CHUYỆN LẠ Ở THÀNH TRƯỜNG AN – BÁU VẬT BỊ MẤT Ở HÀ GIA THÔN (5-10)

By

·

50–74 phút

CHUYỆN LẠ Ở THÀNH TRƯỜNG AN

TRUYỆN: BÁU VẬT BỊ MẤT Ở HÀ GIA THÔN (5-10)

Dịch (láo): A Tĩnh

#truongankydam #chuyenlaothanhtruongan #bauvatbimatohagiathon

—

(5)

Mưa rả rích rả rích mãi không ngừng, xem chừng có mưa thêm nửa tháng cũng không có gì là không thể. Còn chưa đến giờ hợi (tầm khoảng 9 giờ tối) mà ngoài đường đã không thấy nổi bóng người, lính tráng tuần đêm cũng không biết trốn đi đâu mất. Ba cái bóng đen lén lén lút lút xuyên qua phố Chu Tước rồi trốn dưới cây quế cao to ở góc tường phía tây chùa Tiến Phúc, bên trong bức tường lờ mờ có tiếng tụng kinh và tiếng pháp khí vọng ra. Lát sau, một hòn đá nhỏ được vứt từ trong ấy ra, liền sau đó lại có thêm một hòn đá nữa, đến khi hòn đá thứ ba được vứt ra thì mới không còn động tĩnh.

“Đến giờ rồi, em đi trước.” Nhị ngố nói xong thì trèo lên cây nhảy vào tường.

Sau đó là Hà mổ heo trèo lên cây, An mù ở bên dưới cột chặt hai bao đồ rồi vứt dây thừng lên, Hà mổ heo đu dây thừng vào được trong tường sau đó mới cùng An mù lần lượt nhảy vào trong sân.

“Có, có, có người!” An mù vừa mới đáp đất đã nhỏ giọng kêu lên.

“Đừng có kêu! Đồng bọn mà!” Vừa nói Nhị ngố vừa đi về phía bóng người trong khu rừng nhỏ không xa, Hà mổ heo và An mù ôm đồ chạy theo.

Trí Thiện cảnh giác nhìn ba người cùng chạy lên.

Nhị ngố trỏ vào An mù rồi nói với Trí Thiện: “Đây là An mù, ban đêm thường đi săn, tai thính mắt tinh, lát nữa sẽ canh gác bên ngoài.”

Trí Thiện nhìn An mù lưng đeo cung tên, gã không nói gì. Thực ra gã đang mải nghĩ cái tên này có mù thật hay không nhưng trời tối quá nhìn không rõ mặt.

“Chúng ta nói trước với nhau nhé, nếu như có hòa thượng ở đằng thầy phát hiện ra chúng tôi, anh ta sẽ bắn, bất kể sống chết như nào cũng phải bắn, chúng tôi trốn thoát, chuyện này coi như thất bại.” Nhị ngố trỏ vào Hà mổ heo rồi nói tiếp, “Đây là lão Hà, nhà họ Hà mở quầy thịt, người lực lưỡng, sẽ đào hầm chung với tôi.”

Trí Thiện vừa nghe “Nhà họ Hà mở quầy thịt” thì giật thót tim, bất giác ưỡn ngực thẳng lưng nhìn thân thể tráng kiện của Hà mổ heo, nghĩ bụng: “A di đà phật, sao lại là hắn”, đứng hồi lâu mới nói: “Chuyện này phát tài mọi người cùng hưởng, chém đầu mọi người cũng cùng chịu với nhau.”

“Yên tâm, đều là anh em tin tưởng được mà, đằng thầy có gì rầy rà [1] không đấy?” Nhị ngố hỏi.

“Tôi đã bàn với phương trượng rồi, nhân lúc mấy ngày mưa này rảnh, thủy lục pháp hội [2] siêu độ người chết do người ta ký gửi chùa ta sẽ được tổ chức suốt bảy đêm liền, cả chùa đều bận việc ấy, sa di canh tháp cũng sẽ bị tôi gọi ra trước niệm kinh, mấy ngày này sẽ do tôi đích thân phụ trách canh đêm, mọi việc ổn cả.”

“Ổn cả là được, vậy chúng ta đi thôi.”

Trí Thiện dẫn đường đằng trước, ba người theo sau, đến bên một cái giếng phía tây cách chừng trăm bước thì dừng.

“Cứ cách mỗi một hai canh giờ tôi sẽ đến đây một lần, khi đến sẽ xách đèn lồng, đằng này ban đêm bình thường cũng chẳng có ai nhưng ông vẫn nên lưu ý đề phòng có người xuất hiện bất thình lình nhé.” Trí Thiện giao phó xong rồi đi.

Ba người nhìn Trí Thiện đi xa rồi lại nhìn bốn phía, tiếng tụng kinh ở đại điện và tiếng khánh, tiếng chũm chọe vang lên rõ rệt bên tai.

“Tới đi lão Hà, thả tôi xuống đào cái lỗ nào đặt chân được trước đã.”

Nhị ngố lưu loát lấy dây thừng cột chắc vào người mình, xách theo cái xẻng Lạc Dương khoan vào trong giếng. Lão Hà quấn dây thừng vào cái ròng rọc kéo nước rồi thả Nhị ngố xuống.

Nhị ngố nhanh chóng khoét ra được một cái hang có thể cho hai người ngồi xổm ở vị trí sâu một trượng bên trong giếng. Lão Hà cột hai cái tay nải đưa xuống, bản thân gã sau đó thì chống tay chân lên vách giếng lê xuống từng chút một.

Sau khi thấy lão Hà biến mất, An mù cũng dán mình vào cây cột đá cách đó không xa, trợn mắt dựng tai nhìn khắp bốn bề.

Khi lão Hà vào đến đường hầm, Nhị ngố đang quỳ xuống chúi đầu đào, cái hố nhỏ bên cạnh đang đốt một ngọn nến, bao nhiêu là nắm đất đã chất chồng khắp hang. Lão Hà cũng không nói gì, cầm dụng cụ lên chầm chậm đẩy đất vào lòng giếng.

Nếu không múc nước thì không có ai phát hiện dưới giếng có dị thường, mà theo kế hoạch trước đó, Trí Thiện đã len lén cắt đứt thừng kéo nước, muốn lấy nước chỉ có thể ra cái giếng ở vườn hoa tiền viện. Chuyện thừng giếng sớm muộn cũng được báo cho gã biết, đến lúc đó gã lại bưng bít thêm mấy ngày.

Nhị ngố đào mệt rồi nằm dưới đất nghỉ, trong tay nải có nước và lương khô chuẩn bị cho việc ở trong hang động mấy ngày.

Hà mổ heo được An mù dắt mối cho quen với Nhị ngố, lại là lần đầu làm chuyện ấy, tuy rằng không thân quen nhưng vẫn dằn không được dạ hiếu kỳ, hỏi: “Ngố này, chúng ta phải đào bao lâu?”

“Hả?”

“Không phải đào lộn đầu chứ?”

“Không đâu, đây là tháp tây, không phải mặt nam.”

“Mặt nam là sao?”

“Mặt nam là cửa địa cung. Dưới nén đất chắc là có bậc đá, hành lang tới bậc đá thường đều có cửa đá chặn đường, cho dù vào tới hành lang thì có khi còn gặp phải phiến đá chẹn cửa. Nếu như còn chia ra thành tiền, trung, hậu thất thì gian nào cũng đều có cửa đá đóng kín, đào từ mặt nam không thể vào được đâu.”

“Xem ra gã mù nói không sai, ông thực sự kiếm ăn đường này, tôi chỉ biết mổ heo.”

“Tôi…”

“Vậy chúng ta đào đến đâu?”

“Đến dưới địa cung.”

“Dưới?”

“Đào xuống dưới trước, rồi lại lên trên, sau đó đẩy gạch lát nền mà vào hậu thất.”

“Sao ông biết hậu thất ở đâu?”

“Thì ở ngay dưới tháp đó, nhìn mặt ngoài có thể ước chừng đến miệng giếng được mà.”

“Chậc chậc, nếu thực như tên mù nói, vụ này mà xong thì sau này tôi không cần mổ heo nữa, ngày nào cũng đến chùa thắp hương giải nghiệp thôi.”

“Ông… Cứ kêu tôi là Nhị ngố, tôi thấy ông mới ngố ấy. Ra rồi thì trốn biệt đi cho xa chứ ông còn đòi mỗi ngày tới đây, sợ Phật tổ không nhận ra ông hay gì?”

“Ờ, cũng đúng… Mà sao ông lại bị gọi là Nhị ngố thế?”

“Làm việc! Làm việc đi!”

Hai người ở bên trong đào hì hục hì hục, An mù ở bên ngoài trước sau vẫn hăng hái canh chừng, so với đi săn thì việc này nhẹ nhàng hơn chán. Trong quá trình đó, Trí Thiện và một hòa thượng cầm đèn lồng qua đây tra xét một vòng, An mù trông thấy đèn lồng thì trốn đi.

Đến khi gà gáy tiếng đầu tiên, trời vẫn mưa không dứt, một mình Trí Thiện xách đèn lồng đi vòng qua đây thêm một vòng, gã còn đặc biệt nhìn khắp nơi để kiếm An mù, không thấy An mù đâu thì đến miệng giếng xách đèn lên lắc lắc ba lần, đây là tín hiệu bảo bọn họ dừng tay, tự viện sắp sửa dùng chay buổi sáng.

Sau khi Trí Thiện đi xa rồi, An mù cấp tốc đến bên giếng, móc ra một sợi dây thừng rồi thả xuống, đầu dây có cột lục lạc, nhìn thấy vị trí rồi thì lắc lên ba lần.

