CHUYỆN LẠ Ở THÀNH TRƯỜNG AN
TRUYỆN: QUỶ MÈO (1-3)
Dịch (láo): A Tĩnh
#truongankydam #chuyenlaothanhtruongan #quymeo
—
(1)
Trên một con dốc thoai thoải, Tiết chưởng quỹ đang xuống lừa. Người đã già thì thịt cũng teo đi, cưỡi trên mình lừa lắc tới lắc lui đúng là đày đọa hai đùi đau đớn.
Làm tẩu thuốc từ từ đi vậy!
Đội la đằng trước đã vượt qua triền núi, thêm một canh giờ nữa là đến nhà rồi.
Năm hết tết đến, ông chủ Vận Dịch Thông sẽ gọi các chưởng quỹ của các phân hiệu phân tán bên ngoài về cửa hàng trung tâm ở trấn Quách Đỗ. Tiền bạc sổ sách đều cần sắp xếp lại, có những người phải nghỉ, có những người cần thưởng, rồi cùng ôn chuyện cũ, ăn bữa cơm tất niên đông vui náo nhiệt với nhau.
Chuyện làm ăn của ông chủ Thẩm phân bố khắp mọi nơi, từ tạp hóa, lá trà, dầu ngũ cốc, vải, cầm đồ, tiền trang, gia súc, cái gì cũng có. Tuy rằng quy mô bây giờ còn xa mới bằng được ba phần trong thời hưng thịnh, nhưng Thẩm gia vẫn là cự phú huyện Trường An [1].
Việc làm ăn mà Tiết chưởng quỹ phụ trách nằm ở trại Địch liền kề với trấn Quách Đỗ, được như này là nhờ năm kia ông cố tình xin với ông chủ, ông chủ nể mặt cảm tình giữa ông với ông chủ quá cố mới điều ông qua đây.
Tiết chưởng quỹ đã có gần ba mươi năm mải bôn ba bên ngoài, đến khi có tuổi thì lực bất tòng tâm, muốn ở nhà nhiều hơn một chút. Nhưng ông chủ nói cửa hàng chính có đại chưởng quỹ, ông về đây lại không biết sắp xếp thế nào, thế nên bảo ông tạm thời trông coi cửa hàng ở trại Địch, chỗ tốt là gần nhà hơn một chút.
Nói thế cũng là nói ngoài miệng vậy thôi bởi vì theo quy tắc, chưởng quỹ không thể vô duyên vô cớ mà rời cửa hiệu, thế nên cả ngày vẫn bị trói trong quầy, cách nhà xa gần chả liên can gì cả.
Tiết chưởng quỹ giữ chặt đuôi lừa, rề rà cùng con lừa bò lên triền dốc.
Lừa với ông đều già cả như nhau.
Con trai đã nói với ông mấy lần, muốn ông đổi một con lừa khác khỏe mạnh hơn, nhưng ông không có hứng.
Tục ngữ nói đồ nên thay mới còn người thì cứ cũ, trong mắt ông, lừa cũng là cũ tốt hơn, hơn nữa đồng nghiệp với nhau hai mươi năm nay, sớm đã quen cách tương tác rồi.
Bỗng dưng, trước mặt vọng lại tiếng gào thét, rõ ràng là kinh sợ. Con lừa già nghe thấy bèn dừng chân nhìn lên triền dốc, một đày tớ hoảng hết cả hồn đang chạy xuống đây.
“Chưởng, chưởng quỹ… Không hay rồi… La bị sợ, làm rơi, rơi hết đồ rồi…” Đày tớ thở hồng hộc.
“Chở hàng gì?” Tiết chưởng quỹ vội hỏi. Có mấy thồ hàng kẹp bạc của tổng hiệu, do chính ông nhét vào, nhưng tôi tớ dưới quyền không hay biết.
“Thồ hàng đầu tiên!”
“À…” Tiết chưởng quỹ thở phào, thồ hàng đầu tiên dẫn đường, thường không nhét bạc, “Chẳng phải nhấc lên là xong rồi à.”
“Không đâu… Chưởng quỹ, ông vẫn nên mau chóng lên trước xem đi, hàng rớt xuống giếng rồi.”
“Xuống giếng?”
“Chính là cái chỗ dưới sườn núi chúng ta thường nghỉ chân đó…”
“Bậy quá!” Tiết chưỡng quỹ vỗ mông lừa, con lừa vội bước nhanh mấy bước.
Giếng này không hẳn là giếng nước mà là một cái hố lõm được ngọn núi này tạo ra do tháng năm biến chuyển, vừa sâu vừa tròn, trông khá giống với một cái giếng. Vì ở vào nơi tránh gió trên vách núi, mùa hè không bị nắng chiếu, mùa đông không bị thổi rét nên người qua kẻ lại thường nghỉ chân ở chỗ này.
Lúc Tiết chưởng quỹ chạy đến đằng trước, đám tôi tớ đang vây quanh giếng thò đầu vào xem, bên dưới tối om, chẳng nhìn thấy rõ vật gì.
“Bưu Tử, chuyện gì thế?” Tiết chưởng quỹ hỏi một đày tớ mặt mày hung tợn, chuyến này do gã dẫn đoàn.
“Không biết nữa chưởng quỹ ơi, đi đến đây chợt con la nó hất chân, hất tung bao tải lên mà khéo thay kiểu gì lại rơi xuống giếng.”
“Ngươi lại đánh súc vật à?”
“Đánh sao được hả chưởng quỹ, sắp xuống sườn dốc rồi tôi còn đánh chúng làm gì?” Vừa nói Bưu Tử vừa biến sắc.
“Đốt đuốc lên đi, cầm thừng ra cho Khỉ Gầy men theo xuống đó xem thế nào. Đáy không sâu, đại khái tầm hơn hai trượng, đầu năm nay từng có người xuống rồi, hơn nữa lúc này đáy giếng khô.” Tiết chưởng quỹ chỉ một gã đày tớ gầy gò nói.
Khỉ Gầy mặt trông không tình nguyện nhưng chưởng quỹ đã nói, gã không thể không nghe.
Sau khi buộc dây thừng chắc chắn rồi, Khỉ Gầy bị người ta đưa từ từ xuống dưới, đến được đáy nương theo ánh đuốc nhìn rõ mọi thứ bên trên, dưới đáy đích thực khô ráo, hàng hóa văng qua một bên chẳng xây xước gì.
Khỉ Gầy cởi dây thừng ra trước rồi buộc vào hàng hóa cho kéo lên, sau đó mới kéo đến mình.
“Kia là gì thế?” Tiết chưởng quỹ trỏ vào cái túi gai kẹp dưới nách Khỉ Gầy lúc kéo gã ta lên, cho rằng đó là hàng hóa rớt xuống.
“Không, không có gì đâu chưởng quỹ.” Khỉ Gầy nhìn ánh mắt dữ tợn của Bưu Tử, giấu túi gai ra sau người.
“Lấy ra đây!”
Chưởng quỹ trước mặt tôi tớ nói một là một hai là hai, Khỉ Gầy chỉ đành đưa cái túi gai ra. Tiết chưởng quỹ cảm thấy nó mềm mềm, vừa muốn mở ra xem là gì thì đột nhiên ‘á’ một tiếng lùi về sau hai bước.
Hóa ra trong túi gai đó chui ra một vật đem ngòm, giẫm lên vai Tiết chưởng quỹ ‘phốc’ một cái vút qua, khiến ai nấy sợ hết cả hồn.
