CHUYỆN LẠ Ở THÀNH TRƯỜNG AN – NGƯỜI ĐÀN BÀ BỊ RUỒNG BỎ

By

·

80–120 phút

CHUYỆN LẠ Ở THÀNH TRƯỜNG AN

TRUYỆN: NGƯỜI ĐÀN BÀ BỊ RUỒNG BỎ

Dịch (láo): A Tĩnh

#truongankydam #chuyenlaothanhtruongan #nguoidanbabiruongbo

(1)

Không ai biết Khương Thúy Nhi mất chính xác vào khoảng thời gian nào, lúc Phương Thân đến gánh nước mới phát hiện ra bà đã chết từ lâu lắm rồi. Lần trước Phương Thân đến đây là chuyện của năm ngày trước, gã và Phương Kinh khiêng Khương Thúy Nhi từ chùa Vĩnh An về nhà, lúc ra đi có liếc nhìn bể nước, khi ấy bể nước còn đây, bây giờ nước vẫn còn đầy.

Khương Thúy Nhi ở một mình trong căn nhà nhỏ trên ruộng rau ngoài làng, ngày thường người tới thăm nom là Kim lão thái thái nhà ở đầu làng. Chân Thúy Nhi không tiện, thỉnh thoảng cần mua chút đồ đều nhờ Kim lão thái thái giúp cho, thuận tiện tiêu mấy đồng tiền. Ba năm trước Kim lão thái thái qua đời, ngôi nhà nhỏ đó ngoại trừ đứa cháu nhỏ Phương Kinh cách mỗi nửa tháng đưa sang gạo dầu mì muối ra thì chỉ có đứa cháu lớn Phương Thân đến gánh nước rồi chẻ cho chút củi mỗi năm ngày một lần. Ngoài ra không có ai ghé bước.

Tang lễ được cử hành vô cùng đơn giản, gần như không có nghi thức gì. Âm Dương tiên sinh chỉ chọn một ngày lành, phương vị mộ huyệt không cần xem xét, khiêng quan tài tới chôn coi như xong chuyện. Mộ phần tổ tiên nhà họ Phương không chấp nhận người từng tái giá như Khương Thúy Nhi, thế nên ngôi mộ chỉ có thể đặt ở bãi tha ma vô chủ. Thế nhưng quan tài của bà được làm bằng gỗ tùng chắc chắn, đó là một phần hiếu thảo mà đứa con trai chuẩn bị trước cho bà khi đón Thúy Nhi về nhà vào khoảng hơn mười năm trước. Thọ y có thể nói là được chuẩn bị rất cẩn thận, thậm chí có thể nói là xa gần không có cái nào có đường may đẹp hơn được cái này, áo đó là do Thúy Nhi chính tay cắt may khâu vá cho mình lúc sinh tiền. Phần thân trên có bảy đường cổ áo, phần thân dưới có đúng năm tầng. Nhưng khi choàng lên người đúng là phí rất nhiều sức lực, bởi vì đầu bà đã lạnh cứng rồi. Người biết mặc thọ y quanh vùng là Bạch chấp sự, nhưng ông ta sợ bị dính vận xui nên không muốn tới chút nào, cuối cùng Phương Thân và Phương Kinh phải trả giá rất cao mời bà thầy pháp Khiêu đại thần [1] mới mặc lên người được.

Đội ngũ đưa tang tổng cộng có cỡ mười người, nhà họ Phương chỉ có hai đứa cháu là Phương Thân và Phương Kinh, họ Khương là nhà mẹ đẻ nhưng chả ai tới cả, cũng không có hàng xóm gì. Không có tiếng khóc tang, không có người giấy ngựa giấy, không có kèn đồng, ai nấy chỉ khiêng quan tài đến mộ địa rồi chôn. Người khiêng quan tài là bạn bè được Phương Thân, Phương Kinh mời tới, trong nhà không bố trí linh đường, không dán đôi liễn trắng, không chuẩn bị bàn tiệc chiêu đãi. Sau khi hạ táng, hai người mời bạn bè đến giúp sang một quán bên đường ăn bữa cơm, toàn bộ tang lễ đến đây kết thúc.

Phương Thân, Phương Kinh sở dĩ chăm lo cho chuyện ăn uống lúc sinh tiền của Thúy Nhi, chăm lo đưa tang hậu sự hoàn toàn không phải vì Khương Thúy Nhi là bà của hai đứa, trên thực tế hai đứa cũng chưa từng kêu Thúy Nhi là bà, toàn bộ chỉ vì để có được mảnh đất trồng rau mà Khương Thúy Nhi đang ở. Trước khi tạ thế, phụ thân chúng là Xuân Sinh chia nhà, đã lập chứng từ cho mảnh đất trồng rau mà mẫu thân đang ở, viết rõ ai chăm nom đỡ đần đưa tiễn bà nội thì mảnh đất sẽ thuộc về người đó. Lúc ấy, Phương Xuân Sinh nói nếu Phương Thân, Phương Kính đều không tình nguyện, ông ta sẽ tìm người lạ nào bằng lòng lo liệu chuyện này, như vậy hai mẫu đất bằng rất tốt có thể tưới bằng nước giếng sẽ thuộc về Kim Bồn Bồn “gieo nhân hẳn nên được quả”. Thế nên mới có chuyện Phương Thân lo việc quần áo, nước noi và chẻ củi còn Phương Kinh lo liệu phần ăn, hai người đã bàn với bàn sau khi Khương Thúy Nhi chết, phần đất đó mỗi người một nửa.

Ngày tiếp theo sau tang lễ, Phương Thân và Phương Kinh đến ruộng rau đem củi lửa chất vào căn nhà nhỏ, toàn bộ đồ đạc đều không đem ra ngoài mà châm lửa đốt sạch trơn. Sau khi cháy sạch, tường đổ ngả nghiêng, đất bùn vỡ vụn được trộn với phân để làm phân bón.

Sau này thanh minh, tiết hàn thực, giao thừa, bọn chúng đều chưa một lần nào đến mộ bà mình, chẳng được mấy năm thì ngôi mộ bị san bằng, toàn bộ dấu vết của Khương Thúy Nhi ở nhân gian này xem như tan thành tro bụi.