Lão Hà dưới hang và Nhị ngố nghe thấy tiếng lục lạc thì dừng tay, Nhị ngố bò đến miệng hang, nhẹ nhàng kéo lục lạc ba lần, An mù thu lại dây thừng rồi chuồn ra vách tường sân lộn ngược trở ra mà biến mất.

Lão Hà và Nhị ngố vốn đã buồn ngủ cực kỳ, ăn bậy bạ mấy miếng lương khô rồi ngủ luôn trong hang.

Thủy lục pháp hội của chùa Tiến Phúc một khi được mở, rất đông khách dâng hương có người nhà mới mất đều kéo đến. Trời mưa cũng không làm nông được, nông dân gần đó rảnh rỗi ở nhà cũng đến góp vui. Huống chi chùa còn lo cho cơm chay sáng, bởi thế trước đại điện toàn là khách dâng hương.

Trí Thiện bận bịu sai phái tăng nhân lấy vải che mưa dựng thành lều trước điện, đạt quan hiển quý ở trong điện thì không ướt nổi chứ lão bách tính ở bên ngoài, cả chuyện này cũng nhìn không ra thì đừng làm Giám Tự nữa.

An mù đổi quần áo trà trộn trong đám người, gã quỳ một lát thì vờ đi nhà xí chuồn ra sau vườn. Có mấy khách dâng hương đang ngắm cảnh tháp trong mưa, An mù nhích đến miệng giếng, thấy không có gì khác thường bèn trở ra mà ngủ.

Người có cùng tâm trạng đó chính là Trí Thiện, chuyện lớn bằng như pháp hội sẽ do lão phương trượng đích thân chủ trì, Trí Thiện phụ trách lo liệu tăng phòng. Một mặt điều phối tăng nhân thay phiên tụng kinh, một mặt đến nhà ăn tập thể phái thêm nhân thủ chuẩn bị cơm chay, còn phải đón tiếp đạt quan hiển quý bố thí tài vật, lại phải coi sóc bách tính ở trong lều dưới mưa bên ngoài, rảnh được chút nào còn phải chạy ra ngoài giếng, bận đến bở cả hơi tai.

Nhị ngố ngủ đến giữa trưa, trông thấy ánh sáng ngoài hang liền biết bên ngoài trời vẫn sáng, bèn gọi lão Hà dậy cùng nhau tiếp tục đào. Chỉ là trong động đều chất đầy các nắm đất, ban ngày mà chuyển ra lòng giếng thì tiếng động lớn lắm.

Ngày mưa nên trời tối nhanh, chưa tới giờ tuất (khoảng 7 giờ tối) thì hậu viện đã không có bóng người. Khách dâng hương ở lại đêm không nhiều, Trí Thiện sắp xếp cho người ở lại đại điện và trắc điện. An mù mặc đồ dạ hành vẫn trèo tường mà xuống, gã nấp ở một góc dưới đáy tháp mà nhìn chằm chằm miệng giếng, ước chừng nửa canh giờ sau, Trí Thiện mới xách đèn lồng đến lắc lư bên giếng ba lần, sau đó thổi tắt nến đi.

“Chuẩn bị xe xong chưa?” An mù âm thầm lặng lẽ vỗ lên vai Trí Thiện từ đằng sau.

Người Trí Thiện run lên theo bản năng, gã vẫn đang tìm thử xem người canh gác trốn ở nơi nào. Trí Thiện ngoái đầu nhìn An mù một cái rồi lại nhìn chung quanh: “Xong rồi, mua sang tay mấy người lận đấy, tầm giờ Hợi (chín giờ tối) sẽ được đưa đến cửa sau, không ai biết.” Nói xong Trí Thiện lập tức đi ngay, gã không quen An mù, không muốn dây dưa nhiều với hắn.

An mù lấy sợi thừng mỏng có treo lục lạc bỏ xuống giếng, lắc lư mấy lần, Nhị ngố nhận được tín hiệu bèn đẩy đất vào lòng giếng. Đất lấp dưới đáy giếng đẩy mực nước lên cao, nhưng đứng trên miệng giếng thì nhìn không thấy được. An mù không thu lại dây thừng mà men theo mép giếng quấn dây thừng trong tay, gã kéo theo dây thừng trốn ở giữa hai lu nước phòng cháy đặt trước tháp.

Trước đó Nhị ngố đã thăm dò vô số lần, lại có Trí Thiện làm tình báo, có thể nói là chuẩn bị không sót chỗ nào, theo kế hoạch thì đêm nay có thể lấy hàng ra, dây thừng mỏng có treo lục lạc là phương tiện truyền tin ra bên ngoài.

Hang động dưới đất đào đến dưới hậu thất, đường hầm hướng lên trên cũng đã dựng xong. Từ lớp đất bề mặt có thể trông thấy đáy, đá nào đào được đều đã đào cả rồi, lờ mờ có thể trông thấy đá xây với nền nhà. Bước tiếp theo là đục, nhưng lúc đục sẽ vang lên tiếng động, chỉ có thể làm vào ban đêm.

Lão Hà cầm nến theo, nâng cao cảnh giác. Nhị ngố cầm theo cái búa, hắn lắm lưu mẹo, biết cách hơn kẻ sức trâu như lão Hà. Cùng với đất đá cằn cõi không ngừng rớt xuống trên đỉnh đầu, khối gạch vuông đã bắt đầu xuất hiện. Nhị ngố làm lỏng khe gạch rồi nện một búa vào giữa tấm gạch lát nền, cả tấm gạch bay thẳng ra làm xuất hiện một cái hang tối bốn bề vuông vức trên đỉnh đầu hai người.

Lão Hà kích động đến suýt chút kêu lên, bàn tay cầm nến cũng run dữ dội. Nhị ngố bình tĩnh hơn nhiều, lại gỡ thêm mấy tấm gạch nữa xuống, gỡ mãi cho đến khi xuất hiện một cái hang tối vuông vức chừng ba thước, hai người mới móc người trèo lên.

Đốt mấy cái nến lên, có thể trong thấy hậu thất hết sức rõ ràng. Không gian không lớn, bốn vách và trên đỉnh đầu đều là bích họa. Bức tường phía bắc là điện thờ Phật, trong đó có một bức tượng Phật ngồi. Men theo bức tường phía tây là rất nhiều kinh quyển pháp khí chất chồng, hẳn là đồ lão phương trượng cho vào lúc gia cố nền tháp mà Trí Thiện đã nói. Phía đông có hai cái chĩnh lớn dựa vào tường, cao chừng hai thước, lòng rộng chừng hai thước.

Gió từ miệng hang thổi qua, ánh nến không ngừng nhảy nhót, lão Hà cảm thấy lạnh hết sống lưng, gã quỳ trước Phật điện dập đầu mấy cái, niệm “Thứ tội”. Sau khi đứng lên, lão Hà tiện tay cầm lấy cái bình bạc cách cái chĩnh chưa tới một thước, mở nắp ra cầm đôi vòng ngọc bích khảm bạch ngọc lên ghé đến trước nến mà xem.

“Bỏ xuống! Có biết quy tắc không?” Nhị ngố lập tức mắng.

“Ờ…” Lão Hà hùa theo bỏ đồ xuống đậy nắp lại.

Nhị ngố kiểm tra khắp phòng xong rồi lấy ra một mảnh vải đen phủ lên nền đất. Gã và lão Hà cùng nhấc cái chĩnh to đặt lên tấm vải, gói lại chắc chắn, rồi cũng bao cái còn lại y như vậy. Bình bạc tuy nhỏ nhưng vẫn phải dùng vải bao lại mấy lớp, thời gian sau trước chưa đến một nén hương.

“Tôi xuống rồi ông treo lên nhé, làm xong nhớ phải thổi tắt nến, đừng đốt cháy kinh quyển, khói mà bay ra là lộ đó.” Nhị ngố nói với lão Hà xong thì xuống dưới đường hầm dựng đứng.

Lão Hà ở địa cung mà tim đập lên bình bịch, lấy lại dũng khí cột dây thừng lên nút thắt tấm vải bao cái chĩnh to rồi treo lên. Nhị ngố dời chĩnh sang một bên rồi tháo dây thừng ra, sau khi lão Hà cho cái chĩnh thứ hai xuống thì mau chóng thổi tắt nến, ôm theo cái bình bạc nhảy vào hang động. Hai người khom lưng khiêng chĩnh đến cửa hang, trừ dây thừng được xách theo để đem đồ ra, số còn lại đều vứt ở trong giếng.

Nhị ngố thò đầu nhìn lên miệng giếng, tối thui tối hù không thấy gì cả, hắn sờ chiếc lục lạc rũ xống, nhẹ nhàng rung lên bốn lần. An mù phía trên vừa cảm thấy động tĩnh trên tay thì bắt đầu nhẩm đếm, đến tiếng thứ tư thì lập tức phấn khích chạy vọt lên rồi tức thì ngồi xổm xuống. Hắn nhìn xung quanh rồi nhẹ nhàng kéo lên bốn cái, sau đó ngồi xổm xuống ngay tại chỗ.

Chừng khoảng nửa canh giờ sau, ba bóng người xách đèn đến kiểm tra quanh tháp một vòng. Chốc lát sau, một ngọn đèn lồng đến trước giếng lắc lên ba cái rồi thổi tắt nến.

An mù âm thầm dán người lên, vỗ vào vai Trí Thiện rồi nói: “Xong rồi.”

Trí Thiện vốn đang lo sợ phập phòng, bị tên mù hù một cái suýt chút tè ra quần nhưng cũng không rảnh đâu mà oán giận: “Mau mang ra ngoài đi, lúc này thuận tiện, tôi canh cửa cho.” Nói rồi Trí Thiện liền ra đại điện, đến cửa hành lang dẫn đến trước tháp.