“Thằng ranh chó chết, ăn no rỗi việc, muốn dọa ta hay gì.”
Tim Tiết chưởng quỹ đập lên bình bịch, thần hồn chưa an ngoái đầu nhìn lại, hóa ra là con mèo đen, con mèo đang ở một chỗ không xa thận trọng nhìn chằm chằm đám người. Ông giơ tay quạt một chưởng lên cổ Khỉ Gầy: “Thằng ma lanh này, đâu ra con mèo vậy?”
Khỉ Gầy sờ cổ trốn ra xa: “Con nào biết đâu chưởng quỹ, trông thấy nó bên dưới thì nhấc lên thôi, có lẽ là… Bất cẩn rớt xuống nhỉ?” Nói rồi nhìn khắp mọi người.
“Đúng đúng, ngã xuống đó…” Một đày tớ khác vừa nhìn vào mắt Khỉ Gầy thì vội phụ họa theo.
Tiết chưởng quỹ không để ý mấy chuyện râu ria này nữa, nhìn sắc trời nói: “Nhấc hàng hóa lên rồi lên đường nào, chần chờ nữa trời tối hẳn đấy.”
Mấy tên đày tớ vây quanh mấy con lừa rồi buộc hàng hóa lên, Khỉ Gầy thì thầm nói: “Chưa chết, có phải ông đánh không trúng nó không?”
“Sao thế được, đó là nghề của ông đây mà, con mèo to thế còn đánh hụt gì được? Huống chi ta đây dốc hết toàn lực, bình thường sức mạnh đó có thể đánh vỡ cả thùng nước chứ đùa.” Bưu Tử hạ giọng nói.
“Vậy thì quái thật, vừa rồi ở dưới kia thấy con mèo thẳng đơ, chết ngắc chắc rồi, nom màu lông không tệ đem về nhà có thể làm cái mũ lông, kết quả đem lên nó sống sờ sờ.” Khỉ Gầy trộm nhìn Tiết chưởng quỹ.
“Gì đó?” Một đày tớ khác theo ánh mắt Khỉ Gầy nhìn về phía Tiết chưởng quỹ.
Tiết chưởng quỹ giở cái túi gai Khỉ Hầu đem lên, sau khi gỡ thừng gai ở miệng túi ra thấy bên trong trống rỗng, ông ta bèn tiện tay lót dưới yên lừa.
~ Tiết chưởng quỹ không nhận ra bên ngoài túi gai có một vết máu, hơn nữa còn mới nữa.
Khỉ Gầy nói: “Làm sao tôi biết, xuống dưới đó trông thấy con mèo đứng trên túi gai, còn tưởng là con mới rồi của chúng ta bị Bưu Tử đánh rớt xuống.”
“Không thể nào, lúc đánh, con mèo đó chỉ cách chúng ta mấy bước chân, tôi còn nghĩ nó mà theo ta nữa là bắt lại thịt luôn.”
“Thịt mèo không ngon đâu, chua lắm.”
“Cậu từng ăn rồi à?”
“Cậu hai tôi từng ăn, cậu hai nói thời cậu còn trẻ không có nghề kiếm cơm, bèn cùng mấy người bạn bắt mấy con mèo lỉnh ra từ mấy nhà giàu có, lấy siêu sắc thuốc mà nấu, thịt còn chưa chín đã ăn sạch rồi. Cậu nói thịt mèo chua, chua dữ lắm, đến giờ cậu hai tôi không dám ghen luôn này.”
“Chậc chậc! Siêu thuốc đó có bị nhiễm mùi thứ khác không?”
“Có nhiễm cũng phải đắng chứ sao chua được…”
Đội la lại tiếp tục lên đường, Tiết chưởng quỹ vẫn cưỡi con lừa ấy. Trước đó ông ta đi vội từ sườn núi rồi lại bị con mèo kia dọa sợ, lúc này hai chân mềm oặt rồi.
Con mèo làm ổ trong cái túi treo trên lưng lừa, vốn dĩ sau khi nhìn thấy con mèo Tiết chưởng quỹ đã muốn đuổi nó đi xa, nhưng không những không đuổi được ngược lại con mèo càng xáp lại gần hơn, cuối cùng nhảy tọt vào lòng ông.
Con mèo đen tuyền từ trên xuống dưới, không có lấy một sợi lông tạp nào, hơn nữa còn ngoan ngoãn, không cào không cắn.
Tiết chưởng quỹ bèn nổi lòng từ bi, ôm nó lên sờ mấy cái, lại lau đi vết máu trên khóe môi nó, bụng nghĩ nuôi bên mình cũng có người bầu bạn, thế là tiện tay nhét vào túi treo.
Thực ra từ lúc họ lên đường khởi hành từ trại Địch, con mèo này đã theo đội la rồi, chỉ là nó vẫn luôn đi phía trước, còn Tiết chưởng quỹ đi sau nên không chú ý đến. Chứ như Bưu Tử, Khỉ Gầy đều để mắt nhìn con mèo này suốt dọc đường đi, lúc chất hàng, con mèo lởn vởn đi vòng quanh họ, đuổi theo thì nó chạy, đánh nó lại không trúng, chỉ lòng vòng không gần không xa như vậy.
Ban đầu, mọi người còn tưởng đâu con mèo đi theo Bưu Tử, sau đó phát hiện hóa ra nó đi theo con la mà Bưu Tử dắt, không ai biết duyên do là gì.
Đám người Bưu Tử bèn bàn bạc xem làm sao bắt nó giết đi, sau đó Khỉ Gầy đề xuất ý kiến, nói cái giếng trời dưới sườn núi thường để nghỉ chân là một góc chết, có thể vây lấy con mèo ở nơi đó, đánh không chết cũng có thể ép nó ngã xuống giếng mà chết.
Lúc đến bên giếng, mấy người Khỉ Gầy bất ngờ tản ra che kín đằng ngoài, con mèo muốn trốn nhưng bên trong lại là khe núi, trong lúc hoảng loạn, nó bị Bưu Tử quất trúng một roi kêu lên thảm thiết rồi rớt xuống.
Phải có nhân mới thành ra nghiệt, con mèo đen theo sau bọn họ đương nhiên là có ẩn tình.
Chủ nhân của con mèo này vốn là một người bán gà con ở trại Địch, bởi vì dịch gà toi mà chết mất mấy con gà mới nở, cũng không thể trả lại được mấy lượng bạc mượn của tiền trang Vận Dịch Thông đúng kỳ.
Theo ý của Tiết chưởng quỹ, thêm chút lợi tức là có thể kéo dài thêm mấy tháng, đến khi trở mình trả hết số nợ là được. Nhưng theo quy tắc của Vận Dịch Thông phải trả hết cả vốn lẫn lãi cho đúng hẹn, bằng không sẽ lấy nhà trừ nợ.
Vận Dịch Thông vì để thu nợ còn chuyên môn thuê một đám du cô vô lại, chính là đám người Bưu Tử.
Bưu Tử thích đánh người, còn làm một sợi roi quất ngựa chuyên dụng kẹp sợi đồng, rảnh rỗi dùng để luyện tay. Trước đó, lúc gã quất con mèo bên giếng dùng lực mạnh quá không thu sức về kịp, ngọn roi vút qua chân con la bên cạnh, con vật mới hất chân tung hàng hóa xuống.
Lúc không thu nợ, đám người Bưu Tử sẽ giúp hộ tống đội la, khỏi cần đến người áp tải trong cửa hiệu.
