CHUYỆN LẠ Ở THÀNH TRƯỜNG AN
TRUYỆN: QUỶ MÈO (4-6)
Dịch (láo): A Tĩnh
#truongankydam #chuyenlaothanhtruongan #quymeo
—
Ngày ở Tiết gia vẫn cứ thế trôi qua.
Hôm nay, người vợ đem chìa khóa kho giao cho đứa con cả, bảo con dời tấm bình phong ra ngoài để bày lên.
Chuyện là ông anh rể lớn nhà bà sắp đến thăm Tiết chưởng quỹ. Người anh này trước đây làm Diêm Trà Đạo [1] ở Tứ Xuyên, vừa mới tới tuổi về hưu, thời trẻ lúc còn cầu học không ít lần được Tiết chưởng quỹ giúp đỡ về mặt tiền tài, bởi thế mà vẫn giữ liên hệ luôn.
Kết quả, Tiết Siêu vừa mới vào liền thất tha thất thểu chạy trở ra, mặt mày tái mét, lắp ba lắp bắp cứ chỉ mãi vào hậu viện.
Người vợ sau khi trải qua biết bao nhiêu chuyện cũng không hỏi câu nào, thấy con trai cư xử thế biết ngay có chuyện, cũng chống gậy đi vào vườn sau.
Vào nhà kho rồi, Tiết Siêu đóng cửa lại, đanh mặt, chỉ lên gác xếp lắp bắp nói với mẹ già: “Bạc, bạc, bạc, ở, ở hết trên đó…”
Một câu không đầu không đuôi, người vợ đương nhiên nghe không hiểu nhưng tốt xấu gì cũng biết chỗ xảy ra chuyện chính là trên gác, bèn giơ cánh tay bảo con trai dìu mình lên trên. Kết quả là vừa lên gác, người vợ cũng suýt chút té xuống cầu thang.
Nguyên căn gác chất đầy nguyên bảo, nào vàng nào bạc đầy ắp khắp nơi.
Dụi dụi đôi mắt hoa lên, người vợ lại nhìn kĩ khắp một lần, đích xác là nguyên bảo, sau đó hỏi con trai: “Lão đại, này, ở đâu ra?”
“Không, không biết nữa mẹ, con vào rồi thì, thì từ dưới lầu nhìn lên, đã thấy đĩnh bạc, thỏi bạc, lên đây thì thấy thế này…”
Người vợ thở dài mấy tiếng, run rẩy nói: “Chìa khóa nhà kho luôn ở chỗ mẹ, lần trước sai con vào là để lấy đồ thờ cho điện thần. Lúc đó cha con mới ngã bệnh, sau đó, chưa từng lấy chìa khóa ra lần nào. Lúc ấy, con không phát hiện nó à?”
Tiết Siêu lắc lắc đầu nhìn mẹ, tâm trạng cũng đã bình tĩnh lại ít nhiều: “Đồ tế ở trong tủ trên gác, cha từng nói, đồ tế không thể để lẫn lộn với những thứ kế bên. Lúc đó con lên gác, không thấy mấy thứ này… Chắc chắn là không, mẹ ơi, này, rốt cuộc là sao nhỉ?”
Môi người vợ run lên, nhìn nửa ngày rồi chỉ vào số nguyên bảo, nói: “Con đến xem thử, xem trên đó có chữ không.”
Tiết Siêu như tỉnh khỏi cơn mê, đĩnh bạc lớn thế này, bất luận là của riêng hay là của quan đều từng được đúc lại, thường trên đó đều có ký hiệu của gia đình chủ nhân.
Lật đĩnh bạc lên xem, Tiết Siêu hét lớn: “Mẹ! Mẹ ơi! Có chữ ~ Dịch Vận Thông Thẩm!”
Ở một vị trí khác, anh ta vừa lật đĩnh bạc lên vừa hét lớn: “Đĩnh này cũng có! Này cung có! Có hết! Mẹ ơi! Đĩnh nào cũng khắc “Dịch Vận Thông Thẩm”!”
Sau khi nghe đến “Dịch Vận Thông”, trước mắt người vợ lờ mờ hiện ra bóng dáng của ông chủ, ông chủ đứng trong đám cháy ngẩng đầu, nhìn chằm chằm bà ta. Hai chân người vợ run lên, muốn vận chút sức lực lấy gậy đỡ mình nhưng chiếc gậy đã tuột khỏi tay từ sớm, thế nên bèn ngã sấp mặt xuống sàn.
Tiết Siêu mau chóng buông nguyên bảo xuống bước qua muốn đỡ mẹ mình dậy, nhưng người vợ đã đẩy con trai ra, thuận thế ngồi xuống sàn, nắm lấy bàn tay cũng đang run lên của con trai, nhỏ tiếng nối: “Vừa rồi Thẩm gia cháy lớn… Không phải nghe nói, kho bạc bị trộm à?”
“Đúng rồi mẹ… Nghe nói ông chủ vì thế mà hộc máu chết nữa.”
“Vậy… Quan phủ, nói sao?”
“Quan phủ hình như… Tra không được… Mẹ, mẹ muốn nói, đây là… của Thẩm gia?”
“Mỗi năm tổng hiệu kết toán đều sẽ nấu chảy số bạc này, đúc lại thành đĩnh bạc lớn cất trong kho bạc. Chuyện này cha con từng nói, hơn nữa, cũng chỉ có Thẩm gia mới khắc mấy chữ “Vận Dịch Thông Thẩm” thôi.”
“Nhưng, nhưng sao lại chạy đến nhà ta? Mẹ, chuyện này, có người muốn hại ta, nếu bị quan phủ biết được chuyện này, nhà ta sẽ gặp họa lớn…”
“Việc này, e rằng phải hỏi… Cha con… Lão đại, trước mắt trừ mẹ con mình ra, không còn ai biết chứ?”
“Không đâu mẹ, con vừa vào trông thấy số bạc này là đi tìm mẹ ngay.”
“Aiz, bình tĩnh lại, đỡ mẹ xuống trước đã, con đừng rêu rao, chuyện này, lộ ra là chết.”
Hai người ra khỏi nhà kho, khóa cửa lại, Tiết Siêu lại khóa thêm một lớp nữa, người vợ cất cả hai chiếc chìa khóa vào người.
Nửa đêm giờ Tý, vắng lặng im lìm.
Những nhà khác đều đã ngủ say, còn người vợ thì dẫn ba đứa con trai vào nhà kho ở sau vườn.
Bà lần lượt nhìn từng đứa con trai rồi mới nói: “Lão đại và lão nhị đều đã thành hôn sinh con rồi, lão tam năm nay mười bảy, cũng đã đính hôn, nếu không phải cha con ngã bệnh, cuối năm này cũng đã lo hỉ sự cho con. Hôm nay ba người các con đều đã lớn, cũng đã trải qua vài việc, lão nhị lão tam, hai con lên gác xem đi, nhớ kỹ, bất luận có trông thấy cái gì cũng không được la lớn.”