An mù lắc lắc lục lạc, cũng không chờ dưới đó có phản ứng đã hét xuống dưới giếng: “Lên! Lên! Lên đi!”

Lát sau Hà mổ heo đầu đầy mồ hôi bò lên mép giếng, người quấn dây thừng, hai người móc chĩnh lên, lúc bình bạc cuối cùng cũng được đưa lên, Nhị ngố gần như bò ra cùng lúc.

Trời còn đổ mưa nhỏ, tiếng tụng kinh và tiếng pháp khí cũng không dừng.

Nhị ngố thở dốc mấy hơi rồi hỏi Trí Thiện đâu. An mù chỉ vào hiệp môn, hai người mau chóng qua đó xì xầm mấy câu với Trí Thiện, sau khi hai người chêm thêm đồ vào hiệp môn từ phía trong thì trở lại bên giếng. Trí Thiện đi trước và Nhị ngố cùng nhấc một cái chĩnh lên, An mù và lão Hà ở đằng sau khiêng cái chĩnh còn lại, lão Hà kẹp cái bình bạc vào nách.

Thả cái chĩnh xuống cửa sau chùa Tiến Phúc xong, Trí Thiện âm thầm mở cửa ra ngoài, thấy hai chiếc xe ngựa dừng ở trước cửa, vén rèm lên thấy bên trong không có bóng người. Ngựa thấy có người tới còn phát ra tiếng phì phì.

Bốn người nhanh tay lẹ chân dời chĩnh lên xe, Nhị ngố đánh xe, An mù ngồi ở càng xe, lão Hà và Trí Thiện cùng với hai cái chĩnh chen chúc nhau ở khoang xe, một đám người lắc lắc lư lư biến mất trong cơn mưa phùn.

(6)

Sợ xe ngựa thu hút sự chú ý của người khác nên không ai dám treo đèn, nhưng chưa đi được bao xa lại đụng mặt một chiếc xe đèn đuốc sáng trưng. Mấy người nhất thời luống cuống chân tay, đáng lý ra giờ này không nên có người, ngõ này lại hẹp, trốn không được lùi không xong.

“Đi từ từ, chắc là khách dâng hương canh đêm đó.” Trí Thiện vén rèm hé ra một khe hở, nói thì thầm.

Mấy ngày nay chùa Tiến Phúc tổ chức thủy lục pháp hội, sáng ngày người dâng hương đông đúc hỗn tạp, tối đến thưa người nhưng ai cũng thân phận tôn quý, đa phần là nữ quyến quan lại quý tộc không muốn ban ngày bị người ngoài trông thấy. Lúc này người ngồi trong xe ngựa đối diện chính là thái phi của Vĩnh Hưng vương phủ.

Vĩnh Hưng vương vừa hoăng hồi đầu tháng, thế tử trẻ tuổi kế vị, mấy ngày pháp hội này thái phi đêm nào cũng đích thân đến chùa Tiến Phúc, một mặt để tế điếu lão vương gia, mặt khác là để cầu phúc cho tân vương gia thơ dại. Tuy rằng thái phi chỉ ngồi một chiếc xe ngựa nhưng trước sau là hai đội lính tráng thị vệ theo hầu.

Hai chiếc xe ngựa còn chưa chạm mặt nhau, hộ vệ đi đầu đằng đối diện đã từ xa hét về phía này: “Dừng xe! Làm gì đó?”

Nhị ngố gắng gượng vờ như trấn định, ấp a ấp úng nói: “Đại, đại nhân, tiểu, tiểu nhân đưa, đưa người nhà đi chùa.”

“Sao không chịu đốt đèn? Trời thì tối thế này.”

Tên hộ vệ đi đầu lấy một chiếc đèn lồng trên xe của bọn họ ra, đang toan qua đó kiểm tra thì trong khoang xe chợt vọng ra một giọng nói rất khẽ: “Ai thế?”

Hộ vệ kia lặp tức xoay người khom lưng đáp: “Bẩm thái phi, có một chiếc xe ngựa từ trong chùa chạy ra, cản mất đường.”

“Ờ… Từ chùa chạy ra à, nhường nhau một chút rồi đi mau đi, đêm nay trễ lắm rồi.”

Hộ vệ kia vâng dạ một tiến rồi trỏ về phía trước: “Các ngươi dựng xe nép sang một bên đi.”

Nhị ngố và An mù hớt hải xuống xe dắt ngựa nép sát một bên, may mà kế bên có nhà dân, cửa nhà lùi vào bên trong như hình chữ bát (八), chừa ra một khoảng đất khá rộng. Sau khi xe ngựa của thái phi lăn bánh lộc cộc chạy sượt qua bên này, mấy người thở phào một hơi mới tiếp tục lên đường, đích đến là nhà của Nhị ngố. Vì hắn thường xuyên làm chuyện đen tối lén lút nên ở vùng ngoại ô, xung quanh không có chòm xóm láng giềng.

Trí Thiện nói toàn là mấy món vàng bạc nhỏ nhắn, mỗi người một bao là có thể ôm đi rồi, bởi thế mấy người bàn bạc xong quyết định vừa lấy báu vật ra thì lặp tức chia nhau, miễn cho đêm dài lắm mộng.

Chuyện kể hai đằng.

Hai đội quan theo bảo vệ xe ngựa của thái phi Vĩnh Hưng vương phủ có một kẻ là Triệu đầu, một kẻ là Tăng đầu, vừa rồi người hỏi chuyện là Tăng đầu. Sau khi thái phí vào chùa Tiến Phúc thì đổi sang nha hoàn theo hầu bà vào chùa, hộ vệ bọn chúng cùng với chiếc xe trú mưa ở dưới một gốc cây to bên ngoài cửa chùa. Dưới táng cây còn có khá nhiều kiệu xe của những nhà khác, xem ra cũng cùng một cảnh như nhau.

“Ê sao thế, nhớ vợ hả?” Triệu đầu thấy Tăng đầu ngây ra bèn hỏi.

Tăng đầu trợn mắt nhìn Triệu đầu: “Cứ cảm thấy sao sao ấy, rõ ràng lưng thằng nhóc vừa rồi có vác cung tên.”

“Cung? Thằng nhóc đó?”

“Chính là chiếc xe ngựa mới rồi chặn đầu chúng ta trong hẻm đó. Lúc lướt qua nhau tôi có liếc thử, thằng nhóc một mắt đối diện thấy tôi nhìn nó thì liền quay mặt đi, tôi trộm thấy lưng nó hình như có đeo cung.”
0
Các hạ có gì muốn nói?x

“Nhìn kĩ chưa? Trời tối thế mà.” Triệu đầu ngẩng đầu nhìn trời.

“Tuy thằng một mắt đó lấy áo che lại nhưng tôi cảm thấy chính là cung tên, đồ trên người cũng giống đồ dạ hành. Anh nghĩ coi, trời tối thế này, còn mưa, bọn chúng lại mò mẫm đêm đen đi cho bằng được. Thằng nhóc đánh xe cũng là loại mày trộm mắt chuột, hơn nữa kiệu xe hình như rất nặng, ngựa kéo xe cũng thờ phì phì, tiếng bánh xe lăn khá nặng, bên trong chắc chắn còn có người.”

“Vậy hả, đằng tôi chỉ lo trục xe cạ tường thôi.”

“Cũng có thể là nhìn nhầm, nhưng ông nói coi tụi mình xài cung tên biết bao năm nay, bộ nhìn nhầm được chắc?”

“Hay là vận động chút nhé? Dù sao rảnh cũng hoàn rảnh, còn phải đợi thêm tận mấy canh giờ nữa lạnh căm, biết đâu là trộm không chừng.”

“Ừa… Vậy đi!”

Triệu đầu xách đèn lồng lên, bàn giao mấy câu cho binh lính khác canh xe xong thì hai người liền xách đao rảo bước theo con hẻm nhỏ mới rồi.

Một chiếc xe ngựa, bốn người, hai cái chĩnh đồ, đích thực xe ngựa chạy không nhanh.

Xe vừa ra khỏi hẻm thì cứ mải rẽ về phía tây, hai tai An mù giật giật cứ thấy sai sai gì đó. Hắn ngoái đầu liếc mắt, phát hiện đằng sau có một ngọn đèn rất nhỏ đang đi gần tới phía này: “Sau lưng có người.”

“Có người?” Nhị ngố cũng ngoái đầu xem sao, quả nhiên trông thấy một nguồn sáng nhỏ xíu đang lay động. Gã vung mấy roi rồi hỏi An mù: “Nhắm vào chúng ta hả?”

“Phải thì sao đây? Vừa rồi tên lính kia trong hẻm nhìn anh lạ lắm.”

Trí Thiện ngồi trong kiệu xe nghe hai người nói bèn vén rèm lên: “Có phải theo chúng ta hay không cũng không thể mạo hiểm được, đây là đến đâu rồi?”

“Qua ba con hẻm nữa là ngay ngã tư đường Hà gia thôn, quầy thịt của tôi ở đó.” Hà mổ heo nói.

“Ngố này, trốn ở quầy thịt trước đi, chúng ta không mạo hiểm được đâu.” Trong bốn người Trí Thiện là sốt ruột nhất.

“Tôi thấy được, mặc kệ thế nào cứ vứt đi trước đã.” An mù nhảy xuống xe ngựa nhìn ra phía sau, ngọn đèn kia vẫn đang đi về phía này.

Nhị ngố cũng xuống xe quất mạnh mấy roi vào mông ngựa, chiếc xe rõ ràng đã chạy nhanh hơn.