Lúc Bưu Tử dẫn người đến nhà người bán hàng rong kia thúc nợ, vào tới nhà không khỏi phân trần cứ quất người ta một trận cái đã, còn đuổi vợ con người ta ra khỏi nhà, khóa cửa lại, tỏ ý không trả nợ không cho ở nhà.
Người bán hàng rong năm lần bảy lượt cầu xin, tốt xấu gì cũng cho vợ con mình vào ở, con còn quá nhỏ thực sự không dễ gì.
Nhưng Bưu Tử mặc kệ cái này, hạn cho ba ngày, bằng không sẽ cưỡng chế bán căn nhà đi.
Đêm đến, cả gia đình người bán hàng rong chen chúc nhau ở miếu thổ địa, vợ gã khóc thút thít, tức giận dồn nén trong lòng bèn lẩm bẩm mấy câu.
Ai ngờ người bán hàng rong xốc nổi, nửa đêm ra ngoài cởi đai lưng treo mình trên cây. Lúc người ngoài phát hiện thì đã tắt thở lâu rồi. Người vợ lửa nóng công tâm, ôm con nhảy xuống giếng, lúc vét lên một lớn một nhỏ đều tuyệt mệnh cả.
Người quan phủ đến nghiệm thi cũng không nói gì, chỉ xem như tự tìm đường chết, trách sao được người khác.
Nhưng người chết chứ nợ chưa hết, nhà của người bán hàng rong vẫn bị Vận Dịch Thông thu hồi, bởi vì lúc mượn tiền thứ được thế chấp chính là căn nhà ấy.
Nếu như là một cửa hàng có vị trí tốt, Vận Dịch Thông sẽ giữ lại cho mình xài. Nếu như vị trí cửa hàng hoang vu, hoặc là nhà có người ở thì sẽ đem đi bán.
Chuyện thế này Vận Dịch Thông đã làm không ít, thời còn trẻ Tiết chưởng quỹ vẫn thấy chẳng có vấn đề gì, dù sao thiếu nợ trả tiền là chuyện thiên kinh địa nghĩa. Nhưng càng già ông càng khinh miệt hành động đó của ông chủ, vì mấy đồng bạc lẻ mà ép chết người ta tan nhà nát cửa mất luôn tính mạng, quá tổn âm đức.
Ngày đám người Bưu Tử đến nhà người bán rong giục nợ, đứa bé con người bán rong đang nằm trên giường cầm lục lạc chơi với mèo, ngày thường lúc người lớn bận rộn đều do con mèo đen này giữ con cho.
Lúc dọa dẫm người bán rong, Bưu Tử đã cướp mất lục lạc của đứa con, tự cầm theo chơi suốt dọc đường đi, sau khi về cửa hàng thì treo lên lên cổ con la đầu đàn.
Sau khi một nhà ba người nhà bán rong thiệt mạng, con mèo đen đó cả ngày nhìn chằm chằm lục lạc, con la đi đến đâu nó đi theo đến đó, cho đến khi bị Bưu Tử đánh ngã xuống giếng.
(2)
Lúc sắc trời tối đi, đội la cũng đã vào hậu viện nhà họ Thẩm, tôi tớ dở hàng khiêng vào nhà kho, Tiết chưởng quỹ giao lại toàn bộ sổ sách tiền bạc cho đại chưởng quỹ tổng hiệu xong thì dắt con lừa của mình về nhà.
Đến nhà, lúc sắp vỗ vào vòng cửa thì con mèo đen bất chợt chuồn khỏi túi treo nhảy lên đầu tường không thấy đâu nữa, Tiết chưởng quỹ đang thấy bồn chồn thì đứa con út là Tiết Thái đã ra mở cửa.
Trong nhà biết hôm nay ông về từ lâu nên đã chuẩn bị rượu thịt xong xuôi từ trước.
Tiết chưởng quỹ vào nhà với phản ứng khác thường, đã không thăm hỏi người nhà cũng không tẩy trần rửa mặt mà ngồi thẳng bên bàn nhét đầy đồ ăn vào miệng. Chén rượu cũng không dùng mà vơ cả bình lên uống. Hành động ăn như hổ đói gió quét mây tan này thực sự làm người nhà sợ hãi, họ chưa từng thấy người phụ thân nhã nhặn của mình có thái độ thế này bao giờ.
Bà nhà nghĩ có lẽ là bị ấm ức gì ở bên ngoài nên trong lòng không được thoải mái, bèn bảo con trai con dâu ra ngoài trước, một mình bà ở nhà chính chăm sóc ông.
Rượu thịt nhanh chóng bị quét sạch, người vợ vừa muốn thu dọn chén đũa, kết quả là Tiết chưởng quỹ hét lên: “Chưa đủ!”
Người vợ giật mình, mới gọi một tiếng “Lão gia” thì liền bị tiếng gào tiếp theo “Ăn chưa đủ” của Tiết chưởng quỹ ngắt lời.
“Sợ mình trướng bụng…”
“Chưa đủ!” Tiết chưởng quỹ đập bàn.
Sau cơn hoảng hốt, người vợ nghĩ bụng: “Xem ra lão gia thực sự bị ấm ức rồi, tuổi tác lớn thế này mà ở ngoài kia chưa hề được ăn một miếng cơm nào…” Bèn căn dặn con dâu ở hành lang mau chóng đi nấu cơm.
Chớp mắt hai đĩa đồ ăn mới nấu đã bị Tiết chưởng quỹ ăn sạch.
“Lão gia? Lão gia? Mình làm sao vậy? Không ăn nữa được đâu, trướng bụng bệnh mất.” Người vợ càng nhìn càng thấy không đúng, ghé sát người Tiết chưởng quỹ van nài.
“Còn chưa đủ!” Tiết chưởng quỹ ngẩng đầu trợn mắt nhìn vợ mà suýt chút dọa vợ ông sợ đứng tim. Mắt ông đỏ ngầu, không có tròng trắng hay tròng đen, chỉ có hai hốc mắt đỏ lòm tròn trịa.
“Mau nấu đi!” Người vợ vội hét ra bên ngoài, xoay đầu thấy ba đứa con trai đều đứng canh trước cửa, bèn run run rẩy rẩy ra ngoài nói: “Cha các con hôm nay sao ấy?”
“Không biết nữa mẹ à, vừa rồi sau khi cha vào cửa, con gọi mấy lần mà cha không đáp lời.” Con út Tiết Thái nói.
“Có phải sổ sách năm nay ở trại Địch khó coi quá, cha con bị ông chủ nói gì không?” Đứa con thứ hai là Tiết Đỉnh nói.
“Không đến nỗi, hôm nay cha mới quay về, bình thường phải đến ngày thứ hai các phân hiệu mới trình sổ sách với tổng hiệu.” Con cả Tiết Siêu nói.
Người vợ xoay đầu nhìn Tiết chưởng quỹ, nói với con cả: “Đi nhà bếp bảo làm thêm chút nữa, e rằng cha con bị ai chọc tức, mắt đỏ ngầu rồi.”
Lại ăn hết số đồ ăn mới nấu, Tiết chưởng quỹ chẳng buồn để mắt đến ai, tự mình vào phòng mặc nguyên đồ mà ngủ.
Lúc người vợ nhón chân bước vào, ông ta đã ngủ say sưa rồi, bà đứng trời tròng nhìn một hồi mới trở ra, lúc này ba đứa con đều đang ở nhà chính nhìn một bàn đầy đĩa không, chén không.