Chẳng bao lâu sau, Tiết Đỉnh, Tiết Thái vừa lăn vừa bò từ trên gác xuống, đỏ mặt tía tai nhìn mẹ và anh cả mình, muốn nói nhưng còn chưa hé miệng đã bị Tiết Siêu đang đỡ người mẹ tỏ ý cản lại.
Người mẹ liếm liếm cánh môi khô khốc, lấy gậy trỏ về phía trước mặt, nói: “Quỳ xuống hết.”
Sau khi ba đứa con trai đều quỳ xuống, người vợ mới tiếp lời: “Sáng hôm nay, mẹ bảo anh cả các con vào lấy bình phong để giường ra, là nó phát hiện số bạc trên gác. Trên mấy đĩnh bạc đó toàn bộ đều có khắc ký hiệu của Thẩm gia, về phần nó đã có mặt ở nhà ta khi nào, ai đưa vào, mẹ không biết, họa may cha con thì biết nhưng bây giờ cha con thế ấy, không cách nào hỏi được. Chuyện xảy ra ở Thẩm gia mấy ngày trước các con hẳn đều biết nhiều hơn mẹ, thế nên bất luận như nào, chuyện trên lầu không thể nói ra, bằng không toàn bộ Tiết gia đều sẽ chết. Ba đứa các con thề đi.”
Tiết Siêu dẫn đầu, ba người thề sẽ không bao giờ tiết lộ việc này ra.
“Được rồi, hôm nay mẹ đã nghĩ rất nhiều, số của bất chính này không phải của nhà ta, chúng ta không được động tới. Lão đại đã đem hết đồ nhà mình ra rồi, ba đứa các con bây giờ ra tay dọn hết số rương số giá bên trong lên trên, đào một cái hố ở giữa nhà rồi dời số bạc trên lầu xuống đó rồi lấp lại. Sau này hai cái ổ khóa, chìa khóa nhà kho đều do mẹ giữ, lão đại lão nhị nhắc nhở người nhà và mấy đứa nhỏ, sau này không có việc gì đừng ra hậu viện làm gì, toàn bộ đợi cha con khỏe rồi mới nói. Bây giờ mẹ ở ngoài canh, các con làm đi, nhẹ tay chút.”
Ba anh em ở trong kia không nói lời nào, xắn tay áo lên tới thắt lưng, bắt đầu làm việc.
Người vợ đóng cửa nhà, im lặng ngồi trên trụ cửa.
Không có ánh trăng, bốn bề tối mịt, gió lạnh thổi qua.
Bất tri bất giác, người vợ bắt đầu mơ màng, bà nhìn thấy một bóng người lắc qua lắc lại trong màn đêm bước đến, người đó ngẩng đầu lên, nhìn bà chằm chằm.
Bóng dáng của ông chủ Thẩm thoáng hiện lên trong tâm trí, trông giống ông ta nhưng trông không rõ được.
Bà dụi dụi mắt, hóa ra không phải ông chủ mà là người vợ đẫy đà của ông ta, bà ta đang chống gậy đi về phía bà, vừa đi vừa hét: “Nguyệt Nga… Nguyệt Nga… Nguyệt Nga…”
Bà vợ ông chủ Thẩm đi đến trước mặt liền đẩy cửa vào trong, bà vội đứng lên cản lại, duỗi tay ra nhưng không sao cản được. Vừa đứng dậy liền tỉnh cả hồn, nhìn quanh bốn bề chỉ thấy tối thui, không có gì cả.
Lẽ nào mình hoa mắt ư?
Người vợ tiếp tục ngồi xuống trụ cửa, lại nghĩ về chuyện phát hiện số bạc buổi sáng… Rồi lại nhớ đến việc Lôi pháp quan nói chồng mình trúng phải Tà Thần gì đó… Con lừa đi theo mình nhiều năm cũng chết đi… Thẩm trạch vô duyên vô cớ cháy lớn… Bốn mạng người… Kho bạc bị mất… Có dấu móng vuốt của con quái vật lông đen…
Trong cơn mơ màng, lại có một trận gió thốc vào mặt, cơn gió bọc lấy một người vợ trẻ trung xinh đẹp ôm con chạy về phía bà.
Đứa bé cứ khóc “oa oa”, lúc đến trước mặt bà, người thiếu phụ trẻ đẹp giao con cho bà.
Bà giở một góc chăn quấn đứa bé lên, nương ánh đèn trong nhà kho trông thấy đứa bé chỉ có nửa gương mặt, đang vừa khóc vừa hét lên với bà: “Mẹ, mẹ ơi, mẹ ơi…” Đồng thời có một bàn tay thò ra đặt lên vai bà.
Người vợ “Á” lên một tiếng buông đứa bé ra, đứng dậy.
“Mẹ? Mẹ? Mẹ sao thế?”
Người vợ đầu đầy mồ hôi quay đầu phát hiện trên vai mình là bàn tay của đứa con trai, trái tim suýt chút vọt ra khỏi lồng ngực.
Tiết Siêu lắc lắc bà, gọi to: “Mẹ, mẹ ơi, mẹ làm sao thế? Mặt mẹ tái mét, kêu biết bao nhiêu tiếng mẹ cũng không trả lời, có chuyện rồi, mẹ vào trong đi.”
Sau khi vào trong, hai chân người vợ càng mềm nhũn, nếu không phải có đứa con đỡ, chắc chắn bà lại ngã nhào rồi.
Giữa nhà kho đã đào một cái hố, nhưng trong hố lại hiện ra ba cái chum nữa. Hai cái chum có miệng bị đá lấp lại, hơn nửa thân chum còn đang bị chôn dưới đất. Cái chum ở giữa đã lộ hẳn lên, tảng đá cũng đã bị dở xuống, trong chum chứa đầy kim nguyên bảo.
“Mẹ, bên dưới cái nào cũng có chữ, đều là Thẩm gia.” Tiết Thái cầm kim nguyên bảo lật lên cho mẹ xem.
“Mẹ, ở đây cũng có.” Tiết Đỉnh đứng cách đó không xa chỉ xuống chân, một mép chum lộ ra ngoài.
Người mẹ thở dài: “Tìm! Tìm hết đi! Xem còn chỗ nào nữa không.”
Khắp nơi trong nhà kho đều bị đào thành từng cái từng cái hố nhỏ, tổng cộng phát hiện tám chum, được tập hợp toàn bộ ở nửa bên trái nhà kho.
“Làm sao đây hả mẹ?”
Người vợ thở dài: “Aiz, chôn, chôn hết, chôn hết thứ tai họa này đi, các con sang đào bên kia.”