Khương Thúy Nhi có nhân duyên không tốt cũng bởi vì mệnh cứng, đó là cách nhìn của người ngoài. Ban đầu, mọi người đều cảm thấy bà chỉ khắc đàn ông, dù sao trượng phu Phương Đôn của bà cũng qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ. Sau khi tái giá, Địch Quý Quý tục huyền cũng chết; lúc ở góa thì thợ mộc Phan thuê bà làm việc cũng qua đời, ngay cả đứa con trai đón bà về nhà xong cũng dăm ngày ba bữa là đổ bệnh, cuối cùng còn tạ thế trước cả bà. Sau này mọi người trong lúc phiếm chuyện buôn dưa phát hiện ra Khương Thúy Nhi còn khắc cả đàn bà nữa. Bà cụ Ma, ni cô già, con dâu, con gái, Kim lão thái thái đều chết sớm hơn cả bà. Hơn nữa cả đời bà may áo thọ, những thứ có dính líu tới bà nếu không phải là vật của người chết thì cũng chỉ có người chết. Tin đồn mệnh cứng khắc người càng đồn càng ác liệt, quá đáng hơn là sau này bà đập vỡ tượng trong chùa hơn nữa còn trỏ vào tượng thần mà mắng lấy mắng để, khiến tất cả mọi người đều hoàn toàn xem bà như kẻ không may.

Nhưng ai biết được nỗi khổ của bà?

(2)

Khương Thúy Nhi từ nhỏ đã có cốt cách giai nhân, mẹ nàng lại thêu thùa rất đẹp, nàng theo mẹ học được tay nghề nữ công thiện nghệ, trước khi đính hôn với Phương Đôn, các bà mai đến nhà họ Khương xin cưới suýt chút đã giẫm gãy lan can nhà họ luôn rồi.

Nhà họ Phương chỉ được cái đủ ăn đủ mặc, không thể coi là đại phú đại quý gì, lão thái gia của hai nhà Phương – Khương mấy chục năm trước có qua lại với nhau, cũng nhất quyết muốn liên hôn, chỉ là con cháu hai nhà tuổi tác lúc nào cũng chênh nhau quá lớn. Đến thời của Phương Đôn và Khương Thúy Nhi thì các lão thái gia đã qua đời từ rất lâu, quan hệ của hai nhà cũng không còn như trước, lúc nhà họ Phương đến hỏi cưới vốn cũng không hi vọng hôn sự này thành nhưng nhà họ Khương sau khi gặp qua quá nhiều bà mai vẫn niệm tình xưa mà cho hai người đính hôn.

Năm thành hôn, Phương Đôn mười bảy, Khương Thúy Nhi mười bốn. Sau khi gả về nhà chồng, Thúy Nhi mới phát hiện Phương Đôn phải cố gắng mới nghe được bởi tai trái bị điếc bẩm sinh, may mà người trông tuấn tú lại tháo vát, không có tật xấu gì, làm việc cũng chưa từng qua quýt.

Bởi phụ thân mất sớm mà Phương Đôn phải sớm gánh vác việc nhà, xử lý trong nhà ngoài cửa đinh ra đinh mà mão ra mão, đối đãi với Thúy Nhi càng chiều chuộng vô cùng. Thúy Nhi dần dần cũng giải tỏa được khúc mắc về khiếm khuyết đó của trượng phu, hai vợ chồng sống với nhau cũng ân ân ái ái, cử án tề mi.

Mấy năm đầu kết hôn, Thúy Nhi sinh được hai đứa con, đều chết yểu khi chưa đầy tuổi. Phương lão nương sầu não liền bắt đứa con gái thứ năm vừa mới ra đời của một họ hàng xa năm đường bảy lối lại bần cùng đến nhà họ Phương, mong con cái mình được thông thuận, yên bình. Năm tiếp theo Thúy Nhi lại sinh ra một bé trai nữa, trong tháng cứ đau yếu dặt dẹo, kiểu nào cũng thấy không bảo vệ nổi mà cũng không sống tiếp nổi, mãi đến khi tròn tuổi mới khỏe mạnh hoàn toàn. Nhân đứa con ra đời vào ngày lập xuân nên có tên là Xuân Sinh, đứa bé nhà thân thích mang về tên Tú Cô, xem như cô dâu nuôi từ bé của Xuân Sinh. Lúc Xuân Sinh được ba tuổi, Thúy Nhi lại sinh thêm một bé gái, cũng qua được mốc tròn tuổi, sinh vào mùa thu nên đặt tên là Thu Nương.

Gia đình nhỏ đông vui náo nhiệt ân ân ái ái có thể nói là vô cùng hạnh phúc nhưng chẳng bao lâu sau Thúy Nhi đã rơi vào biển khổ lần đầu tiên – trượng phu của nàng bất thình lình tạ thế.

Năm đó mưa nhiều mùa màng bội thu, hoa màu tươi tốt, rất nhiều dã thú cũng nhờ đó sinh sôi, đặc biệt là heo rừng, một hang bảy tám con, phá hoại không ít bắp với cao lương. Heo rừng không dễ xử lý như thỏ hoang mà đặt vài cái bẫy thôi đã có thể tóm được, dẫu sao hình thể nó khỏe khoắn mà còn có cả răng nanh nữa.

Ngày xảy ra chuyện, Phương Đôn dẫn theo mấy người cầm theo mâu tre đi đánh heo rừng trên ruộng lúa. Đấy là mùa heo mẹ đẻ con, có thể dễ dàng giết luôn cả ổ. Khi mọi người nhốt được heo mẹ với lứa heo con trong hang động rồi dùng khói hun từ bên ngoài vào, bỗng dưng có một con heo đực chòm tới từ chếch phía sau lưng, nhe chiếc răng nanh dài gần một thước, bổ nhào vào người Phương Đôn, vật y ngã gã ra đất. Người khác sớm đã nghe thấy tiếng hừ hừ của heo rừng lúc nó bắt đầu tập kích, cũng chuẩn bị trốn đi nhưng Phương Đôn có một cái tai điếc nên phản ứng chậm hơn nửa nhịp. Khi ai nấy đỡ nửa ngày không dậy mới phát hiện y bị thương rất nặng, sau ót bị răng nhanh của heo rừng chọc ra hai lỗ máu tươi, chưa kịp khiêng tới nhà thì người đã chết ngay giữa đường.