Sau khi đến đầu hẻm, lão Hà nhảy xuống xe, ôm chĩnh lủi vào một con hẻm nhỏ kế bên quầy hàng. Gã lấy chìa khóa ra khỏi tường rồi mở cửa. Bình thường mổ heo đồ đệ đến đun nước sớm hơn gã ta, để tiện làm việc mới giấu chìa khóa cửa.

Trí Thiện ôm bình bạc, tên mù và Nhị ngố khiêng một cái chĩnh nữa xuống xe. Tên mù rút ra một mũi tên đâm mạnh vào mông ngựa, ngựa hí dài một tiếng rồi kéo theo xe chạy vào đêm đen. Lúc tên mù ngoái đầu, ánh đèn sau lưng đã tắt, hai người cũng không rảnh đâu lo chuyện khác, hớt hải khiêng cái chĩnh chui vào cửa sau quầy thịt.

Triệu đầu và Tăng đầu mới đầu xách đèn lồng đuổi theo, vì trời tối nên hai người chỉ có thể lần theo dấu bùn trên đất, may mà xe nặng nên vết bánh xe sâu. Đi mãi đi mãi nghe thấy đằng trước có tiếng ngựa hí dài, bụng biết là đã bị tên đánh xe phát hiện, thế nên vứt đèn lần theo tiếng mà đuổi gấp theo.

Bốn người đằng trước khiêng chĩnh vào quầy thịt rồi đóng cửa lại, sau đó dán người nhìn qua khe hở ra ngoài. Thực ra trời tối cũng chẳng thấy gì được nhưng chẳng mấy chốc đã nghe thấy tiếng bước chân nặng nề rượt theo hướng xe ngựa đi.

“Chạy xa rồi, nguy hiểm quá.” Tên mù lắng nghe một hồi lâu mới nói, “Giờ làm sao đây?”

“Cứ giấu trước rồi mọi người tản đi, tìm dịp chia đồ sau vậy, lỡ như bọn chúng trở về mà phát hiện động tĩnh gì thì phiền lắm.” Trí Thiện nói.

“Chốt.” Nhị ngố gật đầu, bất luận đối phương là ai hắn cũng sợ bị tóm được.

“Giấu đâu bây giờ? Cái chĩnh to như này.” Tên mù hỏi Nhị ngố , Nhị ngố lại nhìn Hà mổ heo.

Hà mổ heo gãi gãi đâu, trỏ vào một chỗ tối: “Dưới chỗ bị che lại ở tường đông là hầm chứa rau, thường dùng để chứa củ cải, cải thảo lúc trời vào đông, giờ đang trống.”

“Bỏ xuống được không?” Nhị ngố hỏi.

“Được, dưới đó to lắm.”

“Bỏ xuống đi.” Trí Thiện nói.

An mù thổi lửa lên, Hà mổ heo dạt mấy cái mở hầm rau ra, Nhị ngố nhận lấy mồi lửa nhảy xuống dưới, mọi người luôn tay luôn chân chuyền chĩnh với bình bạc xuống.

Nhị ngố vừa mở bao cột chĩnh ra vừa nói với Hà mổ heo: “Lấy tới đây hai món đồ đậy nắp chĩnh lại nào.”

“Mở ra làm gì thế?” Hà mổ heo hỏi.

“Bỏ tấm vải đi thì khó dời đi lắm, tối mai chúng ta họp lại rồi chia.”

Ba người nhìn nhau không nói.

Lão Hà lấy phiến đá kê dưới bếp lò ra đập thành hai mảnh, Nhị ngố đậy nắp chĩnh lại rồi phủ lên một tấm vải đen: “Lấp, lấp hầm lại đi. Bốn người chúng ta, tôi với anh mù thân hơn, lão Hà do anh mù tìm tới, Trí Thiện đại sư là do tôi mời, lấp hầm rồi tôi với lão Hà đi chung, anh mù theo Trí Thiện đại sư, hai người không thân đi chung an tâm hơn, ai cũng đừng hòng có mưu đồ khác, tối mai giờ tý (11 giờ tối) trở lại đây chia đồ, các ông thấy thế nào??”

Ba người lại nhìn nhau không nói.

“Vậy cứ làm thế đi.” Mấy người lấp hầm rau lại rồi chất thêm ít củi lửa lên, dọn dẹp xung quanh cho gọn.

Thế là An mù theo Trí Thiện đến chùa Tiến Phúc, nửa đường gã uốn gãy cung tên vứt mỗi nơi mỗi chỗ, Nhị ngố theo lão Hà men theo con hẻm đến Hà gia.

(7)

E rằng gõ cửa kinh động hàng xóm, Hà mổ heo trèo tường vào trong mở cửa cho Nhị ngố nhưng Hà nương tử ngủ không ngon giấc đã nghe thấy tiếng động từ lâu bèn đốt đèn nhà lên.

“Là ta đây, nương tử.” Hà mổ heo đứng ngoài song nhỏ tiếng gọi.

“Hay chưa kìa, chàng còn biết về cơ đấy.”

“Nàng chớ dậy, ta ra ngủ ở chái nhà, còn có bạn nữa.”

Hà nương tử khoác áo mở cửa song không ra khỏi phòng mà đưa cho lão Hà trản đèn.

Có đôi khi mổ heo sớm quá, lão Hà thường dẫn đồ đệ về nhà ngủ luôn cho tiện, việc này Hà nương tử đã quen coi là thường, nhưng tối nay nàng có chuyện muốn nói với trượng phu. “Chàng không quên việc hứa với người ta chứ? Tối qua anh họ đến nhà tìm chàng, không thấy chàng hồi âm, người ta không an tâm.”

“Việc? Việc gì?”

“Chàng…” Mấy câu mắng chửi lên tới miệng rồi mà phải nuốt xuống, bởi vì việc này là việc của nhà Hà nương tử, trượng phu coi như giúp không công. “Mấy ngày tới anh họ cưới vợ, chàng đã hứa với người ta ngày mai sẽ mổ heo cho, đừng làm lỡ thời gian của người ta đó.”

“Nào có! Nào có! Chẳng phải giết bán thôi ư, mấy ngày trước đụng mặt anh họ cũng đã nói rồi, trưa mai ta sẽ xử lý gọn gàng, nàng yên tâm ngủ đi.” Nói rồi lão Hà dẫn Nhị ngó vào chái nhà.

Lúc này Tăng đầu và Triệu đầu cuối cùng cũng đuổi kịp xe ngựa. Không có người đánh xe, ngựa chạy một hồi đương nhiên dừng lại nghỉ chân.

Tăng đầu thổi lửa lên xem xét, Triệu đầu rút đao ra vén rèm kiệu xe lên, bên trong bóng ma còn không có, biết kẻ trộm đã lỉnh đi từ sớm liền mắng chửi ầm lên đánh xe quay về, bàn nhau lát về bán xe đi đổi tiền uống rượu.

Trí Thiện dẫn theo An mù vào chùa Tiến Phúc từ cửa sau, lúc đi như nào lúc về thế ấy.

Trước tiên gã đến thiền phòng thay một tăng bào sạch sẽ, nom bộ áo đen trên người An mù lại cực không tình nguyện lấy chiếc áo cũ của mình ra bảo hắn thay, còn cho đội thêm chiếc mũ vành che bịt mắt lại, sau đó hai người cùng nhau ra đại điện.

Trí Thiện vừa lên đến bậc thềm đại điện thì có tiểu hòa thượng bước ra nói: “Sư phụ, tìm nửa ngày cũng chả thấy thầy đâu.”

“Ờ… Vi sư nhiễm lạnh, bụng cứ sôi lên.”

“Để con đi nấu cháo trắng cho thầy.”

“Thế thì không cần, tìm vi sư có việc gì?”

“Thái phi của Vĩnh Hưng vương phủ muốn đốt một cái đại hải đăng [3].”

“A di đà phật, thiện tai thiện tai, mau dẫn vi sư qua đó.”

Trí Thiện vờ theo tiểu hòa thượng đi vào đại điện, liếc mắt thấy An mù đã cắm cọc ở góc nào đó đánh một giấc rồi.

Ngày hôm sau trời nắng, Hà mổ heo mệt mỏi hai ngày và Nhị ngố còn đang ngủ bù, Hà nương tử đã ở bên ngoài gọi dậy. “Mặt trời lên cao ba sào còn đòi ngắm sao, mơ giữa ban ngày à, còn đờ ra nữa biểu ca lại đến giục đấy, tai to mặt lớn quá nói không được, người ta mời không nổi!”

Hà mổ heo ngáp một cái, hớn hả ra khỏi chái nhà: “Giờ đi, giờ đi, hôm nay là lần mổ heo cuối cùng, sau này chậu vàng rửa tay, không làm cái nghề này nữa.”

“Không làm nghề này nữa hai ta hít khí trời xì ra gió hả?”

Hà mổ heo kéo vợ vào nhà chính, hạ giọng nói: “Chúng ta trúng mánh rồi, nàng làm chút cơm ngon rượu ngon ở nhà đợi ta, sau này chúng ta cùng nhau hưởng phúc!” Nói rồi liền móc ra một đôi vòng ngọc trắng nạm vàng, kéo tay Hà nương tử qua đeo mỗi tay một cái. Cái này là đêm qua lấy được từ trong cái bình bạc dưới địa cung, lúc ấy Nhị ngố còn mắng gã, kêu bỏ xuống nhưng Nhị ngố không phát hiện ra lão Hà đã giấu nó vào người.

“Ôi!” Hà nương tử mặt đầy kinh hỉ.