Bên phải không phát hiện cái chum nào, ba người con trai đào hố xong bèn đem nguyên bảo trên gác dời xuống rồi lấp lại, lấp đất lên chắc chắn, sau đó lại bày rương và giá lên, trừ phần đất bên phải nhà kho cao thêm hơn một thước ra thì không có gì bất thường.
Toàn bộ quá trình còn có một chuyện kì quái nữa.
Lúc đám Tiết Siêu dọn nguyên bảo từ trên gác xuống thì đột nhiên có một con mèo chui ra, thân mình to lớn, toàn thân đen tuyền, dựng hết lông tóc trợn đôi mắt đỏ ngầu nhìn bọn họ mà rống lên, ai nhặt bạc lên con mèo liền vung vuốt cào người đó.
Tiết gia không nuôi mèo, hàng xóm chung quanh cũng không thấy có con mèo nào màu đen.
Tiết Siêu lặng lẽ cầm cái cọc dùng để chống cửa sổ lên, nhân lúc con mèo không chú ý thì quất nó, trùng hợp đánh trúng đầu mèo. Con mèo bị đánh một cú thật đau thì gào lên chạy mất, sau đó thì trừng mắt nhìn họ từ xa, rồi không xáp đến nữa.
Tiết Thái nhặt chiếc lục lạc rơi xuống lúc con mèo bỏ chạy lên, tự mình lẩm bẩm: “Con súc sinh này còn đeo lục lạc cơ đấy.” Sau đó bèn thuận tay nhét lục lạc vào vạt áo.
Lúc tiếng gà gáy đầu tiên vang lên mới là lúc làm xong việc, con mèo đen cũng biến mất từ lâu.
Người vợ khóa cửa rồi bảo con trai ai về phòng nấy mà nghỉ, còn chuyện trên gác có mèo, ba đứa con đều không nói cho người mẹ canh ở ngoài cửa nghe.
**
(5)
Tiết chưởng quỹ đã nằm được một năm, ngày ngủ đêm ăn. Người nhà cũng đã quen rồi, nói ra ngoài là bị trúng gió, thực ra ai cũng biết là bị trúng tà.
Hôn sự của Tiết Thái bởi Tiết chưởng quỹ ngã bệnh nên cứ lần lữa mãi, đằng gái đã bao phen nhờ bà mai tới chuyển lời rằng, còn lần lữa nữa người ngoài sẽ nói ra nói vào, mà thông gia bệnh rồi hình như họ cũng không muốn gả con cho nữa. Đằng gái cũng thực lòng lo cho sức khỏe của Tiết chưởng quỹ, tình trạng kiểu đó nói mất là mất, nhưng nếu mất thật thì con trai cũng phải chờ mãn tang mới có thể thành thân, thế là khuê nữ đã bị lỡ dở thành bà cô già mất còn gì.
Sau khi bà mai đi, người vợ gọi ba người con đến, tâm sự trùng trùng nói: “Một năm nay cha con sinh bệnh, hôn sự của lão tam cũng vì thế mà lùi lại một năm rồi, bây giờ chúng ta cũng phải bắt đầu sắp xếp, đây cũng là chuyện lớn nhà ta, nhưng nhà mình… Trước là cha con mất phần lợi tức của chưởng quỹ, rồi trước trước sau sau nào mời đại phu nào tìm thầy pháp đã tiêu không ít tiền, bây giờ thực sự không dư dả nữa…”
Tiết Siêu gật đầu thật mạnh: “Phải đó mẹ à, bây giờ làm ăn không dễ, chỉ nói cửa hiệu nhà ta thôi, gạo ngon bán không được giá, trấu thô tấm vụn kể ra ngày nào cũng bán ra không ít nhưng lại chẳng kiếm được mấy đồng.”
“Những chuyện này mẹ biết hết, tìm các con đến chính là để thương lượng chuyện này đây. Suy nghĩ của mẹ chính là bởi vì nhà ta không dư dả, mà hôn sự của lão tam lại là hôn sự cuối cùng của nhà ta, chúng ta phải làm cho rình rang thể diện lên mới được, ít nhất cũng phải linh đình hơn so với hai con. Như vậy chòm xóm xung quanh mới biết, tuy rằng cha con đổ bệnh nhưng nhà họ Tiết vẫn chưa lụn bại.”
Tiết Đỉnh, Tiết Thái đều gật đầu phụ họa, Tiết Siêu nhìn ra ngoài cửa, lại nhìn mẹ mình, chỉ vào hậu viện rồi nói: “Mẹ ơi, ý của con là… Chi bằng chúng ta ít nhiều cũng nhón ra một tí?”
Trong trong ngoài ngoài Tiết gia giăng đèn kết hoa chuẩn bị hôn lễ, vẻ mặt tất cả mọi người đều toát ra nét rạng rỡ hiếm hoi lâu ngày mới có.
Lúc ăn xế, người vợ nói với Tiết Siêu rằng: “Lão đại, ngày mai con nhín ra chút thời gian đến chỗ nhị tỷ, ngày mẹ tính rơi vào tháng này, bây giờ cơ thể con bé nặng nề, hôm lão tam lấy vợ đừng cho nó với tú tài qua, đến khi con được đầy tháng mới qua gặp nàng dâu cũng không muộn.”
“Vâng thưa mẹ, để con dọn thêm mấy món đồ linh tinh vụn vặt mang qua.”
“Đừng chỉ lo dọn đồ, lấy thêm một trăm lượng bạc nữa cho tú tài, nói đây là vốn liếng mẹ thương tình cho nhị tỷ, bảo tú tài tìm bà đỡ nào tốt trước, sinh con đầu lòng như dạo quỷ môn quan, không dễ.”
“Mẹ yên tâm đi ạ.”
Nhị tỷ là cô con gái duy nhất của nhà họ Tiết, sinh sau Tiết Siêu mà trước Tiết Đỉnh, gả cho Lý tú tài ở trấn Minh Độc, giờ đang có bầu.
Hôn sự của Tiết Thái làm hết sức rình rang, bà con không ngờ rằng nhà họ Tiết còn có thể lo liệu được bàn tiệc thịnh soạn bảy đĩa tám chén, ai nấy đều khen không ngớt lời.
Ba ngày sau hôn lễ, tú tài nhờ người từ trấn Minh Độc mang đến một tin tức, nói nhị tỷ khó sinh, lớn nhỏ đều không giữ được.
Cả nhà khi ấy đều biến thành kiến bò trên chảo nóng, không biết là tú tài nói không đủ rõ hay là người truyền tin hồ đồ, lát thì nói đứa con không giữ được, lát thì nói người lớn không giữ được, rồi lại nói chắc là đều có thể giữ được.
Người vợ không thể đi xa, bèn lập tức sai Tiết Siêu, Tiết Đỉnh đến nhà tú tài, xem xem rốt cuộc xảy ra chuyện gì.