“Mẹ ơi, con phát hiện ra, giọng cha không bình thường.” Tiết Thái nói.
“Làm sao mẹ không phát hiện ra được chứ, mẹ theo cha con mấy chục năm, trên đầu cha con có bao nhiêu sợ tóc bạc mẹ rõ mười mươi ấy.”
Vừa rồi Tiết chưởng quỹ nói không nhiều nhưng hoàn toàn không phải khẩu khí ngày thường của ông, giọng nói bén ngót đó rõ ràng là của một người trẻ tuổi, hơn nữa còn là giọng miền ngoài.
“Cha bị sao thế hả mẹ?”
“Aiz, lớn tuổi rồi… Bảo vợ con qua đây dọn dẹp, các con đều đi nghỉ cả đi, một mình mẹ trông cha con vậy.”
Người vợ để đèn lại, ngồi trên chiếc ghế thái sư đối diện chiếc giường nhìn chồng mình ngủ say sưa, còn bà cả đêm không ngủ.
Ngày tiếp theo mặt trời đã lên cao ba sào mà Tiết chưởng quỹ còn chưa dậy, người vợ kiểm tra mấy lần thấy ông vẫn ngủ say mê.
Sắp đến giữa trưa, ông chủ phái tôi tớ đến mời Tiết chưởng quỹ qua ăn cơm bàn việc.
Người vợ lay Tiết chưởng quỹ nửa ngày nhưng kiểu nào cũng không lay ông tỉnh được, lúc này bà mới hoàn toàn luống cuống, vội bảo con cả đi mời lang trung.
Lang trung còn chưa đến, Tiết Đỉnh đã hoang mang rối loạn xông vào nhà gọi: “Mẹ! Mẹ ơi! Không hay rồi, lừa chết rồi!”
“Ai? Ai chết?” Nếu không có ba đứa con dìu đỡ, người vợ đã xỉu ngay tại chỗ rồi.
“Lừa! Lừa nhà ta đó! Lúc anh hai ra ngoài đã bảo con chuẩn bị yên cương ngựa, nói lỡ như lang trung không linh thì anh sẽ đến Cao Gia Bình mời Cao thần y, con vừa vào chuồng gia súc đã thấy con lừa nằm trên mặt đất, cả người lạnh cóng cứng đờ, không biết chết từ lúc nào rồi.”
“Lừa…” Người vợ hớp miếng nước con dâu đưa cho mới dịu lại, nhìn Tiết Đỉnh rồi hỏi: “Đỉnh nhi, hôm qua lúc cha con vào cửa, con lừa…”
“Thưa mẹ, hôm qua còn ổn, hôm qua cha vào cửa là con tiếp dây cương mà, con dắt lừa vào chuồng gia súc, tháo cương thêm cỏ, trước khi ngủ con còn đi thêm cỏ ăn đêm cho nó, nó còn ổn lắm, chỉ là sáng sớm nay cứ mãi ở đây nên chưa kịp vào chuồng gia súc.”
Tiết Thái thích chăm sóc súc vật, tối qua lúc thêm cỏ đêm phát hiện con lừa run rẩy, tưởng đâu lạnh quá bèn tiện tay lấy cái túi gai khoác lên lưng lừa. Cái túi gai đó là khi Tiết Thái tháo yên cương phát hiện, cho rằng là cha mình xót cho con lừa mới lót thêm tấm đệm.
“Aiz, chết rồi thì thôi, cũng đến lúc rồi. Con lừa đó mua từ hồi nó còn là một con bê, các con còn chưa ra đời nữa. Lát nữa đào một cái hố dưới cây hòe già ở sau vườn chôn đi, chôn bên ngoài sợ có người đào lên ăn, tốt xấu gì cũng ở nhà ta hai mươi mấy năm nay rồi.”
Sau khi thử hết các loại châm cứu, ngải cứu, điểm huyệt, Tiết chưởng quỹ vẫn y như vậy, ngủ đến mê man.
Lang trung có phần chẳng hiểu mô tê hoang mang bối rối, lúc sắp ra cửa thì thào bảo người vợ nên mời Lôi pháp quan đi, xem bộ dạng như trúng tà rồi.
Lôi pháp quan là pháp sư có tiếng vùng này, không giống với các âm dương tiên sinh chỉ xem phong thủy, pháp quan là người có thể xử lý các loại tà môn ngoại đạo, nghe nói lúc còn trẻ Lôi pháp quan đã theo sư phụ mình đi khắp nơi hàng yêu bắt quái, mấy năm gần đây mới không thường ra mặt, người bình thường cũng không mời được nữa.
Người vợ chuẩn bị một phần hậu lễ, bảo Tiết Siêu mau chóng đánh xe ngựa đưa bà đích thân đi mời.
Xe ngựa đến ngoài nhà họ Tiết, Lôi pháp quan còn chưa vào cửa đã thấy thấy lòng nặng trĩu, ông vung tay giăng một tấm lưới trời ở ngay cửa lầu, lại nhìn môn thần và đào phù [2] rồi mới bước vào trong.
Sau khi đặt la bàn ở ngay giữa khu vườn, chiếc kim la bàn xoay tròn như bay, hoàn toàn không dừng lại được. Lôi pháp quan lầm rầm niệm gì đó trong miệng, chân giẫm theo cương bộ [3] đi ba vòng mới dừng được chiếc kim, nhìn theo hướng nó chỉ liền lao đến chuồng gia súc ở sau vườn.
“Cái này ở đâu ra?” Thứ ông ta trỏ chính là cái túi gai còn khoác trên lưng con lừa đã chết, Lôi pháp quan hỏi mấy người con nhà họ Tiết theo sau lưng mình.
“Cái này, vốn được lót dưới yên lừa, hẳn là cha con để rồi.” Tiết Thái nhìn Lôi pháp quan sắc mặt dị thường mà nói.
“Qua đây giúp một tay đi.”
Thấy biểu hiện của Lôi pháp quan, Tiết Siêu và Tiết Đỉnh khiêng con lừa đã chết lên, Lôi pháp quan rút cái túi gai bị đè dưới thân lừa ra, săm soi nửa ngày, sau đó cẩn thận gấp ngay ngắn cho vào túi áo.
“Pháp quan, gì vậy?” Người vợ bấy giờ cũng đã chạy đến chuồng gia súc, hỏi.
“Ừ… Không có gì, dẫn tôi đi xem ông nhà nào.”
Người vợ dẫn Lôi pháp quan vào phòng, vừa vén rèm lên đã thấy Tiết chưởng quỹ khoanh chân ngồi trên giường, đang trợn đôi mắt đỏ ngầu nhìn họ.
“Ôi chao! Ông già tỉnh rồi này!” Người vợ ngạc nhiên hớn hở nói.
“Vừa nãy cha còn nằm đó mà…” Tiết Đỉnh theo sau còn chưa nói hết đã bị Lôi pháp quan tỏ ý im lặng, sau đó ông xua tay bảo Tiết Siêu, Tiết Đỉnh, Tiết Thái ra hết bên ngoài.
“Ông già, ông thấy sao rồi? Có gì muốn nói không, đừng dọa tôi chứ…” Nói rồi người vợ bèn bước lên phía trước.