Thúy Nhi khóc lóc đổ bệnh mấy tháng, nếu không có Xuân Sinh và Thu Nương vào vào ra ra gọi mẹ thì cơ thể nàng đã vỡ vụn từ lâu. Con đều đang lớn, vì con cái, nàng vẫn phải sống tiếp, nhưng cuộc sống đã không thể trở về quỹ đạo như xưa nữa, Thúy Nhi phát hiện nhà họ Phương bắt đầu thay đổi.

Trước là Phương lão nương thường tìm cơ hội khó dễ bóng gió nói mấy câu. Rằng lúc Phương lão gia mất, bà còn trẻ tuổi hơn cả Thúy Nhi, mấy chục năm chẳng phải cũng cứ thế qua đi à, đàn bà sống được là nhờ thanh danh. Lại nói một ngựa không thắng hai yên, liệt nữ không lấy hai chồng, đói chết là chuyện nhỏ thất tiết là chuyện lớn, có chồng theo chồng, chồng mất theo con… Một tràng dông dài lải nhải, không ngoài phụ nữ phải chuyên nhất trọn đời.

Ban đầu Thúy Nhi nghe xong để đó, dù sao cũng là mẹ chồng mình, nhưng cứ dăm ngày ba bữa lại nói thì nàng không chịu nổi, mẹ chồng có ý gì đây? Tang kỳ ba năm của trượng phu còn chưa hết, cứ nói mãi mấy câu này cứ như nàng sắp tái giá không bằng. Trong nhà lớn có lớn có nhỏ, phải hầu hạ bọn họ nên chẳng rảnh đâu để xem còn ý gì khác nữa. Sau này Xuân Sinh trong lúc vô tình buột miệng nói bà nội bảo mẹ mày có vóc dáng tướng mạo như vậy ắt không cam tâm ở góa, nếu mà bỏ đi thì ba đứa nhãi chúng mày đều sẽ chết đói hết, sao có thể để phù sa chảy ra ruộng ngoài.

Thúy Nhi như bị giội cho một thau nước lạnh, buốt giá nửa linh hồn.

Lại thêm một khoảng thời gian nữa, Phương lão nương đột nhiên không nhắc đến chuyện ở góa nữa, lúc đó cũng là lúc Phương Hiệu cứ dăm ngày ba bữa lại sang nhà nàng. Phương Hiệu có thể xem là em chồng của Thúy Nhi nhưng không phải em ruột của Phương Đôn mà là em họ. Mẹ ruột của Phương Hiệu sinh con xong liền băng huyết chết, trùng hợp năm đó Phương lão nương sinh được đứa con gái nên có đủ sữa, thế là Phương Hiệu uống sữa của Phương lão nương mà lớn. Phương Hiệu cũng coi như mệnh lắm truân chuyên, vợ sinh thai đầu là con gái, lúc sinh đứa thứ hai thì bước lên con đường băng huyết giống hệt mẹ chồng, người lớn trẻ con đều không giữ được. Chuyện này xảy ra khi Xuân Sinh hơn một tuổi, sau này Phương Hiệu vẫn mãi đơn côi không tục huyền nữa.

Thực ra từ hồi người chồng quá cố còn sống, Phương Hiệu cũng thường đến đây nhưng cũng chỉ lân la ngoài cửa, hai nhà tiền viện kề sát hậu viện, bước chân qua là tới. Lúc Phương Đôn tạ thế, Thúy Nhi khóc lóc đổ bệnh biết bao lâu, Phương Hiệu bắt đầu vào nhà nàng, khi ân cần thăm hỏi khi giúp dọn cho mấy vật nặng trong nhà, bảo nếu có việc cứ bảo con sang mà gọi hắn. Ban đầu Thúy Nhi rất cảm kích, về sau dần dần phát hiện có gì đó sai sai, mèo leo trần nhà chả rình con chuột, lúc nào hắn cũng chọn lúc con cái không có ở đây để tìm nàng nói chuyện, thỉnh thoảng đưa đồ sang còn mượn cớ lôi lôi kéo kéo. Sau này càng lúc càng quá đáng hơn, có lần uống hơi say liền nằm luôn trên giường nàng vờ ngủ, Thúy Nhi nói với mẹ chồng bảo sai người đuổi đi, thật không nói nổi nữa rồi. Kết quả là Phương lão nương lải nhải chẳng xem chuyện đó ra gì, còn trêu rằng trưởng tẩu như mẫu, tiểu thúc như con, kiêng kị như thế làm gì.

Trước nhà góa phụ lắm tiếng thị phi vốn cũng phải tùy người. Khó khăn lắm tang kỳ ba năm mới kết thúc, hôm nay ăn cơm trưa xong, các con đều ra ngoài chơi, Thúy Nhi đang định thu dọn bát đũa thì Phương lão nương ra hiệu bảo nàng đợi đã. “Con dâu này, mẹ có chuyện này muốn nghe ý kiến của con.”

“Xin mẹ cứ nói.”

“Đôn Nhi là đứa vô phúc, cha nó hai mươi chín tuổi đã mất, ai ngờ nó cũng chỉ khỏe hơn cha nó một chút, mới ba mươi mốt cũng đã đi theo luôn rồi.”

“Mẹ, chúng ta đừng nói chuyện này nữa.” Nhắc đến những chuyện này, cõi lòng Thúy Nhi khó tránh bi thương.

“Hôm nay nhà ta có lớn có nhỏ, toàn phải do một tay con gánh vác, nhưng chúng ta dẫu sao cũng đều là đàn bà con gái, thời gian lâu dần không gánh vác nổi đâu. Thêm nữa ngoài đồng cũng phải có đàn ông làm việc, chỉ dựa vào các anh em chú bác giúp đỡ cũng không thể nhờ hoài được. Mẹ muốn hỏi ý con xem con có muốn đi bước nữa không, hay là…”

“Mẹ, con dâu không có ý đó.”

“Nhưng dẫu gì con cũng còn trẻ, tướng mạo lại…”

“Trước mắt Xuân Sinh mỗi ngày một khỏe mạnh, Tú Cô cũng mười tuổi rồi, thêm hai ba năm nữa cho hai đứa nó viên phòng sớm một chút, viên phòng xong Xuân Sinh đã là đàn ông trong nhà rồi, chuyện ngoài đồng cũng có thể học mà gánh vác, nếu con nhận cắt may nhiều hơn một chút, nhà ta cũng chưa tới nỗi nào.”