Trấn Minh Độc và Quách Đỗ cách nhau hơn ba mươi dặm, hai anh em rời nhà vào buổi trưa, nửa đêm hôm ấy Tiết Đỉnh đã kéo theo thi thể Tiết Siêu về.
Nói ra thật lạ lùng, trạng thái của nhị tỷ trước lúc sinh rất tốt, thậm chí bà đỡ còn đùa rằng: “Cứ xem như đại tiện, dồn hết sức, nín thở, oạch một cái là ra rồi.”
Bà đỡ nức tiếng gần xa, số em bé do bà đỡ đẻ không một nghìn thì cũng tám trăm, nên nhị tỷ không chút ưu phiền. Khi nhị tỷ hít hơi gắng sức thì trông thấy một con mèo đen trên xà nhà, con mèo trừng đôi mắt đỏ ngầu máu nhìn thị, sau đó con mèo đột ngột phóng lên bụng thị mà chui vào.
Nhị tỷ hét lên “Mèo! Mèo! Mèo!” Rồi hết hơi, sau đó bụng đau dữ dội, nghe đâu có thứ gì nhào lộn trong đó.
Bà đỡ dùng hết mọi thủ đoạn, cuối cùng nhị tỷ chỉ sinh ra được một khối thịt máu thịt bầy nhầy, lúc hai anh em đến nhà tú tài, nhị tỷ đã tắt thở.
Nhìn thấy thi thể em gái, Tiết Siêu bóp cổ tú tài, ghì tú tài vào tường chất vấn: “Ngươi mời bà đỡ cái kiểu gì vậy? Mời bà đỡ kiểu gì? Không phải vừa cho ngươi một trăm lượng bạc để tìm bà đỡ giỏi sao, sao lại chết người? Nói, nói đi, người sao lại chết…”
Tiết Siêu vừa chất vấn vừa bóp cổ tú tài mà lắc, cha tú tài bước lên kéo Tiết Siêu ra nói: “Bà đỡ được mời là bà đỡ giỏi nhất chung quanh, xưa nay chưa từng thất thủ, cũng không biết sao con dâu lại đột ngột có chuyện…”
Tiết Siêu không ngừng chất vấn, lực tay cũng bóp càng lúc càng mạnh.
Tú Tài đỏ mặt tía tai không sao giằng thoát, nghẹt thở đến mức dần thở không ra hơi. Trong cơn hoảng loạn, tay tú tài đụng trúng cái tẩu thuốc, chính là cái vắt ngay eo của người cha tú tài đang kéo Tiết Siêu ra. Tú tài chộp lấy cái tẩu thuốc đánh vào anh vợ, trúng ngay huyệt thái dương.
Không ngờ rằng mũi Tiết Siêu thoắt cái chảy máu, bàn tay bóp lấy tú tài cũng dần buông lỏng ra, ngã nhào ra đất không đứng lên được nữa.
Tay tú tài ngày thường chỉ biết cầm cán bút, không có nhiều sức lực, ai ngờ rằng một cái tẩu thuốc lại nện chết người đâu.
Vợ con Tiết Siêu đang nhoài người trên thi thể anh ta và vợ Tiết chưởng quỹ cùng nhau khóc, người sống sờ sờ sao lại đi đột ngột thế này, mà người đang trong cảnh ngộ khủng khiếp vĩnh viễn không bao giờ ngờ rằng còn có chuyện khủng khiếp hơn nữa xảy ra.
Trưa ngày tiếp theo, thi thể Tiết Siêu vừa mới được quàng vào quan tài người cha là Tiết chưởng quỹ mới vừa sáu mươi tự chuẩn bị cho mình. Sau đó, Tiết gia lại được đưa về hai thi thể nữa, là người con thứ ba Tiết Thái và vợ cậu ta.
Ngày thứ ba sau khi thành thân, Tiết Thái theo vợ về nhà mẹ đẻ, vì hai nhà cách nhau hơi bị xa xôi nên Tiết Thái ở lại nhà vợ. Sau khi Tiết Siêu có chuyện, gia đình gấp rút gửi tin, thế là hai đứa con nhỏ lên xe trở về, nửa đường xe ngựa lao xuống vách núi. Nói vách núi chứ thực ra cũng chỉ cao hơn một người bình thường, chẳng qua là thùng xe lúc lật lại không nghiêng không lệch ụp lên người bọn họ.
Người qua đường hoảng hốt đến lật thùng xe lên, thấy mặt hai người ngoại trừ hơi tái mét ra thì không có vết thương nào khác, nhưng người qua đường kêu nửa ngày hai người cũng không đứng dậy, sờ mũi mới hay đã tắt thở rồi.
Nói ra cũng quái, chiếc xe đang chạy băng băng trên đường, chiếc lục lạc Tiết Thái quàng lên cổ ngựa cứ liên tục kêu ‘đing đang’. Nhưng khi chiếc xe ngoặt vào vách núi, lục lạc đột nhiên rơi mất, vó ngựa vừa hay giẫm lên thế là mất thăng bằng, sau đó lôi theo chiếc xe bay xuống vách núi.
Người ngã chết, ngựa còn nguyên.
Nhìn hai người nằm trên xe, vợ Tiết chưởng quỹ không gào khóc, bà đã khóc cho con trai cả với con gái quá mức đau thương rồi, giờ đã cạn khô nước mắt. Sờ lên gương mặt tái mét của hai vợ chồng Tiết Thái, vợ Tiết chưởng quỹ nhịn không được nhoài người vùi mặt vào thi thể. Khi ngước mắt lên, dường như bà thoạt thấy dấu ấn của một đóa hoa nhàn nhạt trên trán con trai mình. Người vợ lại ghé mắt nhìn kĩ, đột nhiên như có luồng điện chạy qua đầu, đầu bà lóe lên cái câu Lôi pháp quan đã dặn trước lúc sắp đi năm ngoái: “Đừng chọc con mèo đen, cứ mặc nó.”
Dấu ấn trên trán vợ chồng Tiết Thái rõ ràng là dấu mèo cào!
Đất trời đảo lộn, hai tai ù đi.
Không biết qua bao lâu sau, vợ Tiết chưởng quỹ mới khôi phục lại thần trí, bà mặc kệ xóm giềng bên cạnh, chống gậy lặng lẽ bước vào gian nhà chính, Tiết chưởng quỹ bên trong vẫn đang ngủ say sưa như mọi ngày.
Đột nhiên bà như điên như dại vung gậy quất mạnh vào người Tiết chưởng quỹ, vừa quất vừa mắng.
“Thằng già này, ông dậy ngay!”
“Cái thằng già này, rốt cuộc ông đã làm chuyện táng tận lương tâm gì!
“Có chết thì ông chết một mình đi, đám con từng đứng từng đứa, không phải ông sinh, không phải ông nuôi…
“Tôi đánh chết ông!
“Đánh chết thằng già này!
“Đánh chết ông!