“Đứng yên!” Lôi pháp quan quát lên gọi người vợ lại, ánh mắt ông trước sau vẫn nhìn chằm chằm vào đôi mắt của Tiết chưởng quỹ, bàn tay ở sau lưng chầm chậm rút kiếm gỗ đào ra: “Tôn giá… Đi ngang qua nơi này chăng?”
“Bản tọa muốn nghỉ ngơi.” Tiết chưởng quỹ nói bằng chất giọng the thé của người trẻ tuổi, khẩu âm đó rõ ràng không phải người bản địa.
Bàn tay nắm kiếm gỗ đào đổ đầy mồ hôi, đây là điềm báo, xuất đạo bốn năm mươi năm nay chỉ có khi chột dạ Lôi pháp quan mới có biểu hiện thế này.
Cảm giác kẻ trước mặt như đã từng quen biết, nhưng nhất thời lại nhớ không ra đã gặp qua chỗ nào.
Lúc ông đang đắn đo, Tiết chưởng quỹ đã mở miệng nói trước: “Nếu không phải tại các ngươi, mắt bản tọa cũng đâu có mù.”
Lôi pháp quan giật mình nhớ ra chuyện chín năm trước cùng sư phụ đốt miếu Hỏa Thần, lúc đó có một luồng hỏa khí lỉnh ra từ trong trận lửa lớn kia, sư phụ còn từng đuổi theo, ông cũng từng hỏi sư phụ luồng hơi lửa đó rốt cuộc là chuyện gì, nhưng sư phụ ông không muốn nói gì thêm.
“Lẽ nào là luồng tà hỏa đó?” Lôi pháp quan thầm có phỏng đoán, đồng thời tay trái ông chầm chậm đưa vào trong tay áo bắt lấy lá bùa trấn hỏa. Nhưng ông không dám ra tay liều lĩnh, bởi vì đã từng thử qua nhưng chưa dò được đối phương sâu cạn thế nào.
“Bản tọa có hai lần trốn khỏi thiên kiếp, ngũ hành cũng chẳng làm gì được ta, huống chi lúc này còn có xác phàm bảo vệ.” Tiết chưởng quỹ nhìn chằm chằm Lôi pháp quan mà nói.
“Ngươi đã phải hồn phi phách tán lâu rồi.”
“Trời không diệt ta.”
Lúc nói chuyện, Tiết chưởng quỹ không hề rảnh rang, hai tay vẫn luôn kết ấn trước ngực.
Lôi pháp quan cảm thấy toàn thân mình bị một luồng khí bạo ngược và lửa nóng vây quanh bức bách, trán đã bắt đầu vã mồ hôi. Không cần phải ngoái đầu xem, người vợ chắc chắn đã xỉu lâu lắm rồi. Ông thở hồng hộc suy tư giây lát rồi nói: “Vậy tôn giá muốn…”
“Bản tọa muốn nghỉ ngơi ở đây.”
“Tôn giá bị thương không nhẹ đúng không?”
“Đối phó ngươi dư sức.”
“… Muốn nghỉ ngơi bao lâu?”
“Đến khi đi được.”
“Cớ sao phải ở chỗ này?”
“Cơ duyên là thế.”
“… Vậy tôn giá chớ đả thương người nhé.”
“Người không phạm ta, ta không phạm người.”
Lôi pháp quan gom đồ bước ra khỏi phòng, tiện tay xách người vợ xụi lơ dưới đất cùng ra, bảo mấy đứa con trai cho uống chút nước gọi tỉnh.
Đến khi người vợ dần bình phục, Lôi pháp quan nói: “Tiết chưởng quỹ gặp phải Tà Thần, trừ khi tự nguyện, bằng không đuổi không đi đâu.”
“Pháp quan, ngay cả ông cũng hết cách à?” Người vợ đã hết mơ màng, hỏi.
“Không phải hết cách, mà tình huống này có ra tay cũng dễ ngộ thương, đuổi Tà Thần đi ngược lại làm bị thương Tiết chưởng quỹ cũng không đáng.”
“Tà Thần là gì?”
“Tà Thần là… Aiz, tôi nói bà nghe làm gì chứ! Như này nhé, lập một điện thờ trong gian nhà chính, đừng viết gì trên bài vị cả rồi phủ vải đỏ lên là được, mỗi ngày sáng trưa chiều ba cử không ngớt nhang đèn. Sau khi trời tối, Tiết chưởng quỹ sẽ ăn cơm, rượu thịt cơm canh trà nước phải phong phú, số lượng nhất định phải đủ. Trời sáng ông ta không nói cần gì thì các người cứ kệ đó, đừng quấy rầy, sau này nhà chính bớt người đi lại, đóng cửa đi.”
“Rồi sau đó thì sao hả, pháp quan?” Tiết Siêu hỏi.
“Làm theo lời tôi nói, tạm thời không có gì đâu, tôi… lúc nào nên đến sẽ đến, ngoài ra nói một tiếng với toàn thể trên dưới trong nhà, đừng chọc con mèo đen, cứ mặc nó.”
“Mèo? Mèo đen gì?” Tiết Siêu hỏi.
Lôi pháp quan ngập ngừng, ngoái đầu nhìn gian nhà chính: “Có thấy thì đừng chọc, không thấy thì thôi, nhất định phải nhớ câu này.” Sau đó mới trùng trùng tâm sự bước ra khỏi cửa.
Người vợ còn muốn tiễn Lôi pháp quan, nhưng run run rẩy rẩy chưa đi được hai bước đã bắt đầu sốt rét, từ lúc ông nhà trở về bà còn chưa uống một giọt nước, chưa chợp mắt được chút nào.
Hai đứa con mau chóng đỡ lấy bà, người vợ chỉ nói ra được một chữ ‘mèo’ thì ngất đi.
Trước đó Lôi pháp quan định lúc bỏ đi sẽ thu lại la bàn và thiên la trong vườn, khi ấy, một con mèo đen trước sau vẫn nhoài người trước bậc cửa gian nhà chính mà nhìn chằm chằm ông, mãi đến khi ông đi rồi con mèo mới trở vào phòng chui vào ổ chăn của Tiết chưởng quỹ.
Hai mắt của con mèo đen đó giống hệt với Tiết chưởng quỹ, không có tròng trắng tròng đen, chỉ là hai cái hốc tròn vo đỏ ngầu.
(3)
Tiết gia trong trong ngoài ngoài hoảng loạn mấy ngày mới lắng lại.
Chuyện Lôi pháp quan căn dặn lúc sắp đi, người vợ đã chiếu theo đó mà làm nhưng đồng thời bà cũng đi cầu tiên hỏi thuốc khắp nơi. Cao thần y, Tào đạo trưởng, Đào âm dương, Lý thần bà, cao nhân chung quanh cứ tiễn một người đi là đón một cặp tới, của cải trong nhà đã hết veo một nửa nhưng người vẫn cứ sáng ra là ngủ tối đến là ăn, chẳng có chút khởi sắc nào.
Cứ mỗi buổi chiều, người vợ lại dặn dò hai đứa con dâu nấu cơm sớm để trước khi trời tối sẽ do bà bày biện gian nhà chính, sau đó đóng cửa bỏ đi.
Người vợ từng thử qua, chỉ cần có bà ở trước mặt, Tiết chưởng quỹ sẽ không ăn mà cứ đưa hai hốc mắt đỏ lòm lên nhìn bà, thực sự khiếp hết cả đảm.
Hơn nữa lúc ăn cơm cũng sẽ gây ra tiếng động rất lớn trong phòng, rõ ràng chỉ có một người mà tiếng nói tiếng cười cứ oang oang không dứt, nghe kĩ lại chẳng có câu nào giống với tiếng người.