“Được, con dâu sáng suốt quá. Nếu con đã có dự tính đó, vậy người nhà không giấu giếm lẫn nhau, mẹ đã quyết định làm đám cưới xoay phòng [2] cho con, cũng không phải người ngoài, và cũng thương lượng với các bác của Xuân Sinh rồi, mọi người đều ủng hộ, hôm nay cố tình hỏi ý kiến của con thêm.”

“Đám cưới xoay phòng là gì?”

“Không phải bây giờ con đang ở góa sao, Hiệu nhi cũng cô đơn một mình mấy năm từ sau khi vợ mất, nó cũng bú sữa mẹ mà lớn, dù không phải do mẹ sinh nhưng cũng do mẹ dưỡng, chẳng khác gì Đôn nhi. Mỗi ngày mắt mẹ thấy lòng mẹ đau, không nỡ để con và thằng bé tuổi còn trẻ trung đã phải chịu đựng sống thế này, chi bằng một nhà chúng ta hai cây tì bà xướng cùng một điệu, hai con đám cưới xoay phòng. Con cũng không cần dọn ra hậu viện, cứ ở nhà ta, đêm xuống muốn ra hậu viện thì ra, không muốn ra thì Hiệu nhi tới phòng con cũng được, mọi việc như cũ, như vậy con không phải cô đơn mà nó tốt xấu gì cũng có thể có một hạt giống mà đập bình đưa tang [3] cho mình.”

Hóa ra là vậy!

Thúy Nhi tức thì sầm mặt, lạnh lùng nói với Phương lão nương: “Con không cô đơn, những lời này mẹ cứ coi như nói với cái chén không, con dâu không nghe thấy.” Sau đó liền bưng chén đũa đi.

Phương lão nương bấu hai tay lên bàn, móng tay gõ lên mặt bàn cộc cộc, nửa ngày sau vẫn còn lẩm bẩm: “Như này là… vẫn còn xấu hổ hay sao?”

Đêm đó Thúy Nhi đang trải giường, Phương Hiệu bước vào nói: “Ôi chao, đừng phiền phức vậy, chỗ ta đã chuẩn bị xong xuôi, chăn đệm đều được đặc biệt chuẩn bị, trong ngoài toàn bộ thay mới.”

Phương Hiệu mặc đạo bào vải xanh, vai quàng một tấm lụa đỏ, trên chóp mũ lụa còn cài một đôi ngân hoa, đôi hài vân đẩu xem ra cũng mới. Ba đứa con vẫn ngủ ở chỗ bà nội, lúc này đang ở nhà chính, thấy không có người Phương Hiệu liền kéo tay Thúy Nhi.

“Ra ngoài!” Thúy Nhi giật tay khỏi tay Phương hiệu, thấy hắn thay mới từ đầu đến chân, lại nhớ tới lời mẹ chồng nói giấc trưa mà chả hiểu sao lại thấy buồn nôn.

“Thẩm nương [4] sợ nàng ngại nên bảo ta sang đón, thực ra chung phòng mãi cũng quen, chỉ là mai này nên xưng hô thế nào đúng thật là khó, dẫu sao cũng không thể gọi chị…”

“Cút!” Thúy Nhi nghiêm giọng quát to, nàng đã ra đến cửa, tiện tay vớ lấy cây kích sau cửa lên.

Phương Hiệu thấy không hay, bèn cười ha ha vừa bước ra ngoài vừa nói: “Vậy đợi thêm vài ngày nữa, đợi thêm vài ngày nữa…” Ra ngoài liền chuồn ngay về hậu viện mà tim cứ đập thình thịch lên, “Có phải gấp quá rồi không…”

Thúy Nhi khóc thật là lâu, trút hết nỗi khổ trong lòng với chiếc đèn cho đến khi cạn dầu mới nằm xuống ngủ. Ngày tiếp theo Thúy Nhi không bao giờ nhìn thẳng mặt Phương lão nương hay Phương Hiệu, cũng không chủ động nói chuyện với họ, nếu có gì bắt buộc phải nói đều bảo con trai Xuân Sinh chuyển lời. Một buổi trưa tròn một tháng sau, Thúy Nhi đang ở nhà chính cắt may y phục thì nghe Xuân Sinh nhốn nha nhốn nhao trong sân gọi cậu cả, cùng lúc đó anh cả nhà mẹ đẻ nàng đã vào nhà.

“Thúy Nhi bận gì vậy?” Anh cả nhà họ Khương mở gói bánh thủy tinh ra cho Xuân Sinh, Tú Cô và Thu Thương mỗi đứa một cái rồi xua chúng ra sân ăn.

Thúy Nhi dừng tay lại nói: “Đại ca, nếu anh đến cũng vì chuyện đó thì nhân lúc còn sớm khỏi nói nữa đi.”

“Có chuyện gì mà nói, anh tới chơi không được à?”

“Không việc không đến điện tam bảo, bình thường sợ bị em liên lụy, người chả thấy bóng dáng đâu, bây giờ chạy lạch bạch sang đây không phải vì nói giúp người ta để vứt cái bao tải là em đi à. Nếu anh cũng giống mấy lão già sắp xuống lỗ tới nơi đó tính khuyên em cam chịu thì bây giờ em nói cho anh biết, Khương Thúy Nhi em uống nước lã nuốt quả cân cũng một lòng ở góa.”

“Ôi chao, em như này…”

Anh cả nhà họ Khương vừa mở miệng đã bị Thúy Nhi ngắt lời: “Nếu anh đã tới thì giúp em chuyển mấy lời, bảo thằng nhãi Phương Hiệu nhân lúc còn sớm mà qua sông đốt thuyền, cắt đứt ý niệm lên trời hái trăng đi, còn dám có ý với lão nương bà đây thiến hắn!” Vừa nói, Thúy Nhi vừa cầm cây kéo trên tay hung hăng xoèn xoẹt minh họa hai cái cho cậu cả xem.

“Ôi chao em gái à, nói thế là thế nào, em cũng có phải bà lão bảy tám chục tuổi đâu, mới ba mươi thôi mà, ngày sau còn dài.”

“Ngày tháng còn dài bà đây lấy chén đậu vàng đổ đầy ra đất rồi nhặt lên từng hạt một, nhặt xong lại đổ ra nhặt tiếp, còn nếu không tin, xem Khương Thúy Nhi này rời khỏi đàn ông nhà họ Khương có sống nổi không.”

