, Quế Nhi bước nhanh lên hất cái tráp xuống, cầm lấy kinh thư xé bừa bãi. Theo lý Quế Nhi là nô tỳ, Hương Nương là chủ tử, nô tỳ đắc thế cỡ nào cũng chỉ là nô tỳ, không dám khinh suất trắng trợn công khai. Nhưng có mẹ Trương chống lưng, Quế Nhi liền thay mẹ Trương chương hiển uy quyền, cho dù mẹ Trương có bảo phun nước vào mặt Hương Nương, Quế Nhi cũng dám. Hương Nương không thể nói được gì, nói lại thì bất hiếu, thế nên mặc cho Quế Nhi công báo tư thù.

Trong lúc tức giận, mẹ chồng cứ lặp đi lặp lại câu “Cho mày ăn chay này”, rồi dặn nha hoàn đến nhà bếp đem rượu thịt tới ép Hương Nương ăn trước mặt. Hương Nương lý nào lại ưng, mẹ Trương liền liếc mắt ra hiệu cho Quế Nhi lấy rượu ép đổ vào miệng Hương Nương. Tình báo bị thêm mắm dặm muối mà mẹ Trương thu được mỗi ngày từ chỗ Quế Nhi đã làm bà tức đến nghiến răng, khó tránh cứ nhắc câu “phải bỏ cái thứ tai hại này”, ngày tháng lâu dần, Quế Nhi liền cảm thấy chuyện bỏ Hương Nương là sớm muộn, càng bất chấp thân phận ra tay ác độc với Hương Nương.

Hương Nương nào đã từng chịu qua những thứ này, nghe mẹ chồng chửi mắng sớm đã đầu váng mắt hoa đứng không vững nữa, bị Quế Nhi hành hạ liên tục đổ rượu vào mồm làm khí huyết dồn lên não mà ngất đi. Ngã ra giường rồi Quế Nhi còn chưa chịu thôi mà nói với mẹ Trương chi bằng đút thêm miếng thịt, đợi tỉnh rồi thấy mình phá giới sẽ tuyệt vọng, có khi mai nàng lại tốt lên. Mẹ Trương lập tức gật đầu đồng ý, cứ giày vò mãi đến khi Trương Sinh về nhà.

(7)

Lúc trời tờ mờ sáng, Trương Sinh tựa mình bên mép giường mới mở mắt ra liền phát hiện nương tử không còn bên cạnh nữa. Ngước mắt tìm khắp mới thấy Hương Nương đang treo trên xà nhà, tóc tai tán loạn che khuất gương mặt. Trương Sinh xông đến kéo Hương Nương xuống nhưng thân thể Hương Nương đã lạnh ngắt từ lâu. Sau đó Trương Sinh phát hiện hai tờ giấy bị đè trên bàn, trên đó là chữ Hương Nương viết.

Tướng công:

Trông thấy thư này nghĩ ắt nô gia cũng đã đi rồi, trong lòng khó tránh cực độ thê lương.

Cả đời nô gia vốn chẳng có gì, may có tướng công yêu thương, không uổng sinh ra kiếp này, vốn mong lẳng lặng ra đi nhưng niệm tình tướng công quý trọng nên để lại thư này cởi bỏ nút thắt trong lòng chàng.

Không phải vì nô gia phạm giới, tướng công ngàn vạn lần chớ trách mẹ, chỉ là trải qua nỗi nhục lần này, nô gia tuyệt vọng, không biết làm sao đối diện với tướng công, làm sao đứng vững ở nhà này. Lấy tướng công, nô gia tự thấy mình đã gây ảnh hưởng quá lớn làm tướng công học hành dần sa sút, si mê kinh điển, quan hệ với đồng liêu cũng vì nô gia mà xảy ra hiềm khích, suốt ngày làm mẹ chồng mất vui. Nghĩ ngợi lâu ngày, nô gia thật lòng cảm thấy xấu hổ, duy chỉ có tự kết liễu đời mình mới mong giải thoát cho cả tướng công với nô gia.

Còn một chuyện nữa, tướng công ngàn vạn lần chớ trách. Nô gia đã có thai, vốn muốn đến khi chắc chắn mới nói cho tướng công và mẹ biết, không ngờ chuyện đến nước này, nô gia đã không còn dũng khí nữa.