Nàng chưa từng biết ngọc trắng nạm vàng là cái gì nhưng nhận ra vàng được nạm lấp la lấp lánh trên bề mặt. Lắc lắc cổ tay, Hà nương tử thấy nhìn nhìn vòng ngọc rồi lại liếc nhìn vào trong phòng, nén giọng hỏi: “Lấy đâu ra đó? Hiếm có thật!”

“Không hiếm, món đồ này còn nhiều, tối nay có thể lấy hết về nhà. Nàng cũng chớ hỏi đâu ra, dẫu sao cũng không phải ta cướp, dẫu sao cũng không có ai cần, đợi lấy về rồi chúng ta đóng sạp, không mổ heo nữa.”

Hà nương tử phơi phới gật đầu.

Hà mổ heo với Nhị ngố đến quầy thịt heo dọn đồ mổ heo. Hầm rau chất củi bên trên vẫn bình an vô sự, tuy rằng bụng dạ như bị mèo cào nhưng hai người chẳng ai nói năng gì.

Nồi nước ở nhà anh họ đã bắt đầu sôi sùng sục, kệ để bên ngoài cũng đã bắt xong, toàn bộ đều được chuẩn bị đâu vào đó. Anh họ kêu mấy tiếng lão Hà mới có phản ứng, gã ngồi trên cái ghế thấp mà hồn phía lên mây, cứ nghĩ mãi về chuyện báu vật, sau khi đứng dậy chọn đao thì mới tiện tay vớ lấy một con dao sắc bén trong giỏ ném qua một bên.

Heo ra khỏi chuồng thì bị móc vào hàm, nó kêu ré lên, vừa bị kéo vừa bị đẩy ấn lên trên ghế. Hà mổ heo ra hiệu cho Nhị ngố đang rảnh rỗi đứng một bên giúp giữ chặt móc câu còn gã thì lấy dao lên, nửa ngồi xuống trước chiếc ghế thấp sờ sờ cổ heo, nhắm trúng tim rồi đâm một đao vào.

Nhị ngố từng coi mổ heo nhưng chưa từng giúp mổ heo bao giờ, tận mắt thấy Hà mổ heo đâm một dao vào thì giật mình một cái, bàn tay kéo móc câu bất giác buông lỏng ra. Gã vừa lỏng tay ra liền khiến con heo đau đến điên cuồng bất ngờ gồng mình lên giằng thoát khỏi đám người, lúc lộn ra khỏi ghế còn thuận miệng cắn lên cổ Hà mổ heo đang nửa ngồi nửa quỳ bên cạnh.

Heo không kêu chứ Hà mổ heo bắt đầu thảm thiết kêu lên xé gan xé ruột. Người cũng bị heo tấn công nằm ngã dưới đất. Heo cưỡi lên người Hà mổ heo, cắn chặt cổ gã mà lắc đầu dữ dội. Lưỡi đao thụt ra ngoài rào rào chảy máu, máu bắn tung tóe khắp nơi.

Mọi người trước là kinh ngạc, ai nấy đều chưa từng thấy qua tình cảnh này, sau đó mới bắt đầu cuống lên, kêu gào chửi bới chen nhau vào. Giữ chặt tai heo, kéo lấy chân heo, cầm cái gánh chặn ngang heo quất cho nó mấy cái nhưng đều vô dụng cả. Con heo cứ cắn chặt không buông.

Nhị ngố liếc thấy con dao dính máu của Hà mổ heo vứt ngay bên cạnh, cũng mặc kệ ba bảy hai mốt, nhấc lên đâm loạn xạ vào bụng heo.

Bụng heo vốn mềm, bị đâm mấy dao mới nhả ra, ba giò bốn cẳng chạy, chạy điên cuồng bốn năm trăm bước làm máu văng tung tóe suốt dọc đường, sau đó nó nhảy xuống hố phân, bò mãi không ra, giãy giụa một hồi lâu mới chết, ngược lại còn khiến hố phân nhuốm đầy máu đỏ.

Chẳng ai rảnh lo heo mà đều vội kéo Hà mổ heo nằm dưới đất lên, đầu gã đã bị máu nhuộm đến mức nhìn không ra hình người. Anh họ bưng cái thùng nước đứng kế bên tạt từng xô từng xô nước lạnh, đến khi sạch rồi chỉ thấy yết hầu Hà mổ heo bị heo cắn nát nhừ, còn đang nổi bọt máu “róc rách”, Hà mổ heo đang há miệng chụp cổ. Có người hét mau đi gọi lang trung nhưng giờ còn gọi gì nữa, người sáng mắt đều thấy rất rõ, gã đã hết cứu rồi. Chẳng bao lâu sau bọt máu phun ra khỏi cổ Hà mổ heo càng lúc càng ít, người cũng dần thẳng đờ ra đất không động đậy chút gì.

Mắt thấy Hà mổ heo tắt thở, Nhị ngố trong lúc hoảng loạn bèn nhân cơ hội đó chuồn đi. Chủ nhà đã phái người đi tìm địa bảo [4], lát nữa mà bị hỏi thì phiền, dẫu sao không ai quen biết hắn, thế nên hắn men theo con đường nhỏ rảo bước về phía ngôi nhà được thuê.

Vào nhà gài cửa, nằm trên giường mà đầu óc hắn đều là Hà mổ heo mới bị cắn chết, trước sau vẫn thấy không yên lòng được. Đáng ra hắn gặp người chết nhiều nhất, bình thường vào mộ khai quan toàn phải chào người chết, nhưng trước nay chưa bao giờ sợ đến mức này. Lại nghĩ người chết cũng đã chết rồi, do lão Hà không có phúc hưởng thôi, ít một người đỡ phải chia một phần. Đợi lấy được báu vật rồi hắn sẽ rời khỏi Tây An, dẫu gì hắn cũng là người Phụng Tường.

Nhị ngố vừa băn khoăn vừa mân mê một con Xích Kim Tẩu Long [5] dài bằng ngón cái, món này là hồi tối qua hắn thó ra được qua khe hở của chiếc bao lúc chờ treo cái chĩnh kéo lên ở dưới giếng.

Trí Thiện khó khăn lắm mới chịu được trời tối, nói với đồ đệ mình đến chùa Tây Minh tìm sư đệ lấy mấy thang thuốc uống, bụng sôi cả ngày rồi không khỏe, chỗ sư đệ có thuốc chuyên trị cái này.

Vừa ra khỏi tự viện đã thấy An mù bước lên, lúc hai người rảo bước đến quầy thịt ở Hà gia thì phát hiện tình huống có gì không ổn, vườn sau ở quầy thịt đèn đuốc sáng trưng, bên trong tiếng người huyên náo.

Hai người tưởng chuyện bị bại lộ, bèn chửi má nó rồi trốn một góc ngó xem.

Bất thình lình từ sau lưng có ai vỗ vai một cái, An mù sợ suýt chết, ngoảnh đầu thấy Nhị ngố liền mở miệng chửi: “Hú vía! Má nó chú mày không nói một tiếng được à?”

“Qua đây qua đây, có chuyện rồi.” Nhị ngố nhích ra xa một tí, đứng trong góc tối kể lại chuyện hồi sáng Hà mổ heo bị heo cắn chết cho An mù và Trí Thiện nghe.

Trời vừa sẩm tối An mù đã qua đây rồi, hắn muốn lén cầm báu vật đi trước, ai ngờ phát hiện thi thể Hà mổ heo đã được khiêng về quầy thịt. Theo tục lệ ở Quan Trung, người chết bất đắc kì tử không được vào nhà, thân thích của họ Hà bèn đem linh đường bố trí ở vườn sâu quầy thịt, Hà nương tử khóc thút thít canh bên linh đường.

Trí Thiện mặt không cảm xúc, đầu tiên là gã kinh ngạc nhưng rất nhanh đã đổi sang mừng thầm. Gã kia chết rồi không những bớt được một người chia mà về sau Hà nương tử chẳng phải còn có một mình thôi sao, vừa hay tiện cho mình, bèn nói: “Bây giờ tính sao? Trong vườn chật cả người.”

“Đành tản ra trước thôi.” Nhị ngố nói, “Muốn sao cũng phải chờ nhà người ta xử lý xong tang sự đã, mấy ngày nay chắc chắn quầy thịt có người cả ngày lẫn đêm, đợi đám tang xong chúng ta mới tìm dịp lấy kho báu đi vậy.”

Trí Thiện nghĩ ngợi cũng thấy chỉ đành làm thế, người lo đám tang thì đông, gã không lo An mù với Nhị ngố sẽ lấy báu vật ra giữa chốn đông người, bèn trở về chùa Tiến Phúc.

An mù trưng gương mặt khóc tang đến nửa ngày, ai mà ngờ được, người cả trăm tám chục cân hôm qua còn sống sờ sờ, hôm nay sao đột nhiên lại mất, nên nói muốn đi phúng viếng lão Hà.

Nhị ngố muốn kéo An mù ra bảo hắn đừng điên nhưng lại nghĩ Hà mổ heo là do An mù kéo vào nhập bọn, anh em người ta vốn là bạn với nhau, huống chi vườn có đông người, cũng không lo An mù dám làm gì bậy bạ, thế nên lặng lẽ bỏ đi.

(8)

Trí Thiện hơi bị bần thần.

Mấy ngày nay hòa thượng khác đều luân phiên nghỉ ngơi, lão phương trượng cũng đổi người gọi tới, duy chỉ có mình gã là ngày đêm lao lực. Hôm nay lại xảy ra chuyện của Hà mổ heo, nghĩ tới Hà nương tử và đống bảo bối chôn ở quầy thịt Hà gia, trái tim gã cứ nảy lên bình bịch.