“Tôi đánh…”
Chiếc gậy bất ngờ bị ai đó tóm được, người vợ xoay đầu nhìn Lôi pháp quan, sau lưng ông còn có một vị pháp quan nữa râu tóc bạc trắng.
“Aiz…” Vợ Tiết chưởng quỹ bây giờ mới bắt đầu thút thít, “Hết rồi… hết cả rồi…”
**
(6)
Người râu tóc bạc trắng ấy chính là Trương Thiên Sư – sư phụ của Lôi pháp quan, hai người vừa từ Ngọc Tuyền quán gấp rút chạy về.
Trước đó Trương Thiên Sư vẫn đang mãi bế quan tu luyện, chuyện ông ta xuất quan phải kể đến từ tận chín năm về trước.
Trên ngọn núi mặt bắc trấn Quách Đỗ có một làng tên Lan Hà, làng Lan Hà liên tục nhiều năm cháy lớn, làng mạc khác biết bao nhiêu năm chưa từng cháy một lần nào nhưng làng Lan Hà mỗi năm ít thì hai ba lần nhiều thì sáu bảy lần hỏa hoạn, không phải cháy nhà thì là cháy rơm cháy rạ, dân làng khổ không sao tả xiết. Về sau trong làng có một trưởng giả cho rằng có thể là do tà ma quấy phá, bèn phát động dân làng quyên tiền mời Lôi pháp quan tới cầu an.
Lôi pháp quan đạp bước khắp thôn làng, phát hiện lửa đều cháy từ phía nam, cho rằng phía nam có thể có hung thần. Dân làng theo Lôi pháp quan đi một mạch về phía nam tìm kiếm, cuối cùng phát hiện trên đỉnh một ngọn núi ở phía nam trấn Quách Đỗ có một ngôi miếu đổ nát, cửa miếu hoang phế còn sót lại tấm biển “Miếu Hỏa Thần”. Từ cửa miếu Hỏa Thần nhìn thẳng ra, đối diện phía xa chính là làng Lan Hà, Lôi pháp quan nói với dân làng đây chính là nguyên nhân làng Lan Hà triền miên hỏa hoạn.
Lưng chừng nửa ngọn núi đó có chừng mười hộ nhà dân, dân làng xuống đó nghe ngóng lai lịch ngôi miếu, mới biết mười hộ dân này cùng họ, chính là hậu duệ của một gia đình trốn đến nơi này lánh nạn khi trước. Người nhà này nói lúc ông tổ dọn đến đây thì đỉnh núi đã có ngôi miếu rồi, miếu đó thờ phụng một tấm tranh bản gỗ, trên bức tranh là năm vị thần linh có sáu cánh tay, tóc đỏ, mặt đỏ, râu đỏ, áo đỏ, giáp đỏ.
Vì diện dung trên bức họa hung ác, miếu này lại ở trên đỉnh núi không thường có người đi lại, họ cũng không muốn thờ cúng, lại vì không có người đi ngang qua, tháng rộng năm dài miếu Hỏa Thần càng lúc càng hoang phế.
Sau khi tìm được nguyên nhân, Lôi pháp quan và dân làng ra về, Lôi pháp quan nói với dân làng rằng muốn tránh lửa cũng rất dễ, bảo họ đắp đường xây tường đất, đất có thể ngăn lửa, chỉ cần có bức tường che chắn, làng Lan Hà thì có thể tránh lửa rồi.
Nhưng trưởng giả trong làng không đồng ý, nói tường chỉ có thể ngăn lửa bên ngoài làng, không trừ cỏ tận gốc, nếu đã tìm được nguồn cơn tai họa thì xin Lôi pháp quan diệt trừ hậu hoạn.
Lôi pháp quan cười ha hả, nói để về chuẩn bị thêm rồi mới đến, sau đó bỏ đi.
Thực ra là vì ông chột dạ, ông theo sư phụ học nghệ nhiều năm, bình thường bắt ma trừ yêu ông có thể xử lý một mình nhưng lần này lại không nắm chắc.
Ông nhìn không ra năm vị đó là thần tiên hay là yêu ma quỷ quái, hơn nữa nếu như động thủ ắt phải lấy một địch năm, đối phương người nào cũng có sáu cánh tay. Tục ngữ nói hai nắm đấm khó địch được bốn bàn tay, càng khỏi nói đối phương có tới tận ba mươi sáu tay lận, thế nên ông muốn về tìm sư phụ giúp.
Trương Thiên Sư nghe đồ đệ nói mà thấy li kỳ, đích thân đi một chuyến bèn biết rõ thiên cơ.
Hóa ra năm vị được thờ trong miếu Hỏa Thần chính là nhóm Hỏa Thần có dính líu đến việc vi phạm luật trời, sau khi bị thu hồi pháp lực thì bị biếm khỏi thiên giới. Vì họ chỉ còn chút ít nguyên thần, không vào được những nơi khác, thế là bèn gửi thân trong ngôi miếu Hỏa Thần hoang phế này. Cũng vì khuyết thiếu đồ cúng tế, nhóm Hỏa Thần này bắt đầu trở nên hung bạo. Tuy nói không còn pháp lực nhưng dẫu sao nguyên thần cũng thuộc hỏa, thế nên làng Lan Hà đối diện cửa miếu đã trở thành đối tượng cho bọn chúng tàn sát thị uy, bởi vậy hỏa hoạn không ngừng.
Lôi pháp quan hỏi sư phụ phải xử lý ra sao.
Trương Thiên Sư cười nói đơn giản lắm, bao vây ngôi miếu rồi phóng hỏa, cho bọn chúng đến từ đâu thì về nơi đó. Hơn nữa Trương Thiên Sư còn nói việc này đối với dị nhân như họ có thể coi là thay trời hành đạo, là chuyện tốt có thể tích đức, đạo hạnh của họ cũng có thể dựa vào nó mà tấn thăng một cấp.
Trương Thiên Sư chọn ngày lành tháng tốt, bảo dân làng trong làng Lan Hà đeo thần phù lên người, đêm xuống âm thầm lặng lẽ ôm theo rơm rạ vây chặt lấy miếu Hỏa Thần.
Lôi pháp quan dựng một pháp đàn, sư phụ làm phép, dẫn thiên hỏa đốt cháy miếu Hỏa Thần.
Vì đêm hôm khuya khoắt, người nhà ở lưng chừng núi đều ngủ say sưa, thế nên không ai biết miếu Hỏa Thần bốc cháy. Nhưng chuyện này khéo thay là có một dân làng nửa đêm thức dậy đi tè, ngẩng đầu nhìn thấy đỉnh núi cháy lớn bèn thuận miệng nói câu “Đi tìm nước”.
Lời nói theo gió truyền lên đỉnh núi, chữ “nước” lập tứ phá vỡ pháp trận, một thành viên trong nhóm Hỏa Thần thuận “nước” trốn đi.