Con dâu thứ hai có tính hiếu kỳ rất mạnh, có lần thử lén chuồn đến bên ngoài cửa sổ thấm ướt giấy cửa nhìn vào, kết quả là bị sợ đứng tim tại trận.
Ngồi đối diện với Tiết chưởng quỹ bên bàn cơm là một người đàn ông đen sì với đôi tai nhọn hoắt đính trên đầu, vô cùng xấu xí, hàm râu vắt ngang, đang nói nói cười cười ăn cơm với Tiết chưởng quỹ.
Đứa con dâu sợ gây ra tiếng động, kết quả người kia đã trợn hai con mắt đỏ ngầu lên, “meo” một tiếng vọt lên phía trước vung một chưởng lên, nếu không phải cách cái song cửa thì đã đánh trúng mặt đứa con dâu rồi.
Từ đó, mỗi lúc Tiết chưởng quỹ dùng cơm, người vợ luôn canh giữ ở trong vườn, xua con trai con dâu đi thật xa, đến khi trong phòng không còn tiếng động nào bà mới bước vào thu dọn chén đĩa, lúc sắp đi lại thắp thêm nén nhang cho điện thần – Còn bà đã không nghỉ ngơi ở đó lâu lắm rồi.
Một ngày sắp hết tháng giêng, ông chủ của Vận Dịch Thông và em vợ của đại chưởng quỹ tổng hiệu mang quà vào cửa thăm hỏi. Hai người đến gian nhà chính, liếc mắt thấy Tiết chưởng quỹ đang ngủ mê man thì hàn huyên mấy câu với người vợ, trà bưng lên còn chưa kịp nguội thì đã đi rồi.
Ngày tiếp theo, đại chưởng quỹ lại đến, nói với người vợ rằng Tiết chưởng quỹ xem ra là bị trúng gió, nghĩ ắt phải dưỡng bệnh ít ngày, hơn nữa tuổi tác cũng lớn rồi, đến khi mạnh khỏe lại rồi, chi bằng để dành hơi sức mà an hưởng tuổi già, sau đó lại móc từ vạt áo ra một gói bạc để trên bàn rồi đi.
Tiết Đỉnh mở gói bạc ra, phát hiện trong đó còn chưa có được đến ba trăm lượng, tức thì chạy ra vườn chửi té tát: “Đồ chó chết, cha tao làm chưởng quỹ cho Thẩm gia chúng mày ba mươi năm nay, gió mưa chẳng quản, vậy mà mới bệnh nằm có mấy hôm, chúng mày đã lấy mấy thứ vụn vặt này ra đuổi người ta đi rồi.”
Tiết Siêu đuổi theo đến cửa, gào lên chửi đại chưởng quỹ còn chưa đi được bao xa trong con hẻm: “Không công bằng, đồ khốn nạn không có lương tâm, trong đám chưởng quỹ ai có hiệu suất cao hơn cha ta chứ? Đừng nói là đại chưởng quỹ ngươi, cho dù ông chủ cũ còn tại thế cũng chưa từng ra vẻ ông chủ ta đây trước mặt cha ta. Năm đó các ngươi đắc tội quan phủ, nếu không phải cha ta trước sau sai người liên hệ thân tình, các ngươi có thể cứu người ra không? Lại có thể giữ được chút ít gia sản như bây giờ không? Ban đầu cha ta cửu tử nhất sinh bán mạng gom gia nghiệp về cho các ngươi, các ngươi không biết báo ơn, bây giờ còn làm bộ làm tịch, đừng tưởng rằng bọn ta không biết mấy chuyện ăn chơi trác táng, lưu luyến bụi hoa, trêu hoa ghẹo nguyệt, rượu chè cờ bạc, tham ô sổ sách của các ngươi nhé!”
Người vợ không ngăn con trai lại, chỉ ngồi trong nhà chính mà lau nước mắt, thực là:
Gió lùa quạt ngỡ sen tàn tạ, Nét mực xanh phảng phất tùng la
Dùng chi nào phải chuyện ta, Thói đời ấm lạnh chẳng qua cũng đành.
Ai đòi nạp Hán triều Cấp Ảm, Vẫn cho vời người Triệu Liêm Pha
Để hoài tay áo khó là, Gió thu lại thổi càng ra chạnh lòng. [4]
Người đi trà nguội chẳng qua có vậy, riêng hận người còn chưa đi mà trà đã đổ rồi.
Lúc đám con trai ở ngoài chửi bới, Tiết chưởng quỹ ở trong phòng trợn tròn cặp mắt đỏ ngầu, như thể nghe thấy tiếng động ngoài kia. Con mèo đen trong ổ chăn cũng ló đầu ra ngoài như Tiết chưởng quỹ, mở đôi mắt đỏ lè lắng nghe.
Trận lửa lớn ấy cháy tròn trĩnh ba ngày ba đêm, mấy cái giếng trong trấn Quách Đỗ đều bị múc cạn, hàng xóm xung quanh múc cả nước để ăn để dùng lên mà vẫn không cứu được Thẩm trạch, gia sản tích lũy mấy đời thoắt chốc tiêu tan.
Trong rất nhiều năm sau đó, câu chuyện treo trên miệng người đời không phải là trận lửa đó lớn thế nào mà là trận lửa đó tại sao chỉ đốt cháy sạch sành sanh có mỗi mình Thẩm trạch, còn xóm giềng mấy hộ liền kề bốn bên Thẩm trạch đều vô sự bình an.
Cụ thể ngày Thẩm trạch bốc hỏa chính là ngày mà đại chưởng quỹ tổng hiệu đến đưa bạc cho nhà họ Tiết, hay nói cách khác chính là ngày Tiết gia đuổi việc Tiết chưởng quỹ.
Ngày đó vào lúc lên đèn, bà mợ trẻ nhà họ Thẩm là Nguyệt Nga cùng nha hoàn Cúc Hoa đang dỗ dành tiểu thiếu gia. Nói ra cũng quái, đứa bé ngày thường ngoan ngoãn nhưng hôm ấy lại la khóc om sòm, dỗ sao cũng không chịu nín, khóc đến khản cổ.
Nguyệt Nga sốt ruột lau nước mắt, thực sự hết cách mới sai Cúc Hoa đi tìm mẹ chồng đến đây, dù sao người già kiến thức vẫn rộng.
Đại thiếu gia là con ngựa chưa được thắng yên cương, ngày nào cũng ra ngoài chơi mà còn chưa thấy đã, làm gì có ngày nào ở nhà, bây giờ không biết còn đang hỏi liễu tìm hoa ở cái lầu xanh nào đó. Hơn nữa đại thiếu gia ra ngoài chẳng bao giờ mang theo bạc trong người, đi đến đâu ghi sổ đến đó.
Cứ cách mỗi nửa tháng đều có người đến Thẩm trạch đòi ông chủ kết toán, nào 100 con heo, nào 200 con gà, nào 300 vò rượu, 400 tấm vải, 500 cân than, 600 lượng tiền thua bạc… Tóm lại cái gì cũng dám gán vào tên của đại thiếu gia, chốn trăng hoa và tửu lầu của nửa cái huyện Trường An này đều do một tay gã ta nuôi sống.