Sau khi về chùa, gã không vào đại điện. Bên ấy chỗ nào tụng kinh thì tụng kinh, chỗ nào thắp đèn thì thắp đèn, nấu cơm thì nấu cơm, toàn bộ đều đã thành lệ cả.

Trí Thiện ngồi trong thiền phòng của mình một lúc, bất chợt nhớ ra gì đó bèn đứng dậy ra ngoài. Thấy ngoài phòng không có động tĩnh bèn trở vào chốt cửa, mở cái tủ đầu giường ra mó lấy một tấm vải lụa, lại bưng giá nến lên giường, sau đó mới từ từ mở tấm vải ra. Hóa ra thứ tấm vải ấy bọc là một cái chén vàng, chén vàng đang sáng long lanh dưới nến.

Trí Thiện chà chà tay lên người, nhẹ nhàng đưa cái chén đến trước đèn. Cái chén cao không tới hai tấc, miệng chén rộng không quá bốn tấc, dưới đáy là hoa văn hình cá chằng chịt, toàn bộ chén đều dùng kỹ thuật đập búa dát thành hình. Ngoài bụng chén có khắc hai lớp cánh hoa sen ngửa chạm nổi, mỗi tầng mười cánh. Phần cánh sen ở tầng trên lần lượt khảm hồ ly, thỏ, hoẵng, vẹt, uyên ương và các loại kỳ trân dị thú, xung quanh các loài thú được lấp đầy bằng hoa cỏ đối xứng nhau. Hoa sen tầng dưới thì có đầy hoa văn kim ngân. Xung quanh đế chén được trang trí bằng hoa văn dây thắt. Chỗ hai hình thoi ngăn ra được trang trí bằng hoa văn sen bốn cánh. Rìa đế chén được trang trí bằng một vòng hoa văn liên châu. Giữa đế chén phía ngoài được nạm một con uyên ương đang ngoái đầu, xung quanh trang trí một vòng hoa văn mây kim ngân nữa. Chính giữa đáy chén phía trong là một đóa hoa tròn dạng hoa tường vi, kế bên viết ba chữ chữ màu đen “chín lượng rưỡi”.

Chén vàng này là do Trí Thiện thó được trên xe hôm qua.

Lúc ấy Nhị ngố và An mù ngồi bên ngoài càng xe. Hà mổ heo thân thể cường tráng, nửa lấp ló ở rèm kiệu xe nửa còn lại ở trong rèm kiệu xe. Hai cái chĩnh lớn vắt ngang kiệu xe, Trí Thiện sợ người ta trông thấy bèn rúc trong một xó trong khoang xe. Bởi cái chĩnh dán trước ngực Trí Thiện, thế là gã liền lẳng lặng mò tay vào lấy. Tuy nói bên ngoài còn bọc tấm vải chứ sờ qua sờ lại cũng bắt được một cái khe – chính là cái khe là Nhị ngố hồi còn đợi dưới giếng chờ móc chĩnh lên nhịn không được mà thó. Cái chén được Trí Thiện mò ra khỏi cái khe đó vẫn luôn được gã giấu trong tay áo, lúc về chùa thay y phục thì giấu ở tủ đầu giường.

“Cục cưng, không ngờ chế tác tốt vậy, lẽ nào là chén hoàng đế dùng để ăn cơm à!” Trí Thiện tự mình lẩm bẩm xem xét tỉ mỉ nửa ngày, ngước mắt trong thấy chén cháo trắng mà sáng nay đồ đệ nghe mình nói đau bụng đã vào nhà bếp bưng lên cho mình. Song, lúc ấy gã không có lòng dạ nào ăn bèn để trên bàn.

“Hay là bần tăng thử xem sao.”

Trí Thiện bưng chén cháo lạnh lên, thổi thổi vào cái chén vào rồi đổ nửa chén cháo vào đó, ngồi xếp bằng trên giường húp một ngụm, cảm thấy mùi vị khác hẳn ra. Gã tấm tắc chép miệng rồi lại húp thêm ngụm nữa, không ngờ húp mạnh quá bị sặc.

Trí Thiện ho mấy tiếng, toang rồi, khó thở quá. Gã buông cái chén xuống rồi đứng dậy khom người mà ho, kết quả là càng ho càng khó thở, cứ như có một bàn tay rất lớn bóp chặt cổ gã vậy. Mặt Trí Thiện đỏ bừng gắng sức mà ho, muốn ho ra thứ gì đó đang kẹt ở yết hầu, cơ mà ho đến mức miệng mồm đều ra máu mà vẫn hít thở không thông như cũ.

Mặt gã dần dần biến thành màu gan heo, tiếng ho càng lúc càng nhỏ dần, chẳng bao lâu sau gã vẫn cứ bóp lấy yết hầu mà xụi lơ không nhúc nhích được nữa.

An mù giúp xử lý đám tang cho Hà mổ heo nên ngày nào cũng đến giúp Hà gia coi sóc việc vặt cho đến khi tống táng.

Hà mổ heo chết, quầy thịt đương nhiên cũng không làm ăn nữa, Hà nương tử lại không có lấy một trai nửa gái, may mà ngày thường có để dành được chút tiền, anh em nhà mẹ đẻ bèn nói về nhà mẹ đẻ ở tạm một khoảng thời gian đã. Thế là hai căn trạch viện ở đầu và cuối ngõ Hà gia đều bị khóa, lại vừa mới làm đám tang xong, cho dù có là ngã tư giao lộ thì trời vừa tối cũng chả có bóng người nào quanh đó.

Đêm xuống, Nhị ngố đến tìm An mù nói hôm nay là đêm cuối cùng của thủy lục pháp hội ở chùa Tiến Phúc, khách dâng hương đông, vừa hay nhân lúc đông người phức tạp đến tìm Trí Thiện, ba người bàn bạc cho mau chuyện chia chiến lợi phẩm này.

Lúc hai người rảo bước tới chùa Tiến Phúc thì phát hiện không được đúng lắm, vốn dĩ là ngày cuối cùng của một pháp hội lớn nhưng chẳng hề có một tiếng tụng kinh hay pháp khí nào hơn nữa còn có mấy đội quan binh tay cầm đuốc tay cầm đao kiếm đứng trước cửa núi.

Hai người có tật giật mình, tưởng đâu chuyện báu vật dưới tháp đã lộ bèn mau chóng lẳng lặng chuồn đi.

“Lộ rồi lộ rồi, chắc chắn lộ rồi.” An mù nói, “Chắc chắn Trí Thiện bị tóm rồi, chú nói hắn có giao chúng ta ra không?”

Nhị ngố lắc lắc đầu, nửa ngày sau mới nói: “Không chắc, ai biết chó cùng rứt giậu.”

“Vậy tính sao đây? Hay là hai chúng ta đến quầy thịt mau chóng chia quách cho xong, kệ tên hòa thượng.”

“Lỡ như Trí Thiện khai rồi, đằng ấy lúc này hẳn đã có quan binh mai phục đang chờ chúng ta …”

“Ôi chao, vậy thì không nên làm, trộm đồ của Phật Tổ tội lớn lắm thay. Lão Hà mới mất, hòa thượng lại bị tóm, ôi…”

“Hối hận hay gì? Muộn rồi! Nói cho cùng chuyện này không phải do anh khởi xướng à?” Nhị ngố nói.

“Bây giờ tranh luận cái này có tác dụng gì? Trước mắt chúng ta tính sao đây?”

Nhị ngố vừa đi vừa ngoái đầu nhìn ra phía sau: “Em đoán con lừa trọc đó chưa chắc đã khai chúng ta, tội gã đã phạm không phải chỉ có một hai chuyện, anh không biết Giám Tự trước đó chết thế nào đâu, nếu như bị tóm đi thẩm vấn, chắc chắn hắn đã chết tám trăm lần rồi chứ không phải đền mỗi một cái mạng… Chúng ta trốn mấy ngày xem sao đã.”

“Trốn? Trốn đi đâu? Chắc chắn không dám về nhà rồi.”

“Ừ… Không phải anh thường săn bắn à? Bộ không có cái hang hốc nào để che mưa tránh nắng hả?”

“Phần lớn là… Đúng rồi, có! Chúng ta đi!”

Hai người dò dẫm trong đêm đến chỗ gần nhà An mù, áp sát nửa ngày không thấy gì lạ thường, An mù bèn huýt sáo, lát sau Con Đen huỳnh huỵch chạy ra.

“Chó ngoan!” Nhị ngố khen.

Sờ đầu chó rồi lại tỉ mỉ lắng nghe một hồi, An mù nói: “Đi, xung quanh không có binh lính, bằng không Con Đen không ra được đâu.”

Hai người vào nhà cầm cung tên với lương khô và đồ đạc các thứ thường dùng khi đi săn, người trong nhà nghe thấy động tĩnh chỉ hỏi một tiếng rồi ngủ tiếp. Hai người một chó sau khi ra khỏi nhà thì mò mẫm vào núi.

Nếu thế thì binh lính ở chùa Tiến Phúc là chuyện gì đây?

Hóa ra là có khách dâng hương muốn bố thí gì đó, gọi thẳng tên Trí Thiện, đồ đệ liền đi tìm.

Thiền phòng sáng đèn, bên ngoài gọi không nghe, cửa lại đẩy không mở.

Tưởng đâu sư phụ đau bụng ra thành vấn đề gì, đồ đệ liền gọi thêm mấy sư huynh đệ tông cửa mà vào, kết quả phát hiện Trí Thiện ngã lăn ra đất chết ngắt từ lâu, mặt sưng phù với màu gỗ đàn hương giống hệt như màu bàn thờ.