Lôi pháp quan đang hộ pháp phát hiện một luồng hỏa khí lách đi, còn chưa kịp nhìn rõ chuyện gì thì nghe sư phụ hét to “không hay rồi”, bởi vì trước khi khai đàn Trương Thiên Sư có dặn dò tất cả mọi người không ai được lên tiếng, ai ngờ lão nhân gia ông lại là người lên tiếng đầu tiên. Sau đó Trương Thiên Sư chân bước như bay, nhằm thẳng một hướng đuổi theo tựa như cơn gió. Lôi pháp quan không có cước lực như sư phụ, chỉ đành ở nguyên chỗ cũ canh giữ tàn trận.
Không bao lâu sau, miếu Hỏa Thần đã hoàn toàn cháy trụi. Dân làng Lan Hà mừng rỡ, về sau làng này sẽ được bình yên vô sự rồi. Sự thực cũng chính là như vậy, quả thực làng Lan Hà sau đó cũng không gặp phải trận hỏa hoạn nào.
Sau khi lửa lớn đã hoàn toàn dập tắt, Trương Thiên Sư mới quay về, Lôi pháp quan hỏi sư phụ đuổi theo cái gì, sao vừa rồi lại hét lên ‘Không ổn’. Trương Thiên Sư chỉ lắc lắc đầu, một câu cũng không nói, không bao lâu sau bèn lên núi bế quan tu luyện.
Lúc trút bỏ hỏa hình, Lôi pháp quan chỉ cảm nhận được một luồng hỏa khí lẻn đi nhưng Trương Thiên Sư có pháp nhãn, ông thấy rất rõ có một Hỏa Thần chuồn được nên mới chạy theo. Chính Thần vi phạm luật trời cần phải chịu thiên kiếp, song vì đủ loại duyên do mà thiên kiếp cũng có cách tránh được, một khi tránh được Chính Thần sẽ biến thành Tà Thần vượt khỏi tam giới. Trương Thiên Sư tuy là dị nhân nhưng dẫu sao cũng vẫn là người, thế nên ông ta đuổi không kịp Hỏa Thần đã trốn mất. Hỏa Thần đó chắc chắn đã biến thành Tà Thần, may mà không có pháp lực, hơn nữa đã bị thiên hỏa làm bị thương. Nhưng Trương Thiên Sư nhất định phải tu luyện được bản lĩnh có thể giáng phục được y trước khi nguyên khí của Tà Thần hồi phục, bởi vì việc Tà Thần trốn đi là bởi ông khởi nguồn, chiếu theo luật trời cũng phải do ông kết thúc, thế nên ông mới bế quan tu hành.
Hỏa Thần đào thoát đó là Hỏa Thần có linh lực cao nhất trong năm vị Hỏa Thần. Khi ấy, bốn Hỏa Thần khác đã tan thành tro bụi, còn Hỏa Thần này cũng bị đốt cho mù mắt, nói một cách khác chính là nguyên thần sắp phế, tan thành tro bụi cũng chỉ là chuyện trong một sát na. Mà chữ “nước” kia ấy thế lại xuất hiện đúng ngay lúc này, Hỏa Thần bèn thuận nước mà đi, thoát khỏi thiên kiếp và sự truy đuổi của Trương Thiên Sư, lại vì mù mắt không thấy được phương vị, đụng trúng ngay kết giới Ngọc Tuyền quán nơi ấy.
Ngọc Tuyền quán tuy là đạo quán nhân gian nhưng lại thờ Ngọc Đế. Ngọc Đế nổi giận chính bởi vị thần phạm lỗi đã trốn khỏi hỏa hình này, ngờ đâu thứ này lại tự đâm đầu vào đạo tràng của ngài, thế nên ngài tức thì phái hai vị Hộ Pháp Thiên Vương của đạo tràng ra bắt giữ Hỏa Thần mù mắt, thu y vào túi Càn Khôn vứt xuống hố trời.
Túi Càn Khôn là thiên vật, thần ma yêu quỷ bị nó nhốt vào chỉ cần chín ngày – cũng tức là chín năm ở nhân gian, ắt mất cả hình thần, hóa ra tro bụi, hơn nữa vĩnh viễn cũng không thể bước vào tam giới luân hồi.
Nhưng vạn sự không thể liệu được rằng, Hỏa Thần mù mắt bị vây khốn chín năm trong hố trời, lúc chỉ còn cách mấy ngày ở nhân gian là phải gặp thổ kiếp, vừa hay đội la của Tiết chưởng quỹ đi ngang qua, con mèo đen đi theo suốt dọc đường bị Bưu Tử quật ngã xuống hố trời, rớt ngay trên túi Càn Khôn. Do con mèo đen bị đánh đến miệng mồm đầy máu, mà nhờ một giọt máu thấm lên túi Càn Khôn, nguyên thần của Hỏa Thần mù mắt bèn mượn giọt máu kia tiếp tục lỉnh ra ngoài – Y là một Hỏa Thần biết trốn theo làn nước.
Sau đó mèo đen được Khỉ Gầy cứu khỏi hố trời, Hỏa Thần mù mắt bèn gá lên người Tiết chưởng quỹ có sức sống yếu nhược nhất trong số đó, lại luyện hóa con mèo đen thành tôi tớ của mình, mang về Tiết gia giúp hắn trị thương.
Lần đầu tiên Lôi pháp quan vào Tiết gia thì đã cảm thấy dị thường, ông phát hiện dưới người con lừa chết có túi Càn Khôn là thiên vật, đoán chừng kẻ gá lên người Tiết chưởng quỹ có khả năng chính là luồng hỏa khí năm đó trốn đi mới đi tìm sư phụ mình giúp đỡ.
Trương Thiên Sư dựa theo túi Càn Khôn mà tìm đến Ngọc Tuyền quán, thông qua văn khấn thỉnh Ngọc Đế ban cho pháp chỉ và thần phù để giáng phục Tà Thần, sau đó nghe thấy Tiết gia liên tiếp chết người, biết Tà Thần gây hại mới vội vàng đến đây.
Lôi pháp quan rút cây gậy của người vợ về, bảo mấy người trong nhà họ Tiết đỡ người vợ ra. Sau khi đóng chặt cửa gian nhà chính, trở vào phòng trong liền thấy ngay một con mèo đen khổng lồ đang nhe nanh múa vuốt với sư phụ mình.
Mèo đen cong người gập lưng, lông tóc nổ tung, mình mẩy dần dần phình ra to như một con hổ. Nó đỏ mắt, nhe răng, há cái mồm đỏ tươi như máu nhìn chòng chọc hai người.
“Súc sinh được lắm!” Trương Thiên Sư trỏ hai ngón tay vào mèo đen, “Ngươi đã hại không ít người rồi.”