Một năm vợ chồng, nô gia chưa từng có gì oán hận, chỉ nguyện kiếp sau có duyên còn có thể làm vợ của tướng công.

Hương Nương tuyệt bút.

Trong rừng cây sau chùa Quán Âm lại có thêm một ngôi mộ mới, Trương Sinh quỳ trước mộ rất lâu, ngơ ngác nhìn chằm chằm hàng chữ “Ái thê Trương thị nương tử chi mộ” mà chính tay mình đã viết. Trước mộ có đặt một quả đồng tử bọc lụa, một đĩa điểm tâm chay mà Hương Nương cố tình làm cho các đồng liêu ăn.

Lúc chưa an táng, tộc trưởng Trương thị đã chuyển lời cho thúc phụ rằng bởi Hương Nương tự tìm cái chết nên không được vào mộ địa Trương tộc. Nhưng Trương Sinh nghĩ một nơi như thế, cho dù bảo chàng vào chàng cũng không muốn sắp xếp cho nương tử mình vào, dòng tư tưởng của chàng cứ quẩn quanh ở chùa Quán Âm mà chàng và Hương Nương từng ghé trước đó không lâu, trong lúc mơ màng như có tiếng ai vẫy gọi vang lên trong đầu. Sau đó Trương Sinh dùng xe kéo kéo quan tài Hương Nương đến chùa Quán Âm, tìm một vị trí yên tĩnh hẻo lánh ở sườn dốc, tự mình đào huyệt mà an táng Hương Nương dưới sự giúp đỡ của các tăng nhân.

Trời đã tối mịt, chung quanh chỉ có một ngôi mộ của Hương Nương, lạnh lẽo quạnh hiu, Trương Sinh thầm mặc niệm rất nhiều lần “nếu nương tử sợ thì phải tính sao đây”.

Sau khi Hương Nương chết, Trương Sinh thấy như trời sập, không còn chút tín niệm nào với mọi thứ trên đời, nha môn công danh gì đó, tất thảy vứt lên chín tầng mây, cũng chưa từng nói một câu nào với mẫu thân của mình.

Mẹ Trương bảo không cần lo lắng, cưới thêm một người nữa là được.

Cưới thêm người nữa? Người đó còn có thể là Hương Nương không? Cứ thế mặc nàng trơ trọi lẽ loi một mình ư?

Thật đúng là:

Tròn năm sắp sửa duyên mình

Bao phen rung động xuân tình.

Ai ngờ họa giáng bất tình

Ngoảnh đầu nhìn lại vắng tanh không người

Uyên ương ai nỡ rẽ đôi

Tựa mồ câm lặng đơn côi giọt sầu [10].

Khi trời tờ mơ sáng, tăng nhân của chùa Quán Âm phát hiện một người đàn ông lặng lẽ treo cổ trên một gốc cây cạnh ngôi mộ hoang, đã chết từ lúc nào.

Tài sản nhà đất của nhà Trương Sinh bởi không người kế tục mà bị hai đứa con của thúc phụ bá chiếm. Hai đứa con trai nói phải trút giận giùm Trương Sinh, mắng mẹ Trương ép chết người khác, dẫn người đuổi mẹ Trương và nha hoàn ra khỏi cửa nhà mà không nể nang gì, ngay cả thời gian dọn đồ cũng không có. Thúc phụ ngại lời đàm tiếu của xóm giềng trên đường mà bảo người đưa chút bạc vụn và quần áo cho mẹ Trương, còn nhắn gửi một câu “làm điều bất nghĩa chết không oan uổng”.

Cha mẹ của mẹ Trương từ lâu mất sớm. Không còn gia sản, anh trai chị dâu con cháu đều không nhận người thân, chẳng bao lâu sau lưu lạc đầu đường xó chợ, cuối cùng được am Tĩnh Chiếu ngoại thành thu nhận làm tạp vụ quét nước. Thực ra bà ta muốn chết nhưng lại không hạ được quyết tâm tự tận, sống mãi biết bao lâu mới lìa đời.

Sau khi mẹ Trương chết, hồn phách bay đến “Phạt Ác Ti” ở âm gian, phán quan Chung Quỳ mình khoác áo tím, mắt trợn trừng giận dữ ngồi ở sau bàn. Hồn phách mẹ Trương lập tức quỳ xuống, liếc sang bên cạnh thấy còn một quỷ hồn nữa đang quỳ, nhìn cho kĩ hóa ra là Quế Nhi mặt xám như tro.