Đám đồ đệ hoang mang bối rối đến đại điện báo cho lão phương trượng biết, nói Trí Thiện sư phụ viên tịch rồi. Nhè ngay lúc đó thái phi Vĩnh Hưng vương đang quỳ ở đằng trước nghe thấy bèn kêu Tăng đầu và Triệu đầu qua tiếp ứng một phen, dẫu sao cũng là người của quan phủ.

Mấy ngày trước Tăng đầu với Triệu đầu đều ở bên ngoài chùa, đêm nay là ngày cuối cùng của pháp hội, khách dâng hương đông, sợ có người va vào thái phi nên mới bảo vệ đằng trước.

Chúng hòa thượng đều bận rộng khiêng thi thể Trí Thiện giờ đã cứng ngắc dưới đất lên, Tăng đầu không quan tâm người chết, trông thấy cái chén vàng sáng lấp lánh trên bàn thì huých huých Triệu đầu: “Trông thấy không, màu chín lắm, tương đối không vừa.”

“Ha, thằng này khá, còn dùng để ăn cháo nữa, có điều quy cách này… Sao giống trong cung vậy? Vương phủ nhà mình chỉ mỗi khi có lễ tế lớn mới trông thấy loại này thôi, hơn nữa còn là đồ Thái tổ gia năm xưa ban tặng.”

“Đợi đã!” Vừa nói Tăng đầu vừa ‘soạt’ một cái rút đao ra.

Triệu đầu cũng có phản ứng, lập tức rút đao ra quát lên với đám người: “Dừng tay! Không được động vào!”

Trong lúc mọi người lấy làm kinh ngạc, Tăng đầu dùng đao chỉ vào cái chén vàng trên bàn rồi hỏi lão phương trượng: “Nói đi, ở đâu ra? Một tên hòa thượng nhỏ bé, sao lại dám vượt định chế tiếm dụng đồ đạc hoàng gia.”

Chúng hòa thượng bấy giờ mới nhìn theo mũi đao mà thấy chiếc chén vàng trên bàn, lão phương trượng cũng chẳng hiểu vì sao, chấp tay niệm ‘a di đà phật’.

Triệu đầu đã về bẩm báo thái phi từ sớm, lát sau thái phi liền cùng được vài hộ vệ vương phủ vây quanh cùng đến thiền phòng của Trí Thiện. Trông thấy thi thể đang nằm dưới đất của Trí Thiện, thái phi nhắm mắt niệm Phật một câu, sau đó mới nhấc chiếc chén vàng chứa nửa chén cháo lên soi dưới đèn, quan sát tỉ mỉ hồi lâu mới gật đầu khẽ nói: “Đích thực là quy cách của hoàng gia.”

“Canh chừng! Canh chừng! Canh chừng hết chúng!”

Tăng đầu gọi hộ vệ trông chừng lão phương trượng và chư tăng, một mặt phái hộ vệ đưa thái phi về phủ, mặt khác sai người đến huyện phủ báo án.

Chẳng bao lâu sau cả huyện Hàm Ninh và phủ Tây An nơi đặt chùa Tiến Phúc đều biết được chuyện này. Vượt quá quy chế là trọng tội, huống chi còn do Vĩnh Hưng vương phủ báo án, nha môn hai cấp nào dám xem thường, thế là cấp tốc phái người đến chùa Tiến Phúc tra xét ngay trong đêm.

Đây chính là nguyên do Nhị ngố với An mù phát hiện pháp hội bị dừng mà cửa chùa lại bị rất nhiều binh lính vây chặt.

Quan phủ điều tra cái chén vàng và nguyên nhân tử vong của Trí Thiện nên tra xét hết một vòng trong với ngoài chùa, kết quả là từ trong phòng Trí Thiện moi ra được rất nhiều vàng bạc châu báu và khế nhà khế đất. Từ khế nhà đất lại phát hiện ra mấy ngôi nhà riêng của Trí Thiện bên ngoài cùng với hai bà vợ và con trai gã nuôi riêng ở ngoài, nhất thời tin tức về chùa Tiến Phúc làm cả thành phong ba dậy sóng.

Chẳng qua đó là chuyện sau này, từ đầu chí cuối An mù với Nhị ngố ở trong núi đều chẳng biết gì cả.

(9)

An mù dẫn Nhị ngố đến hang động mình thường nghỉ chân lúc đi săn ở hai ngày. Sau khi ăn sạch lương khô, Nhị ngố nói dù gì rảnh cũng hoàn rảnh, chi bằng đi săn mấy con thỏ hoang gà rừng, xưa nay gã chưa từng được đi săn bắt.

Hai người thập thò thập thụt đi loanh quanh trên núi, lúc đến được một sơn cốc, Nhị ngố dạt cỏ ra toan kiếm chút nước suối uống, kết quả là hắn vừa nhấc chân phải lên vừa hét toáng “ui da da”.

Tên mù tưởng đâu là thú rừng bèn vội giương cung lên bắn, nhưng đến phía trước mới thấy rõ Nhị ngố đang nhấc cái cổ chân đong đưa một con rắn. Rắn dài chừng hai thước, đầu lưng mình đều màu nâu, bụng màu tro trắng, tục gọi là rắn lục đuôi ngắn [6], độc không gì bằng.

Tần lĩnh mãnh thú tuy nhiều nhưng loài như rắn lại không thường xuất hiện bởi khí hậu là một nguyên nhân, đừng nói chi là rắn độc. Cho dù là có cũng chỉ có một số ít hoạt động ở một đoạn chỗ sâu nhất phía nam Tần lĩnh, chân núi phía bắc thỉnh thoảng cũng gặp rắn nước, hình dạng tuy lớn nhưng không có độc.

Con Đen sủa ẳng ẳng về phía con rắn, tên mù mau chóng thu cung rút đoản đao ra, đến khi cầm đao lên nhìn lại, con rắn trên chân Nhị ngố đã biến đâu mất biệt.

Tên mù sợ rắn còn chưa đi xa sẽ cắn luôn cả mình nên lập tức kéo Nhị ngố chạy lên sườn núi. Chỗ đó hướng về phía mặt trời, thường rắn sợ xuất hiện dưới ánh nắng lắm.

Nhị ngố chạy được mấy bước thì rên rỉ ngồi xuống đất, bắp đùi gã đã sưng tấy lên rồi.

Tên mù cắt áo xé vải, trước tiên là cột một vòng quanh háng Nhị ngố sau đó lại luồn một vòng nữa trên gối, nói: “Loài này là rắn lục đuôi ngắn, độc tính cực lớn, anh cũng không dám hút độc ra, chú nhịn đau một chút, anh lấy dao khoét phần thịt độc ra, còn chậm nữa là không kịp đó.”

Nhị ngố vẫn còn tỉnh táo, vừa nghe thấy rắn độc đã sợ đến há mồm trợn mắt đăm đắm nhìn tên mù.

Tên mù tiện tay cuộn quần áo một vòng nhét vào miệng Nhị ngố rồi lại xé vải lau qua máu ở cổ chân, hai chấm nhỏ do rắn cắn đã biến thành màu đen rồi. Tên mù dùng gối trái đè lên chân Nhị ngố, gối phải đè lên cẳng chân, khoét mũi đao vào miệng vết thương xoay một vòng, lẫy mạnh ra một khối thịt đen.

Nhìn lưỡi đao, tên mù nghĩ bụng thôi không ổn rồi, bởi vì sau khi thịt được khoét ra chỉ chảy có chút máu, xung quanh phần thịt trên chân là một màu đen sẫm, cho thấy độc rắn đã phát tán rồi.

Hai tay Nhị ngố bấu vào bụng, không thấy đau nhiều lắm. Chân phải gã đã tê đi rồi còn cẳng chân rõ ràng đã sưng tấy lên, bắp đùi cũng bắt đầu chuyển xanh.

Tên mù kêu Nhị ngố hai lần mà gã không đáp, bàn tay bấu lên bụng cũng dần thả lỏng, nằm ngửa đầu ra, tấm vải còn ở trong miệng nhưng hơi thở đa phần đều là thở ra. Da mặt Nhị ngố dần chuyển sang màu xanh, ánh mắt cũng dần tối lại.

Tên mù vứt thanh đoản đao dính máu đen đi, thở dài, gọi Con Đen tới rồi lê chân nặng nề xuống núi.

Trời đã tối mịt, tên mù đi mà không biết mệt mỏi, âm thầm xét lại những chuyện xảy ra gần đây. Con Đen tóm được con hươu, mình với lão Hà đến Liễu Phong viện cắt tiết hươu cho Quách viên ngoại, biết được dưới tháp chùa Tiến Phúc có kho báu. Gã bị tiền bạc mê hồn nên nói chuyện này cho Nhị ngố nghe, Nhị ngố bèn kéo Trí Thiện vào. Bây giờ lão Hà mổ heo mười mấy năm lại bị heo cắn chết, Trí Thiện bị quan binh tóm được, còn rắn độc mà mình săn bắt biết bao nhiêu năm chưa từng gặp phải mà Nhị ngố lại bất ngờ đụng trúng, toàn là sự lạ.

Nương ánh trăng gã vừa đi vừa lẩm bẩm, thầm nghĩ về sau sẽ an phận sống qua ngày, có thể săn bắt thì săn bắt, không săn bắt được thì trồng trọt giúp gia đình… Nhưng còn kho báu chôn ở hàng thịt phải tính sao đây? Nếu không lấy ra thì thôi bỏ, bây giờ có đem ra thì cũng…

Bất chợt gã hụt chân, trượt xuôi theo đám cỏ xuống dưới. An mù muốn túm mấy nắm cỏ xanh mà không túm được, cơ thể trượt càng lúc càng nhanh, trượt được nửa đường thì bay xuống vách núi, còn lại mỗi Con Đen ở sườn núi sủa lên ẳng ẳng.