“Chúng đều đáng chết.” Không ngờ mèo đen liếm môi, nói bằng giọng the thé của một chàng trai trẻ tuổi.
“Thẩm gia tổn hại âm đức, đáng chịu kiếp nạn này, nhưng tại sao ngươi lại hại đến cả phụ nữ và trẻ em vô tội?”
“Ồ… Hóa ra ngươi thấy thế à?” Mèo đen thế mà giơ vuốt chải râu, “Uổng cho ngươi có hơn trăm năm đạo hạnh, vậy mà lại nói cái câu khốn khiếp thế này, lẽ nào tiểu chủ nhân của bản tọa và mẫu thân của ngài đáng phải chết sao?”
“Ngươi tới báo thù?” Trương Thiên Sư có phần kinh ngạc.
“Không oán ai đòi trôi dạt, tội nghiệt ắt phải có nhân, xưa nay nợ máu phải trả bằng máu.”
Bộ lông xù lên của mèo đen dần dần xẹp xuống, cơ thể nó bắt đầu hóa nhỏ, cũng không há mồm nhe nanh nữa.
Vừa nói, mèo đen vừa dùng vuốt lau hốc mắt, nơi đó có mấy giọt máu chảy ra: “Ngươi còn cảm thấy đàn bà và trẻ con Thẩm gia vô tội nữa chăng? Một mạng đền một mạng thôi mà.”
Trương Thiên Sư bị hỏi cho á khẩu. Ông là dị nhân, hiểu rõ chuyện đời đều do nhân quả nhưng ông làm sao biết được ẩn tình này, bèn nói: “Rồi vì mấy lượng bạc đó mà ngươi không chỉ giết người, còn dọn sạch kho bạc nhà người ta?”
“Của bất nghĩa, lấy đi có gì không thể?”
“Nhưng Tiết gia cứu ngươi, huống hồ ngươi còn ở đây dưỡng thương, sao phải liên tiếp giết hại mấy mạng người nhà họ Tiết?”
“Ai bảo bọn chúng tiêu tiền của bản tọa chi?” Mèo đen lập tức trợn trừng mắt.
“Tiền của ngươi?”
“Bản tọa mang đến thì là của bản tọa.”
“Mang đến mà không cho người ta dùng à?”
“Đó là để cho bản tọa ở đây nghỉ dưỡng, không phải cho chúng tiêu xài.”
“Hừ, chỉ cho mình ăn không ở không nhà người ta, không cho người ta động đến đồ của mình, dưới gầm trời này nào có vương pháp như vậy?”
“Vương pháp dưới gầm trời này không quản được bản tọa, ngươi biết điều đó.” Mèo đen kiêu ngạo ngẩng cao đầu nhìn Trương Thiên Sư.
“Cưỡng từ đoạt lý, nếu vương pháp đã không thể quản được ngươi, vậy để bần đạo quản!” Lúc Trương Thiên Sư nói “bần đạo” thì đột nhiên nghiêm nghị to tiếng, đồng thời vung tay bắn ra vật gì.
Hóa ra chính là túi Càn Khôn, chiếc túi thoắt chốc biến thành miệng gió treo lơ lửng trên không, hút mạnh con mèo vào.
Cùng lúc đó, Tiết chưởng quỹ vốn đang nằm trên giường bỗng nhiên ngồi dậy khoanh chân, hai tay bắt đầu kết ấn.
Mèo đen không kịp phòng bị, chống tứ chi gào lên chí cha chí chóe, lông tóc theo gió dựng đứng lên, hồn phách dần dần bị túi Càn Khôn kéo ra, cuối cùng khi tiếng gào thét thê thảm vang lên, mèo đen cùng lúc đó ngã xuống, nằm thẳng cẳng trên giường.
Khi hồn phách của mèo đen bị thu vào túi Càn Khôn, Tiết chưởng quỹ vẫn đang ngồi xếp bằng trên giường, bàn tay không ngừng kết ấn. Mặc cho râu tóc đều đang dựng đứng cũng không hề nhúc nhích rục rịch chút nào mà luôn trợn đôi mắt đỏ lửa nhìn chằm chằm Trương Thiên Sư, ngọn lửa hừng hực cháy bừng rõ ràng trong hai hốc mắt như chực chờ phun hẳn ra ngoài.
“Đồ nhi dán bùa!”
Lôi pháp quan vội vung bảo kiếm lên, dán lá Thần phù của Ngọc Tuyền quán lên mũi kiếm rồi giơ lên trời, miệng lầm rầm niệm chú.
Lại thấy sức gió trong túi Càn Khôn càng lúc càng to, hút một ngọn lửa ra khỏi đầu Tiết chưởng quỹ, hai má Tiết chưởng quỹ phồng lên.
“Cho bản tọa thêm bảy ngày.” Tiết chưởng quỹ chịu đựng một lúc, nói bằng chất giọng chói tai của một thanh niên.
Y đang xin tha, Trương Thiên Sư biết y đang xin tha mạng, nhưng đầu ông cũng đã đổ đầy mồ hôi, đã đạt đến cực hạn rồi.
Trương Thiên Sư ra hiệu cho đồ đệ thu kiếm, sau đó giơ tay nắm lấy túi Càn Khôn, buộc lại bằng một sợi thừng gai rồi cất vào tay áo.
“Vì ngươi mà bần đạo phải bế quan chín năm.”
“Ngươi biết rõ, ngươi hoàn toàn không có niềm tin sẽ thắng được bản tọa.” Đầu Tiết chưởng quỹ bốc lên một luồng hơi nóng, “Bảy ngày, bản tọa chỉ cần bảy ngày.”
“Vậy bần đạo sẽ canh giữ ngươi ở đây bảy ngày, đến lúc đó cho dù có phải cá chết lưới rách cũng phải hàng phục được ngươi.”
Trong bảy ngày này, Trương Thiên Sư bày trận pháp thất tinh trong gian nhà chính của Tiết gia, tự mình ngồi vào chủ vị, hai thầy trò cùng nhau lập đàn canh giữ.
Người vợ ngày nào đến khi chạng vạng cũng mang vào phòng hỗ lốn thịt cá với rượu ngon, Tiết chưởng quỹ ngủ dậy liền ăn ngấu ăn nghiến.
Một cái lán thiêng được dựng ở góc vườn, dưới tấm trướng đen lụa trắng là một cỗ quan tài, bên trong chứa Tiết Siêu.
Thi hài vợ chồng Tiết Thái tạm thời được đậy lại bằng vải bố đặt sang một bên.
Mấy người thợ mộc đang làm quan tài trong vườn, gia đình đã có sẵn tấm quan tài mà Tiết chưởng quỹ chuẩn bị sẵn cho người vợ, chỉ là chưa cưa ra vì người vợ còn chưa được sáu mươi tuổi.