“Aiz… Em gái, anh hỏi em một câu không nên hỏi nhé, là em không muốn tái giá… Hay là không ưng Phương Hiệu? Hay là đã chịu người đàn ông khác? Anh nghe nói…”

“Phương đại đầu!” Thúy Nhi hét biệt danh của anh mình lên, “Chồng tôi chết rồi thì ăn của nhà họ Khương hay uống của nhà họ Khương? Người khác xem thường tôi thì thôi, sao anh cũng bẩn thỉu như họ vậy?” Sau đó bưng mặt mà khóc.

“Được rồi được rồi, em gái ơi, anh trai hiểu ý em rồi, cứ xem như anh đánh rắm, sau này không nhắc tới nữa…”

Tính ra thì anh cả nhà họ Khương đã là người thứ năm khuyên Thúy Nhi tái giá với Phương Hiệu, trước đó là bác cả của Xuân Sinh, bác tư họ nội, bà cô tổ, bà nội cậu của Phương Hiệu đều từng đến nói giúp, tất cả đều bị Thúy Nhi bật lại không có ngoại lệ nào. Sau này có tin đồn truyền ra, rằng thực tế sau khi Phương Đôn chết chưa được bao lâu, Phượng Hiệu đã lên giường ăn nằm với Thúy Nhi, Phương gia thấy không giấu nổi nữa mới tính đường cho đám cưới xoay phòng. Lại có tin đồn rằng Thúy Nhi vừa gả sang đây thì đã dan dan díu díu với Phương Hiệu, bằng không Phương Hiệu mất vợ đã bao nhiêu năm rồi mà vẫn chưa tục huyền trong khi hắn mới hai mươi mấy tuổi. Mà đồn nhiều nhất chính là Thúy Nhi muốn lấy chưởng quỹ cửa hàng tơ lụa của Thất Lý Trang đang muốn tục huyền nhưng nhà họ Phương không đồng ý, bọn họ muốn Thúy Nhi tục huyền cho Phương Hiệu nhưng Thúy Nhi không bằng lòng.

Lúc Phương Đôn còn sống, Thúy Nhi cũng thường đến cửa hàng tơ lụa của Thất Lý Trang nhưng không có quan hệ gì với chưởng quỹ ở đó, nàng đến chỉ đơn thuần vì muốn chọn chất liệu vải may thọ y cho khách, hơn nữa lần nào cũng đi cùng với chủ nhà người ta. Thọ y của người chết có kiểu dáng và cách phối khác với quần áo của người sống, trừ Bạch chấp sự và thợ may ra, người bình thường thật sự không hiểu được, hơn nữa chất liệu thọ y còn phải chọn loại trắng thuần, điểm chính yếu cũng đòi kiểu dáng làm xong không thừa không thiếu, bởi thế mua chất liệu thường phải mời cả người thợ cắt may đến đo đạc. Mẹ ruột Thúy Nhi biết cắt biết may, là một người làm thọ y có nghề, Thúy Nhi từ nhỏ đã theo mẹ học hỏi, sau mấy năm đã có thể một mình làm việc giúp người ta rồi. Thúy Nhi cũng không phải chỉ đến mỗi mình Thất Lý Trang mà còn đi các cửa hàng tơ lụa khác, hơn nữa đi cửa hàng nào thực ra cũng là do khách hàng quyết định, chẳng qua Thất Lý Trang có đủ chất liệu nên đến nhiều lần hơn thôi.

Sau khi trời vào thu, tin đồn người quả phụ xinh đẹp Khương Thúy Nhi bùng nổ trong trong trấn Quách Đỗ mà không điềm báo trước, nhất thời đầu làng cuối xóm đều buôn mãi chuyện này, mà bàn tay thao túng sau lưng chính là cụ bà Ma.

(3)

Bà Ma là người trại Địch, được gả cho Ma lão đại của trấn Quách Đỗ ngót nghét bốn chục năm nay. Trong những năm này số lượng cặp đôi được hai người tác hợp không dưới ba chục. Năm kia Ma lão đại mừng đại thọ sáu mươi, Thúy Nhi còn làm thọ y cho, bà Ma cũng rất vui mừng. Năm nay đến lượt bà qua sinh nhật sáu mươi tuổi cũng giao thọ y của mình cho Thúy Nhi may, ngày thứ ba sau khi thọ y làm xong thì Thúy Nhi tái giá, ai nấy đều cho rằng là cái miệng của bà Ma lợi hại, nhưng thực ra chuyện là có nguyên nhân, chỉ là người ngoài không biết.

Bà Ma có cái mồm rộng nói dài nói dai tới khi nói dại mà nói không kìm được, lúc làm thọ y, hễ không có chuyện gì làm là bà ta lại chạy đến trước mặt Thúy Nhi vừa xem và huyên thuyên không dứt, toàn là mấy chuyện ngói đằng đông dài tường đằng tây ngắn. Thúy Nhi nghe những người bà ta nhắc tới đều là chuyện của người góa vợ liền hiểu ý của bà Ma, thế là từ chối thẳng. Bà Ma cũng là người sảng khoái, không vòng vo quanh co nữa, bảo trước đây nghe nói Thúy Nhi muốn thủ tiết nên không dám đề cập chính diện, nhắc người khác chỉ là muốn thăm dò ý của Thúy Nhi thôi chứ thực ra bà ta muốn nói đến người anh em cô cậu ở trại Địch của mình.

Trong lúc dông dài, bà Ma và Thúy Nhi đã thổ lộ rất nhiều tâm sự, bà ta nói Thúy Nhi biết trong số những người được bà xây cầu bắt lối cũng không thiếu gì quả phụ, thực ra bà biết phụ nữ tái giá cũng giống như mùa màng cuối thu, chẳng gốc nào giống với gốc nào, càng thua xa việc ở lại với đứa con hiếu thuận. Hơn nữa sau khi nói ra miệng rồi bà Ma lại kể rất nhiều chuyện về người anh họ cô cậu của mình, Thúy Nhi vừa may vá vừa nghe kể chuyện phiếm.

Người anh họ cô cậu của bà Ma tên là Địch Quý Quý, tuổi tác cỡ tầm tầm Phương Đôn thì mất vợ, sau đó lẻ loi một mình. Quý Quý là một giống đa tình, tuy người vợ quá cố qua đời nhưng mãi vẫn không sao quên được, năm con trai thành thân cũng là năm mẫu thân của Quý Quý yên giấc nghìn thu, ông ta liền dựng hai gian nhà ở Tam Lý Phô lân cận mộ phần tổ tiên, nói ra bên ngoài là thủ hiếu cho mẹ nhưng kỳ thực phần lớn thời gian đều tự mình lẩm bẩm trước mộ vong thê.