Chung Quỳ đập kinh đường mộc xuống bàn, lớn tiếng hét: “Này! Hạ Quế Nhi lúc sinh thời bày trò ly gián, mồm loa mép giải, nói dối gạt người, hại chết nhân mạng, cho xuống địa ngục kéo lưỡi.” Bút đỏ vừa ngoắc một nét, một tấm lệnh bài lập tức được ném xuống công đường.

Quỷ hồn của Quế Nhi còn chưa kịp hét lên đã bị hai tiểu quỷ kéo banh mồm, dùng kìm sắt kẹp đầu lưỡi lại, từ từ kéo cho dài ra, đầu lưỡi bị cưỡng chế kéo ra khỏi mồm được khoảng một tấc thì bị rút ra, sau đó Quế Nhi bị tiểu quỷ lật người kéo chân đi khỏi. Quế Nhi nhìn mẹ Trương, ánh mắt dường như muốn nói “đều là lỗi của bà”.

Chung Quỳ lại gõ kinh mộc đường, nhìn văn thư trên bàn rồi nói với hồn phách của mẹ Trương: “Ngươi thân là mẹ chồng lại đâm chọc cho phu thê bất hòa, vốn phải bị đày xuống địa ngục rừng sắt, nhưng ngươi còn nghiệt duyên mắc nợ ba mạng người ở dương gian, cần phải bị đày đến Trương gia làm khổ sai đến khi trả sạch tội nghiệt dương gian mới bắt ngươi xuống địa ngục, đến khi đó mới vĩnh viễn không được luân hồi.”

Mẹ Trương bất giác thốt ra câu: “Ba mạng?”

“Hương Nương đã hoài thai. Con ngươi Trương Sinh vốn là người nhà Phật, vì lệ khí sát phạt của ngươi quá nặng khắc chết trượng phu nên Trương Sinh mới đầu thai hòng cảm hóa ngươi. Hương Nương cũng là người nhà Phật, kiếp trước còn duyên tình chưa dứt với Trương Sinh. Khi nhân duyên tiếp diễn trả xong, vợ chồng hai người đều có thể về miền cực lạc. Ai ngờ ngươi không tin Phật môn từ bi, dứt khoát chặt đứt tình duyên của hai người họ, ngươi không xuống địa ngục thì ai xuống địa ngục đây?”

(8)

Tiểu Văn còn chưa đến tuổi thành niên thì mẹ nó đã đến miếu Trương gia xuất gia nhưng miếu ấy không nhận người ngoài, mẹ Tiểu Văn sống chết nằm lì ở đó, đuổi cũng không đi. Mới đầu cha Tiểu Văn còn dắt Tiểu Văn đến đón mẹ mấy lần, nhưng khuyên kiểu nào cũng không khuyên về nhà được, hơn nữa bà còn tỏ ý cả đời này chết cũng phải chết ở trong miếu, hơn nữa kiếp sau còn phải tới nữa.

Mọi người đều tưởng là nói sảng, khó hiểu vô cùng. Mẹ Tiểu Văn bèn nói kiếp trước bà là mẹ chồng nhà họ Trương, vì ép chết con dâu đang mang thai hại con trai cũng tự tận nên nợ nhà họ Trương Phật duyên và tội nghiệt mấy đời trả không hết. Bà đã trả mấy trăm năm rồi mà vẫn còn mấy kiếp nữa mới mong trả sạch, sau này còn phải xuống địa ngục, vĩnh viễn không được luân hồi. Mà tổ tiên của Tiểu Văn chính là con trai của nha hoàn Quế Nhi đã giúp mẹ chồng ép chết nàng dâu. Kiếp sau bà có tìm tới nhà Tiểu Văn nữa không có trời mới biết.

Vừa nghe thế, ai nấy càng cảm thấy mẹ Tiểu Văn điên rồi, cũng dần dần bỏ mặc bà ta, chỉ là nghe nói người như bà đã xuất hiện ở miếu họ Trương mấy trăm năm rồi, người này chết thế nào cũng có người khác đến thay.