Bảy ngày sau An mù mở con mắt duy nhất của gã ra, tỉnh lại trên chiếc giường ở nhà mình. Sau khi trượt xuống vách núi gã chưa té chết mà trước lúc đáp đất đã được một cây tùng mọc ngang núi đá cản lại.

Con Đen ở trên kêu một lúc liền men theo sườn núi chạy xuống tìm. Nơi này không phải núi sâu, nó với An mù từng đi qua mấy lần nên biết đường. Sau khi chạy xuống núi vòng vào một con lạch, Con Đen nghe mùi tìm được chủ nhân đã mất đi tri giác của mình. Nó liếm tới liếm lui, liếm đến khi nước miếng khô rồi cũng không liếm tỉnh được An mù. Chẳng qua Con Đen cảm nhận được người còn chưa chết mà vẫn còn hơi thở, bèn cắn áo kéo An mù ra ngoài, kéo mãi đến con đường đất không có cỏ mọc thì kéo không nổi nữa mới ngồi canh sát bên.

Ban ngày có một nông dân lên núi hái thuốc, Con Đen cứ cắn lấy người ta kéo đến trước chỗ An mù. Người nông dân kiểm tra An mù máu thịt lẫn lộn, thấy gã còn thở, nhìn cách ăn mặc biết là thợ săn bèn hiểu ra ngay là hụt chân rơi xuống vách núi, chuyện này trên núi không hiếm. Sau khi cõng về làng thì nghe ngóng đưa người về nhà họ An, người nhà họ An thiên ơn vạn tạ không cần kể nữa.

Lang trung đến xem bệnh nói toàn thân đều là chấn thương nghiêm trọng nhưng không gãy xương cũng không đứt gân, thế là kê mấy phương thuốc trị thương do té ngã. Cần bôi ngoài thì bôi ngoài, cần uống trong thì uống trong, bảy ngày sau An mù mở mắt nhưng cứ ú ú ớ ớ không nói rõ chữ, hơn nữa, đằng trên nước miếng đằng dưới nước tiểu cũng không tự chủ được.

Nhà họ An lại gọi thêm mấy tốp lang trung, kết quả như nhau, kết luận An mù đã té ra người khờ khạo mất rồi.

Từ ngày trượng phu chết, Hà nương tử vẫn luôn ở nhà mẹ đẻ. Sau này nghe tin Trí Thiện chết rồi, người ta còn đồn gã là tên hòa thượng háo sắc nuôi mấy bà vợ mấy đứa con bên ngoài, Hà nương tử không khỏi mắng thầm đủ thứ.

Ngày qua tháng lại, tiền bạc tích trữ đã tiêu bằng sạch, anh em dâu con bắt đầu nói ra nói vào mặt nặng mày nhẹ. Hà nương tử muốn bán quầy thịt với nhà cửa đi đổi sang một tiểu viện khác nhưng ai cũng hiềm nhà Hà mổ heo ám khí quá nặng chẳng ai thèm vào. Bất đắc dĩ quá, nàng bèn đem đôi vòng ngọc bích trắng nạm vàng trượng phu cho ra hiệu cầm đồ, ai ngờ đổi được không ít bạc. Từ đó, chị em dâu nhà mẹ đẻ lại mặt mày rạng rỡ bưng trà rót nước, cho nàng yên ổn sống ở Hà gia, bởi vì mỗi khoản chi tiêu trong nhà Hà nương tử đều hào phóng gánh vác hết một mình.

Cuối năm Quan Trung lại có dư chấn, tòa tháp ở chùa Tiến Phúc vẫn yên bình nhưng bệ giếng cách tháp không xa lại đổ sập. Nhân sau khi Trí Thiện chết, trong chùa xảy ra đủ thứ chuyện không được yên bình nên không ai thèm lo tới chuyện này, cái giếng dần dần bị lấp cứng lại.

Lúc dư chấn, ngôi nhà có quầy thịt của Hà gia và bếp lò cũng sập, dù sao cũng không ai ở mà lại không thiếu tiền nên Hà nương tử bỏ mặc quách cho xong. Tháng rộng năm dài, quầy thịt của Hà gia trở thành nơi người qua đường ghé vào rửa tay còn báu vật trong hầm rau khi ấy vẫn bị phủ dưới lớp bụi mờ trần thế.

(10)

Đại Đường Văn Minh nguyên niên vào tám trăm năm trước, Võ hậu vì muốn cầu phúc cho Cao Tông giá băng nên đã ra sắc chỉ xây chùa Hiến Phúc, không bao lâu sau đổi tên thành chùa Tiến Phúc, trở thành tự viện hoàng gia.

Đức Tông thời Trinh Nguyên nghênh đón Phật Chỉ Xá Lợi từ chùa Pháp Môn, vì để tiện cho bách tính được chiêm ngưỡng cúng bái mà Phật Chỉ được giữ lại chùa Tiến Phúc một khoảng thời gian ngắn. Trong khoảng thời gian đó, đạt quan hiển quý tranh nhau bố thí đủ thứ vàng bạc, đồ đựng và châu báu. Vì là đồ dâng cúng cho chùa Tiến Phúc nên sau khi Phật Chỉ được dời đi, đồ bố thí được giữ lại chùa.

Phương trượng thấy phần đa pháp vật là đồ dùng hoàng gia mà bách tính không thể sử dụng được bèn mở địa cung của tháp chùa Tiến Phúc ra cho vào đó cất giữ, còn dùng hai cái chĩnh lớn gom đèn dầu mà bách tính dâng cúng lại làm thành Trường Minh đăng. Đúng lúc có một cao tăng tu theo pháp môn tiểu thừa của Sơ Lặc quốc là Tuệ Lâm đang biên soạn kinh văn ở chùa Tây Minh, thế là phương trượng liền mời Tuệ Lâm cùng tham gia bảo tồn pháp vật. Tuệ Lâm dâng cúng đồng bạc vàng của Sơ Lặc quốc, còn áng theo nghi thức của Sơ Lặc quốc hạ cấm chú lên số pháp vật này.

Từ đó về sau, địa cung vĩnh viễn bị phong bế.

Tám trăm năm sau, chùa Tiến Phúc vì tu sửa tháp Tiểu Nhạn bị hư hại do động đất mà mở địa cung ra, lão phương trượng đức cao vọng trọng sau khi vào địa cung liền phát hiện ra cấm chú này, thế nên không cho chúng tăng tự ý động vào. Lão phương trượng và Giám Tự đích thân nhặt pháp vật rơi vung vãi cho vào chĩnh lớn, lại thỉnh kinh quyển của bản tự vào trấn áp, mãi đến khi pháp vật bị Trí Thiện cấu kết với người ngoài trộm ra.

Thực là:

Thế gian vô cùng tận, càng nói càng sâu xa.

Âm dương phân đen trắng, vàng từ gạch biến ra.

Báo ứng ắt sẽ có, đạo không chứa tà ma.

Vội vàng ai trấn định, trời đất toại lòng ta [7].

—

[1] Chỗ này tác giả dùng 1 từ địa phương tương đương với “phiền phức” rồi tự chú thích là đang dùng từ địa phương luôn nên tôi cũng tìm 1 chữ có tính địa phương tương đương cho vào.

[2] Pháp hội siêu độ hết thảy chúng sinh trong lục đạo luân hồi, cả trên mặt đất, dưới nước và không khí, là một pháp hội siêu độ lớn bắt nguồn từ Trung Quốc. Ban đầu tôi định cho lên 1 bài về pháp hội thủy lục trong series Văn Hóa Lịch Sử, nhưng ngó lại cái chính yếu nhất của pháp hội này có thể tìm thấy đầy trên các trang về Phật giáo nước ta, không có gì đáng để bổ sung nên thôi vậy.

[3] Một loại đèn đốt trước tượng Phật, tượng trưng cho hiện thân của Bồ Tát, cũng cháy lâu được như Trường Minh đăng.

[4] Binh lính duy trì trật tự địa phương

[5] Xích Kim Tẩu Long: Hiện vật thời nhà Đường có hình rồng cao chừng 2,8 cm dài cỡ 2 cm, dáng mảnh, miệng rộng, cổ dài, có sừng uốn ra phía sau, thường được chế tác thành dạng có bốn chân như đang đi bộ theo nhiều tư thế khác nhau.

[6] Âm Hán Việt trong bản gốc của nó là “Thảo Thượng Phi”, tên khoa học là Gloydius brevicaudus, thuộc họ rắn lục, còn có tên khác nữa là hổ mang đuôi ngắn. Tôi tra tên các loài rắn lục thì thấy con này không có tên thường gọi ở Việt Nam, những trang nhắc đến nó đều nhắc tên khoa học hoặc tên là Mamushi đuôi ngắn nên giữ lại chữ “đuôi ngắn” là đặc điểm của nó và ghép với họ của nó là rắn lục.

[7] Là một trong các bài Tiêu Dao Vịnh của Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa. Đại ý nói về đạo trời vô cùng vô tận, biến ảo khôn lường. Đoạn “vàng từ gạch biến ra” hơi đá 1 chút qua thứ giống như giả kim nhưng đại khái là vật chất theo thời gian mà thay đổi. Cùng với thời gian thì làm ác ắt gặp báo ứng mà người lầm đường lạc lối không thể tìm về được chính đạo. Cuối cùng là người nào biến giữ tâm mình ổn định trong dòng đời hối hả ắt nương được theo ý trời mà hợp được đạo trời.

Tôi có biên 1 bài về Triệu Quang Nghĩa ở đây

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
1
0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x