Tam Lý Phô là một chốn đặc thù, cách trại Địch ba dặm, cách lối ra Tần Lĩnh cũng ba dặm. Bởi vì phong thủy tốt mà ở Tam Lý Phô ngoại trừ Quý Quý là người sống ra thì còn lại đều là chôn người chết. Từ khi Quý Quý ở đó, người vào núi vác gỗ thường đến chỗ ông ta để ký gửi lại gỗ, đến khi vác được gỗ ra khỏi núi mới thuê một chiếc xe bò kéo về đường phố Trường An mà tìm chủ mua. Có lần một người trẻ tuổi đang túng tiền vừa vác gỗ vừa lau nước mắt, Quý Quý tốt bụng bèn chiếu theo giá cả ở thành Trường An mà mua lại gỗ đó của chàng trai kia, nghĩ rằng sẽ sửa lại gia miếu ở gần mộ tổ. Sau đó chuyện này truyền đi rất nhanh, những người vác gỗ sau khi rời núi đến xin Quý Quý thu gỗ của mình càng lúc càng nhiều, giá cả bằng như bán ở chợ mà lại đỡ phí công đi, ai không vui chứ.

Sau này Quý Quý mua đủ rồi bèn không mua nữa, không ít người vác gỗ vẫn cương quyết bỏ lại chỗ ông ta, nói cho thiếu tiền trước hoặc chỉ gửi tạm gỗ ở đây. Chị làm giày em cũng có cái mang, gỗ ở Tam Lý Phô chất càng lúc càng nhiều còn đường phố Trường An càng lúc càng thiếu. Một tháng sau, một cửa hàng nội thất nhận được một đơn hàng lớn lại không gom đủ hàng trên chợ bèn thuê xe đến cửa núi ngồi chờ, kết quả là liếc mắt một cái, biết bao nhiêu hàng tốt toàn chất ngay chỗ Quý Quý, thế là cái nào tốt hốt cái đó kéo được một xe quay về. Vậy là cửa hàng gỗ ở phố chợ ít đi, giá cả cũng theo đó leo thang, Quý Quý căn cứ theo giá cả mà chàng trai kia nói năm xưa trả cho thương lái vác củi để lại vậy mà cũng dư được ít nhiều.

Thời tới muốn cản cũng không có kịp, có rất nhiều thương lái ra khỏi núi rồi không muốn đi Trường An nữa, thế nên đánh dấu trên thanh gỗ vứt đến chỗ Quý Quý rồi lại trở vào núi. Những nhà giàu cần dùng cũng thuê xe đến Tam Lý Phô mà kéo, tuy phải chạy một chuyến nhưng có thể một lần chọn đủ số lượng gỗ tốt, so với chở từng khúc từng khúc trên phố trước kia thì tiết kiệm được biết bao nhiêu thời gian. Quý Quý lại là người đôn hậu, không gian dối phỉnh phờ, thương lái và những nhà buôn vật liệu đều đặc biệt tin tưởng, cũng biết gã là người mới, cũng là hiếu tử, sẽ không dùng những thủ đoạn mà những tay buôn gỗ mặt trơ trán bóng quen dùng. Thế nên cửa hàng gỗ ấy càng làm càng lớn, sau đó nữa người khác thấy đường này có thể kiếm tiền liền góp vào một tay, nào là cửa hàng đồ gỗ, cửa hàng nội thất, cửa hiệu quan tài vân vân cần dùng đến vật liệu này đều mọc thẳng ở Tam Lý Phô. Những người thợ mộc hành nghề và đệ tử cũng chen chân vào, qua không được mấy năm, thị trường đồ gỗ ở Tam Lý Phô liền làm mưa làm gió ở ngoại ô nam Trường An, huyện lý vì vậy mà phái binh sĩ hằng tháng đến tuần tra thu thuế một lần.

Thoắt cái qua được mười năm, Quý Quý kiếm được không ít bạc ở Tam Lý Phô nhưng rốt vẫn không tục huyền. Người thì tốt, bà Ma lúc nào cũng nhớ chuyện tìm một người vợ cho. Lại bởi vì là anh họ mình, người bình thường vốn bà ta không để mắt, khó khăn lắm mới ưng được Thúy Nhi, nhưng Thúy Nhi lại nói không có tâm tư này. Sau đó thọ y may xong, lúc Thúy Nhi đưa sang cho bà Ma thì thình lình nói muốn xin bà Ma dẫn mối, nếu như Địch Quý Quý bằng lòng, nàng cũng muốn tái giá, chỉ cần một điều kiện thôi, nhất định phải nhanh, nàng không thể ở lại nhà họ Phương thêm một ngày nào nữa.

Đây chính là lời đồn về việc ba ngày sau Thúy Nhi tái giá, thực ra nguyên nhân của chuyện này phải nói từ chỗ bà Ma. Người khác tới nhờ Thúy Nhi may áo đều chỉ có một lần đưa vải tới, một lần cầm đồ đi, chứ bà Ma làm thọ y thì dăm ngày ba bữa tới một lần, lần nào tới cũng huyên thuyên không dứt. Phương lão nương biết cái miệng của bà Ma, chết cũng nói được thành sống, gầy cũng kể cho thành béo, siêng tới như vậy khó tránh ấp ủ âm mưu gì khác bèn vỗ vỗ cổ tay đứa cháu Phương Hiệu, bảo Phương Hiệu lưu tâm đừng để ngỗng quay chín rồi tuột mất.