Ông chủ cũng là người làm ăn, làm sao nhìn không ra chỗ hở trong này? Nhưng tờ giấy nào cũng được đại thiếu gia chính tay ký tên điểm chỉ, rõ ràng biết là chịu thiệt mà cũng chỉ có thể nghiến răng nghiến lợi nuốt vào.
Vì thế mà ông chủ và đại thiếu gia không ít lần xung đột, nhưng chẳng có tác dụng gì, huống chi mẹ của đại thiếu gia hở chút là bênh con, ông chủ mắng đại thiếu gia, bà ta liền mắng ông chủ.
“Kiếm bao nhiêu tiền của đó để làm gì? Còn không phải cho con trai xài à!”
“Nhìn lại ông hồi trẻ nào đến thanh lâu, nào uống rượu hoa, nào chơi xúc xắc, cả một tháng chẳng thấy mặt ở nhà, giờ đến phiên con trai mình lại không được hả?”
“Năm xưa là ai vì giành kĩ nữ ở ngõ Phấn mà đánh tàn phế công tử nhà Phủ Đài, hơn nửa gia sản của Thẩm gia sao bị liên lụy?”
“Lúc tôi sinh con khó khăn, thập tử nhất sinh đó ông đang chui vào lòng con điếm nào? Lúc nhỏ bảo ông dạy ông không dạy, giờ lớn chừng này rồi ông mới quan tâm, cái này gọi là trên không nghiêm dưới không ngay…”
Cái gì khó nghe mắng cái đó, câu nào câu nấy đều móc đến ông chủ ở trước mặt con dâu không biết kiếm đâu ra cái lỗ nào mà chui.
Sau khi Cúc Hoa đi, Nguyệt Nga bèn đặt con vào nôi, muốn ra chiếc bàn đá ngoài vườn lấy cái lục lạc. Đó là đồ chơi con cô ưa thích nhất, trước đó con trai cô khóc mãi, cô ghét cái lục lạc ồn nên không lấy ra.
Ngày thường Nguyệt Nga không ra khỏi cửa, may mà Thẩm trạch đủ lớn, ở trong tiểu viện của mình chán chê rồi, cô và Cúc Hoa bèn ôm con ra nhà kho tản bộ. Vườn lớn chỗ nhà kho luôn có tôi tớ ra vào, người đông náo nhiệt. Mọi người cũng biết mợ hai hòa nhã dễ gần, bèn không hề câu nệ mà trêu chọc tiểu thiếu gia. Có một hôm, cái lục lạc đeo trên cổ một con gia súc hấp dẫn sự chú ý của trẻ con, lục lạc vang lên, đứa bé liền thích thú, một đày tớ tên Bưu Tử liền gỡ cái lục lạc đó ra đưa cho tiểu thiếu gia.
Sau khi Nguyệt Nga lấy được cái lục lạc thì không trở vào phòng ngay, con dỗ chưa xong cô đã đổ mồ hôi ướt người, hơn nữa sau khi ra ngoài, đứa con trong nôi thế mà không khóc nữa. Lòng cô thầm vui sướng, bèn muốn hít thở chút không khí bên ngoài. Đứng một hồi Nguyệt Nga mới vào phòng, nhưng còn chưa đến trước cái nôi, cô đã hét lên một tiếng “Trời đất ơi” xé gan đứt ruột rồi ngã nhào ra đất.
Nằm bò bên cạnh chiếc nôi dưới ánh đèn có một con mèo đen khổng lồ, con mèo dùng đôi mắt đỏ ngầu nhìn chằm chằm Nguyệt Nga, mà miệng con mèo có tha một vật, vật đó rõ ràng là nửa gương mặt con mình.
Nguyệt Nga vừa lăn vừa bò, vung tay nện chiếc lục lạc vào con mèo đen.
Mèo đen không trốn, sau khi vứt vật tha trong miệng ra còn tiếp tục dùng miệng tiếp cái lục lạc, sau đó nhảy lên, men theo tấm rèm bò lên xà nhà, biến mất.
Nguyệt Nga ôm đứa con máu thịt bầy nhầy đã chết từ lâu khóc rống, không hề chú ý đến con mèo kia lúc nhảy lên đã đụng đổ giá nến. Lửa nến bén vào bức rèm sa bốc cháy, chớp mắt đã cháy tới rèm giường, thoắt chốc tới chăn đệm, nữ trang, rương hòm, vật dụng, cả căn phòng cháy hừng hực như được vẩy dầu.
Cúc Hoa dìu bà mẹ chồng chưa kịp đi vào tiểu viện của con trai thì đã thấy trong phòng bốc lửa, bà mẹ chồng vội hỏi nha hoàn cháu mình và con dâu đang ở phòng nào, nhưng Cúc Hoa đã sợ đến ngớ người, nói không ra một câu hoàn chỉnh.
Bà mẹ chồng chống gậy đẩy cửa từng sương phòng, phòng phụ, phòng chính, gọi “Nguyệt Nga, Nguyệt Nga, Nguyệt…”, đến khi người khác phát hiện lửa cháy mà vào, thế lửa ở tiểu viện đã trùm trời lấp đất.
Lửa cháy thực sự quá lớn, một thùng nước vẩy vào chỉ càng kích cho lửa cháy to hơn.
Mọi người hớt ha hớt hải nhưng không ai dám vào phòng, ông chủ nóng lòng hứa hẹn tại đương trường, rằng bất luận là người lớn hay trẻ con cứu được một người thưởng cho nghìn lượng bạc ròng.
Có tôi tớ hám tiền không cần mạng, khoác mấy lớp chăn bông ướt nước rồi xông vào lửa cứu ra ba người hai lớn một nhỏ, có điều người đã cháy ra tro.
Mọi người bận rộn lo cứu người, làm lỡ thời cơ cứu hỏa, Thẩm trạch lại có một lượng lớn phòng ốc bằng gỗ, vật dụng bằng gỗ, thế lửa đã phát thì không thể dừng.
Trong trấn huy động tất cả nam nữ già trẻ, ai nấy đều sợ thế lửa liên lụy đến nhà mình, nhưng cuối cùng tổ phí công lo.
Tròn trĩnh ba ngày ba đêm, tòa nhà tráng lệ đường hoàng nhất mấy trăm dặm chung quanh đã cháy thành một đống hoang tàn đổ nát, mà kỳ quặc nhất chính là nhà cửa của những người xung quanh đều còn nguyên vẹn, ngay cả cọng cỏ khô trên nóc cũng chẳng cháy nữa là.
Ba thi thể lớn nhỏ được đắp vải trắng cho vào miếu Quan Công, con trai út của ông chủ và mấy người trong tộc cùng với người nhà mẹ đẻ của Nguyệt Nga ở bên cạnh khóc lóc.
Đại thiếu gia đứng trên phế tích Thẩm trạch mà mặt không cảm xúc, nhìn từng làn khói xanh lảng bảng bay lên. Gã mới chạy từ trong thành về, hơn nữa còn phải nhờ nghe khách làng chơi khác nói mới biết nhà mình có chuyện.
Ông chủ sốt ruột đến đỏ mắt, nóng lòng đến đầu bạc từ lâu, chẳng thèm liếc con trai một cái, mà sau đó một nén nhang, thi thể của ông chủ cũng được khiêng vào miếu Quan Công.
Thẩm gia truyền đến đời của ông chủ hiện giờ đã có sẵn điềm người và của không thể cùng thịnh vượng.
Ông chủ có hai người con, con lớn phá của, con út non nớt. Con dâu có vẻ khá khẩm hơn, thai đầu đã sinh liền được con trai, nhưng bây giờ cháu trai đã mang theo cả sản nghiệp bay mất rồi.