Lão nhị Tiết Đỉnh lại mới mua thêm một tấm quan tài nữa, chuẩn bị làm thành quan tài đưa xác em trai em dâu vào, kết quả là Lôi pháp quan chuyển lời của sư phụ ông ta bảo làm thêm một cỗ nữa, Tiết Đỉnh không dám hỏi là để cho ai, e rằng nhà mình lại có thêm người chết nữa.
Trận pháp thất tinh gồm bảy trản đèn sao, mỗi mười hai canh giờ sẽ tự động tắt một trản.
Giờ Tý ngày thứ bảy vừa đến khắc thứ tư, trản đèn chủ cuối cùng đột nhiên tắt ngấm, đồng thời thần phù dán trên cửa chính gian nhà chính bắt lửa.
Trương Thiên Sư vội đứng dậy vào phòng, chỉ thấy tấm vải đỏ phủ lên bài vị trong điện thờ cũng đang bốc cháy.
Da mặt Tiết chưởng quỹ trên giường cũng dần biến xanh, Trương Thiên Sư dặn dò người trong vườn mau khiêng chiếc quan tài không kia vào.
Trừ người vợ ra, những người còn lại vẫn không thể vào phòng, cũng không mặc thọ y, Trương Thiên Sư và đồ đệ phụ khiêng thi thể Tiết chưởng quỹ vào trong quan tài.
Lôi pháp quan ngạc nhiên vì thi thể của Tiết chưởng quỹ đã nhẹ đến mức gần như chỉ còn mỗi bộ quần áo, nếu không phải hai thầy trò họ kéo giữ hai đầu, cảm giác cơ thể này đã gần như sắp tan đi rồi.
Người vợ vội vàng bước lên nhìn một cái, da mặt Tiết chưởng quỹ đã đen ngòm, hoàn toàn không còn ra hình người nữa. Bà giật mình đến nỗi còn chưa kịp hỏi ra miệng đã bị Trương Thiên Sư đẩy ra. Trương Thiên Sư nâng con mèo đã chết cũng như sắp tan ra giống hệt, cẩn thận đặt bên mình Tiết chưởng quỹ, sau đó bảo đồ đệ mau chóng đóng quan tài.
Trương Thiên Sư nói với người vợ: “Đưa tiễn người chết đàng hoàng, chuyện nhà bà đến đây thì thôi, nhưng có việc này, số vàng bạc kia sau này một phân một hào cũng không được động đến nữa, động đến sẽ có chuyện đó.”
Sau đó ông lại trỏ vào đồ đệ, nói: “Con ở lại đây làm pháp sự siêu độ bốn mươi chín ngày đi.” Nói xong liền không thấy bóng dáng.
Không có bức tường nào mà không lọt gió, tin đồn Tiết chưởng quỹ phóng hỏa trộm bạc của ông chủ mau chóng truyền ra, rất nhiều người đều nói tiền bất nghĩa rước họa bất ngờ, thế nên mấy người nhà họ Tiết kia mới chết.
Người vợ mang theo Tiết Đỉnh, con dâu cả, con dâu thứ hai và mấy đứa cháu trai cháu gái cùng sống qua ngày. Về lời ong tiếng ve bên ngoài, họ đều bỏ cả ngoài tai. Đến khi người vợ tạ thế, đứa con trai Tiết Siêu để lại cũng đã được hơn năm mươi tuổi.
Về phần người vợ sống thọ như vậy, bên ngoài đều nói là vì nhà họ Tiết có mấy người đoản mệnh nên tuổi thọ vốn của họ đã được tích lên người bà. Nhưng lời lẽ bên ngoài nhắc đến nhiều nhất vẫn là rốt cuộc Tiết gia có món tiền bất nghĩa đó không, mà việc này cũng đã trở thành mê án nức tiếng xa gần suốt mấy trăm năm sau đó.

Đa số comment chỗ t lấy raw đều nói truyện đầu tiên dễ đoán, t không phản đối ý kiến này =)). Cơ mà có một comment khá đáng chú ý, rằng con mèo đen đã lợi hại tới mức dời được cả núi vàng núi bạc thì sao không trộm mấy đồng bạc lẻ cứu chủ nhân mình đi mà đợi người chết rồi mới bày đặt mau nước mắt trả thù =)). Hiển nhiên là tác giả không trả lời comment này vì chỗ t lấy raw là chỗ mấy NPH phân phối ebook chứ không phải chỗ tác giả đăng truyện, nhưng tính ra với 1 truyện lấy nhân quả luân hồi làm nền tảng thì cái này cũng giải thích được.
Tạm bỏ qua chuyện trước khi con mèo được Tà Thần luyện hóa thì có năng lực dời vàng lấp bạc hay không, vì nếu không thì không có gì để nói, nhưng nếu có thì kết quả vẫn là không thể trộm được vì không có nhân quả. Nhân quả tức là đã có nhân thì sẽ có quả mà đã có quả thì ắt có nhân. Thiếu nợ trả tiền là nhân quả bình thường, nên cho dù tiền trang có cho vay cắt cổ thì người bán rong cũng đã vay tiền và thế chấp nhà mình, cũng đồng ý điều khoản không trả được thì mất nhà. Về chuyện vì mấy đồng bạc lẻ mà phải mất căn nhà, tế mấy mạng người như vậy có cân không thì tạm chúng ta không bàn tới, bởi cân bằng nhân quả là chuyện của trời, không phải chuyện của người hay chuyện của con mèo hay Tà Thần. Nếu không cân, trời tự động có cách sau đó làm nó cân bằng. Nhưng túm lại dù không cân thì nó cũng đang là 1 vòng nhân quả. Nếu con mèo mà trộm tiền của ai thì tức là làm phát sinh 1 vòng nhân quả mới không liên quan gì đến nhân quả cũ. Bởi, người bị trộm tiền có dính gì vô cái vòng nhân quả của người bán rong để mà phải mất tiền, lúc đó tạo thành nhân mới thì ắt phải có thêm quả sinh ra, trùng trùng nhân quả như vậy là chuyện mà cho dù tà hay chính đều sẽ không muốn làm vì thiệt ra là chính hay tà gì cũng né không nổi nghiệp.
Chỉ có sau đó gia đình người bán rong chết, con mèo là người chịu ơn người bán rong nên đi theo trả thù, thì nó vẫn nằm trong vòng nhân quả cũ, là nhân quả tiếp nối chứ không phải phát sinh vòng mới, nên chuyện tiếp theo thực ra vẫn chỉ là nối tiếp nhân quả cũ, không hề phát sinh vòng nhân quả nào khác nữa. Đến khi Tiết chưởng quỹ chết và mấy đứa con chết, Tà Thần và con mèo đều bị thu vào túi Càn Khôn, cả nhà họ Tiết (dù không nói rõ nhưng chắc là) sống một đời nghèo khó, số tiền trộm được kia không bị động vào là coi như khép vòng nhân quả này rồi.