Phương Hiệu bị ma xui quỷ khiến, đêm đó sau khi trời tối liền từ nhà mình lén lút trèo tường vào trốn trong tiền viện. Phương lão nương sớm đã dẫn mấy đứa nhỏ đi ngủ rồi, bình thường Thúy Nhi đều sẽ đốt đèn làm việc thêm một lúc. Phương Hiệu đợi đến khi Thúy Nhi đi nhà xí trước khi ngủ bèn lén lút lỉnh vào phòng, sột soạt cởi sạch trơn trốn vào ổ chăn. Sau khi Thúy Nhi về liền thổi tắt đèn cởi áo lên giường, chân mới duỗi vào chăn liền phát hiện ra trong kia có người. Thúy Nhi sợ suýt chết, còn chưa kịp định thần, Phương Hiệu trần như nhộng đã bổ nhào đến bịt miệng nàng lại toan cưỡng bức ép buộc, bức Thúy Nhi đến bước đường không thể lùi chân mà nhượng bộ. Thúy Nhi muốn kêu không được, muốn giãy không xong, trong lúc ẩu đả tay nàng chạm tới được chiếc kéo trong chiếc rổ tre đựng kim chỉ bèn thuận tay bắt lấy đâm loạn xạ vào người Phương Hiệu. Phương Hiệu đau quá theo bản năng lộn mình xuống giường, vừa mò xuống đùi liền thấy có máu tanh dính dớp, cùng lúc đó là tiếng mắng chửi “bà đây thiến mày” của Thúy Nhi. Phương Hiệu thấy chuyện bại lộ liền phóng nhanh ra khỏi cửa, quần áo không kịp cầm theo, khom mình bịt mông xông vào hậu viện. Tiếng động tạo ra trong lúc đó thực ra rất lớn, Thúy Nhi rõ ràng đã nghe thấy tiếng Phương lão nương gắng gượng kìm lại tiếng ho nhưng trước sau vẫn không thấy bà ta xuất hiện.

Một mình khóc suốt cả đêm, trời còn chưa sáng Thúy Nhi liền hạ quyết tâm phải rời khỏi nhà họ Phương bằng được.

Ban đầu Địch Quý Quý nghe nhắc chuyện tục huyền thì cật lực phản đối, sau khi người vợ quá cố qua đời gã hoàn toàn không nghĩ đến người đàn bà nào khác nữa, là bà Ma cưỡng ép kéo Quý Quý lên xe la, nói là chỉ gặp một lần, nếu cảm thấy không được thì sau này bà ta không lo chuyện ấy nữa. Ngày tiếp theo, Quý Quý và Thúy Nhi lần đầu gặp gỡ ở nhà của bà Ma, kết quả bướm nào mà chẳng say hoa, tâm đầu hợp ý tơ hồng nên duyên. Khi đó Thúy Nhi chỉ nói rằng hi vọng có thể lập tức rời khỏi Phương gia, nàng có chỗ khó của mình, chuyện khác đừng hỏi sâu thêm nữa.

Ngày đó Quý Quý về đến nhà mình ở trại Địch thì liền trang trí hỉ phòng, con trai là Địch Kim thấy cha mình đột nhiên muốn tục huyền vẫn rất phấn khởi, khổ sở bao nhiêu năm nay, có người ân cần chăm sóc chung quy vẫn là chuyện tốt. Nhưng sau một bữa cơm thằng Kim đổi ý, nói rằng phụ thân đã hơn bốn mươi tuổi rồi, chi bằng lo chăm sóc sức khỏe, nếu thực sự muốn tìm người làm ấm giường cho thì gã có thể về tìm một nha hoàn bồi giá nào thành thật, chớ nên tục huyền.

Thằng Kim trở mặt là bởi lúc chuẩn bị ăn cơm, vợ gã âm thầm tính toán, nói nghe cha chồng bảo quả phụ mà ông sắp tục huyền mới qua tuổi ba mươi, nếu mà sinh thêm đứa con trai nữa thì gia sản phải chia hai phần, mà sinh hai đứa con trai nữa thì gia sản lại phải chia ba phần. Người vợ này bảo tìm nha hoàn cho cha chồng vì con do nha hoàn sinh ra không được chia gia sản, sau này đuổi đi cũng không ai để ý. Nhưng nếu như tục huyền thì người đó sẽ thành kế mẫu của thằng Kim, không chỉ có thể ghi tên vào gia phả mà con sinh ra chắc chắn phải trở thành anh em với thằng Kim, cho dù có kiện lên quan cũng được chia một phần gia sản.

Đương lúc thằng Kim còn đang nghĩ cách thuyết phục cha mình thì Quý Quý bởi vợ mất sớm mà cực kỳ yêu thương con trai đã trở mặt mắng con, nói dưới gầm trời này ông đây lấy vợ khi nào đến phiên đứa làm con được quản, nhà họ Địch vẫn do ông làm chủ, thằng nhãi này nếu không vừa ý cứ dọn về nhà cũ đi. Cứ thế, Thúy Nhi còn chưa vào nhà họ Địch thì đã nảy sinh khúc mắc với vợ chồng thằng Kim, chẳng qua cái này để sau hẵng nói.

Ngày tiếp theo ông ta thuê một cái kiệu rồi đến trấn Quách Đỗ đón người, mãi đến khi Thúy Nhi lên kiệu ở miếu Quan Đế, những kẻ lắm lời hỏi nhau, khi ấy mọi người mới biết nàng quả phụ xinh đẹp Khương Thúy Nhi tái giá, mà người nhà họ Phương muộn hơn một chút mới biết được chuyện này từ miệng người đi đường. Thúy Nhi rời khỏi nhà họ Phương vốn không chào hỏi gì Phương lão nương, chỉ thu dọn đơn giản hai bộ y phục, nói với Xuân Sinh và Thu Nương mình có chuyện sang nhà cậu ở mấy ngày, đến khi ổn thỏa sẽ đến đây đón hai đứa.

Lúc ấy Xuân Sinh mười tuổi, Tú Cô mười một tuổi, Thu Nương mới vừa bảy tuổi; về sau Thúy Nhi đạp gót về nhà họ Phương thì đã suýt soát bốn mươi năm sau rồi.

(4)

Ba ngày sau, Thúy Nhi xách túi lớn túi nhỏ đến thăm con của mình, kết quả là không vào được cửa nhà họ Phương. Phương lão nương gọi hai đứa cháu trong họ ra chắn cửa không cho vô nhà, còn nói với những người đi đường tụ lại xem trò rằng: “Từ xưa quả phụ tái giá đều phải được nhà chồng đồng ý, lão thái thái ta còn chưa chết mà cô đã tự mình quyết định, báo lên quan thì là cô bất hiếu.”

Thúy Nhi hoàn toàn không để ý đến Phương lão nương, chỉ nói: “Tôi chỉ đến thăm Xuân Sinh với Thu Nương, không phải đến gặp người khác.”

“Lúc cô tự tìm tới trai sao không nghĩ đến trong nhà còn hai đứa con nhỏ đi, bây giờ chúng nó đều xem như mẹ nó chết rồi, chỉ cần bà mụ già này còn một hơi thở, cô đừng hòng bước qua cửa nhà họ Phương!”