Một người đàn bà mặc tăng y đội mũ tu hành lại xuất hiện trong miếu Trương gia, thôn miếu Trương gia từ lâu đã chẳng còn ai để ý đến bà, cũng không ai muốn nghe ngóng thêm một mảy may nào về bà nữa nhưng ai nấy đều biết đạo lý này: Những người này mắc nợ họ Trương hơn nữa vẫn còn chưa trả hết.

[1] Nghĩa là được lệnh mà làm.

[2] Đường tôn: Cách gọi tôn trọng quan viên thượng cấp thời Minh, Thanh.

[3] Nguyên là hai câu trong “Hương phôi thiển chước phù như nghị, tuyết tấn tân sơ bạc tự thuyền” trong bài Hoa Tửu của Bạch Lạc Thiên (Bạch Cư Dị).

(Lại) mạn phép dịch láo cả bài như sau:

Hớp ngụm rượu ngon bọt tựa kiến

Pha sương tóc chải mỏng như ve

Lạc Dương hoa tửu đã nghe

Vài năm bầu bạn với bè cao niên.

[4] Bạch Dịch: Là nha sai ngoài biên chế trong quan thự thời xưa.

[5] Ngũ huân tam yếm là những kiêng kị trọng yếu trong việc trai giới ăn uống của các tôn giáo thời cổ ở Trung Quốc (gồm cả hai tôn giáo Phật Đạo), cấm ăn năm thứ rau có vị hăng và ba loại thịt động vật được cho là vi phạm luân lý. Ngũ huân (5 loại rau củ có vị hăng) bao gồm: tỏi, tỏi tây, hành lá, hành lùn, hứng cừ (bên mình không có cây này), tam yếm là nhạn, chó, rùa.

[6] Chữ “đồng” (桐) trong “đồng tử” (桐子) đầu là đồng của cây ngô đồng, chữ đồng tử (童子) sau là con trai.

[7] Khai trai: Thời kì bắt đầu ăn mặn lại sau thời kỳ ăn chay

[8] Ban Tạo: Chuyên chạy việc vặt, phụ trách thi hành án. Ban Phòng: Nha sai chuyên chạy việc lặt vặt. Còn ban Dân thì không thấy thông tin là làm gì ở nha môn.

[9] Nguyên gốc là ba “mặt” (diện): tràng diện, tình diện, thể diện. Ý nghĩa lần lượt là phải biết nhìn tình huống mà có hành vi phù hợp (tràng diện), thể hiện cảm xúc phù hợp (tình diện) và phải biết thể hiện đúng mực trong nói năng cư xử (giữ thể diện). Ở đây chơi chữ “diện” nên khi dịch tôi cũng cố gắng giữ được phép chơi chữ này nên đổi hết thành “độ” và cố gắng dùng từ giữ cho sát nghĩa, nhưng không chính xác hoàn toàn nên chú thích.

[10] Nguyên gốc: Kết nhân duyên, tương nhất niên, động xuân tình, tam tứ phiên. Tiêu tường họa khởi phiến thì gian. Trát nhãn nan tương kiến. Bả nhất đối uyên ương kinh tán. Y phần vô ngữ lệ không đàn (结姻缘,将一年,动春情,三四番。萧墙祸起片时间,眨眼难相见。把一对鸳鸯惊散,依坟无语泪空弹). Nội dung này là tỉa tót lại từ quyển 38 (Hội uyên ương, Tưởng Thục Chân cắt cổ) thuộc bộ truyện Cảnh thế thông ngôn (Lời cảnh tỉnh thế nhân) của Phùng Mộng Long. Nội dung trong thiên Tưởng Thục Chân hơi khác một chút với Hương Nương nhưng ý tứ đại để giống nhau, có lẽ tác giả đã tinh chỉnh một chút cho hợp với ngữ cảnh câu chuyện của mình. Còn bản dịch của tui thì, như vẫn, vì ép vần ép điệu mà cũng sửa hơi bay 1 chút nên để lại câu gốc cho bạn đọc đối chiếu.

P/s: Cảnh thế thông ngôn là tiểu thuyết mà đọc vần điệu như thơ ấy @@, cái câu trên kia phải đọc pinyin mới ra được cái nhịp và vần của nó, tôi lại có thêm 1 bộ nữa add vào danh sách cổ văn sẽ dịch rồi =))).

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
1
0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x