Ông chủ lòng như tro tàn, nhưng quản gia bất chấp nỗi buồn của ông, mấy lần thúc giục ông lấy tiền ra vì làm đám tang cần phải có tiền.
Trước mắt cả Thẩm trạch đã cháy thành bình địa, chỗ còn có bạc để lấy chỉ có mỗi số bạc yêu bạc quý trong kho bạc mà thôi.
Kho bạc nằm dưới đất chính viện nơi ông chủ ở, trung tâm của Thẩm trạch. Năm xưa ông tổ xây thế này là để phòng trộm, dẫu sao vàng bạc không sợ nước lửa, riêng sợ trộm thôi.
Quản gia gọi tôi tớ đẩy phế tích chính điện ra, gạch nát ngói vỡ cháy sém ở lối vào địa đạo đã được dọn sạch, chỉ có mỗi ông chủ và quản gia đi vào.
Cánh cửa đá đầu tiên bình an vô sự, cánh cửa gỗ bọc thiết thứ hai, thứ ba cũng lành lặn vẹn nguyên. Thấy vậy, ông chủ cũng được thở phào, còn chút của cải, Thẩm gia vẫn cố thể Đông sơn tái khởi.
Nhưng đến khi mở cánh cửa thứ ba, ông chủ hộc máu chết tươi tại trận, bởi vì trên toàn bộ giá để bạc không thấy một nén bạc nào, kim nguyên bảo đầy rương đầy hòm cũng không cánh mà bay.
Toàn bộ kho bạc rỗng tuếch.
Nha môn hai cấp phủ, huyện phái một lượng lớn nhân thủ, vây quanh ba tầng trong ngoài phế tích Thẩm trạch và trấn Quách Đỗ hỏi thăm rất nhiều ngày.
Đầu mối đáng để lưu tâm chỉ có mỗi việc trên giá để bạc thường niên đầy bụi phát hiện vết cào kỳ lạ, hơn nữa thực sự rất lớn, chỉ có mình hổ mới có thể cào ra cái vết lớn bằng này. Ngoài ra trong khe hở nắp rương đựng kim nguyên bảo còn phát hiện một nhúm lông đen.
Toàn bộ vật sống nào có lông đen chung quanh đều bị bắt đi đối chiếu, sau khi không thu được kết quả gì thì có tên lính mang đến hai con heo đen cho đủ số, bị huyện thái gia đạp một phát ra ngoài.
Cuối cùng hỏa hoạn Thẩm gia và kho bạc mất cắp đã trở thành hai kỳ án, cũng thành huyền án, nhiều năm được treo lên làm chuyện tán gẫu ở tửu quán trà lầu.
Tin hỏa hoạn và cái chết của ông chủ vừa truyền ra, việc làm ăn của Thẩm gia ở các nơi đều rối loạn.
Sổ sách lưu trữ ở tổng hiệu cháy rồi, vài người thân thích trong họ tham gia góp vốn và chưởng quỹ phân hiệu bắt đầu ngụy tạo sổ sách tranh hàng cướp đất giành giật cửa hiệu, nhất thời đánh nhau đến sứt đầu mẻ trán.
Đại thiếu gia phóng đãng bên ngoài nhiều năm chẳng biết tí ti gì về việc làm ăn, mặc cho người khác cầm sổ sách nói xằng nói bậy, cuối cùng chỉ còn mỗi cái nền đất đã cháy sạch sành sanh.
Gã cũng chẳng thèm hỏi giá thì đã bán nó đi mất, đến khi đưa tiễn cha mẹ vợ con xong thì chẳng còn được mấy đồng, tiêu chẳng được bao lâu thì đã cùng anh em lưu lạc đầu đường xó chợ thành ăn xin.
—
[1] Cả bộ truyện này sẽ xuất hiện khá nhiều tên gọi khác nhau của thành Trường An. Mặc dù phần giới thiệu nhà phát hành ghi là “thành” Trường An nhưng truyện Quỷ Mèo thì gọi là huyện Trường An, sau đó có truyện gọi là thành Tây An. Đó là vì những câu chuyện lẻ này có thể xảy ra ở những triều đại khác nhau. Ví dụ vào thời Minh, thành Trường An được đổi tên thành Tây An, sau đó nữa mới đổi lại là Trường An.
[2] Đào phù: Là một vật có ý nghĩa bảo vệ thường được treo trước cửa nhà vào mùa xuân theo truyền thống cổ xưa của Trung Quốc.
[3] Cương bộ: Bộ pháp di chuyển của đạo gia, không biết giới chuyên môn gọi bộ pháp này là gì nên để nguyên Hán Việt.
[4] Bài Cảm Thu Phiến (Thương chiếc quạt thu) của Tô Triệt, tôi dịch (láo) (như vẫn). Vì để ép vần, thể thất ngôn đã bị sửa thành song thất lục bát và ‘vài’ chữ đã bị thay đổi, ví dụ ‘đoàn phiến’ là quạt tròn nhưng vào bản dịch của tôi thì chỉ còn là ‘quạt’, hụ hụ, nhưng nhìn chung tôi nghĩ là cũng không xa rời nghĩa gốc lắm.
Trong này có nhắc đến hai người là Cấp Ảm triều Hán và Liêm Pha người nước Triệu. Cấp Ảm là một vị trung thần dưới thời Hán Vũ Đế. Vị này là một vị quan khá lỗi lạc, quan lộ lên voi xuống chó nhưng nói chung huy hoàng. Ông từng giả truyền ý chỉ để mau chóng cứu tế, sau đó hổ thẹn không chịu làm quan, rồi được Hán Vũ Đế vời vào kinh một lần. Sau đó vì nhiều việc bất đồng ý kiến với Hán Vũ Đế nên bị điều ra khỏi kinh thành. Sau đó lại được vời vào lại. Nói chung là lên lên xuống xuống nhưng tổng thể quan lộ của ổng thì thấy khá rực rỡ. Còn Liêm Pha là một tướng nước Triệu cuối thời Chiến Quốc, vua Triệu lúc đó mắc bẫy nước Tần nên cách chức Liêm Pha thay bằng người khác. Sau, vua Triệu có ý phục chức cho Liêm Pha mà xui lại trúng kế người khác nên không thành rồi sau đó Liêm Pha trở thành tướng nước Sở. Nên nhìn chung 2 điển tích này đưa vào bài thơ có vẻ như để cảm khái việc ai khi nào được dùng là việc khá ‘trái gió trở trời’, không lường trước được mà cũng không phải muốn là được. Giống như chiếc quạt tròn trải qua gió thu, nét mực vẽ cây tùng la trên quạt vẫn còn như xưa nhưng mùa thu thường là mùa lạnh, người ta không quạt nữa nên cây quạt này sắp phải đem cất, như hai ông Cấp Ảm với Liêm Pha khi được dùng khi bị “đuổi” vậy.
Còn đây là Hán Việt cho bạn nào thích đọc Hán Việt
Đoàn phiến kinh thu tự bại hà, Đan thanh phảng phật cựu tùng la
Nhất thì dụng xá phi ngô sự, Cử thế viêm lương nại nhĩ hà
Hán Đại thuỳ lệnh thu Cấp Ảm, Triệu nhân do dục dụng Liêm Pha
Tâm tri hoài tụ phi an xứ, Trọng kiến thu phong quý hận đa.