“Tại sao tôi lại bị ép phải rời nhà họ Phương, người làm mẹ chồng như bà tự mình biết rõ.”

“Mụ già này chỉ biết nhà họ Phương số khổ, cháu trai cháu gái chịu cảnh cha chết mẹ đi lấy chồng, nếu có ngày nào ta đây không còn hơi thở thì cháu ta chết đói.”

“Vậy chúng ta đi báo quan, để huyện thái gia quyết định chuyện này, chỉ cần vương pháp nói Khương Thúy Nhi tôi bất hiếu, không được gặp con, vậy tôi xin nhận, nhưng chuyện này không đến phiên bà nói. Nhà họ Phương có thể tố cáo tôi đả thương người khác, chúng ta đến trước mặt huyện thái gia kể lại vết thương ở đũng quần của thằng nhãi Phương Hiệu đó, kể lại chuyện không biết xấu hổ mà nhà họ Phương gây ra nào.”

Mọi người vừa nghe đến tên Phương Hiệu, hơn nữa còn nghe nói cái gì đũng quần liền bắt đầu mồm năm miệng mười xì xào bàn tán, bắt đầu đơm đặt thổi gió chuyện nọ xọ chuyện kia.

Phương lão nương sau này đương nhiên biết chuyện ngu xuẩn mà Phương Hiệu đã làm, thấy Thúy Nhi trở mặt ngay trước mặt người ngoài liền có phần sốt ruột, vội hừ một câu: “Từ cổ thanh quan khó xử chuyện gia đình, ta cần gì phí lời với người ngoài như cô.” Sau đó bảo cháu mình đóng cửa cài then rồi bước vào nhà.

Thúy Nhi bất ngờ bị bỏ bên ngoài chưa biết tính sao, nước mắt rưng rưng không kìm lại được, bên cạnh còn có tên không có mắt nhìn đi hỏi Thúy Nhi chuyện Phương Hiệu là sao.

Trong đám người đột nhiên có một cánh tay vươn ra kéo Thúy Nhi ra ngoài, chính là bà Ma nghe tin chạy tới. Ở nhà bà vú Ma, nước mắt Thúy Nhi như hồng thủy trào ra cửa đập, ào ào tuôn xuống, đến khi khóc đủ rồi bà Ma mới an ủi nàng: “Ai cũng nói chó không chê chủ nghèo, con không hiềm mẹ xấu, con cái bao giờ cũng là con của mẹ, dưới gầm trời này không có đứa con nào không có mẹ hết, ắt hẳn là nhà họ Phương tức quá mới nhốt con lại không cho ra gặp cô thôi. Hơn nữa, con nó cũng cần có quá trình chấp nhận chuyện mẹ không còn ở bên mình nữa, chuyện càng gấp càng phải làm từ từ…” Bà Ma bảo Thúy Nhi có qua đây thì không cần sang nhà họ Phương, bà sẽ nghĩ cách gọi Xuân Sinh và Thu Nương tới, để Thúy Nhi nói rõ mọi chuyện với hai con.

Quý Quý xót cho Thúy Nhi, mấy ngày sau vừa giúp sức vừa sắp xếp không ít đồ ăn đồ chơi cho mấy đứa nhỏ, thuê xe đưa Thúy Nhi đến nhà bà Ma. Quý Quý còn nói với Thúy Nhi, nếu nhà họ Phương đồng ý, có thể đưa con về cho hai người họ nuôi, con vẫn mang họ Phương, hoặc để lại Xuân Sinh còn Thu Nương thì theo nàng đi cũng được, dù sao cũng mới bảy tuổi.

Bà Ma đuổi cháu ra rồi đi tìm Xuân Sinh, còn cố tình dặn dò cháu mình không được tự đi mà bảo Tiểu Đậu Tử cùng chơi với thằng bé sang gọi. Tiểu Đậu Tử ăn đường nhân mà cháu của nhà họ Ma cho, nói với Xuân Sinh rằng người thổi đường nhân tới đây rồi bảo cùng đi xem với nhau. Thế là Xuân Sinh, Tú Cô và Thu Nương nhân lúc Phương lão nương không để ý đã cùng chạy đến nhà của Ma lão đại gia. Sau khi vào nhà gặp được Thúy Nhi, Thu Nương ngẩn ra một lúc rồi chạy lại ôm chầm vừa khóc vừa gọi mẹ. Thu Nương vừa khóc, Thúy Nhi cũng khóc theo, còn Xuân Sinh lẳng lặng đứng bên cạnh cắn môi rơi nước mắt.

Thúy Nhi kéo thằng bé đến trước mặt mình rồi ôm chầm lấy, Xuân Sinh bấy giờ mới nghẹn ngào nói: “Bà nội nói mẹ lăng loàn [5], không cần chúng con nữa, mẹ chạy theo người đàn ông khác rồi.”

Thúy Nhi nghe đến đây thì khóc càng dữ dội hơn, nức nở thở hổn hển nói: “Sao mẹ lại không cần các con… Các con là tim gan máu thịt của mẹ, chỉ là… Nhà họ Phương không chứa mẹ nữa, mẹ thực sự sống không nổi nữa…”

“Vậy mẹ ở đâu, ở nhà cậu ạ? Mẹ dẫn con với Thu Nương đi đi, còn cả Tú Cô nữa.” Xuân Sinh đảo mắt nhìn nhưng lại không trông thấy Tú Cô. Nó xắn ống tay áo lên chỉ cho Thúy Nhi xem mấy chỗ bầm tím trên da thịt: “Là bà nội nhéo, bà còn lấy chổi với vật cứng đánh vào mông con, chê con không biết nghe lời. Mẹ dẫn chúng con đi đi, chúng con nghe lời, đừng bỏ mặc chúng con.”

Nước mắt Thúy Nhi lã chã rơi không kìm lại được, nàng xoa lên cánh tay bầm tím của Xuân Sinh: “Mẹ đến đây… Là nghĩ cách… dẫn các con đi…”

Còn chưa kịp nói xong thì đã có ba người khí thế hung hăng xông vào nhà, là Phương Hiệu dẫn theo hai đứa em trong họ. Hai người kia không nói một lời, người này cướp lấy Xuân Sinh người kia túm lấy Thu Nương rồi xông thẳng ra ngoài, mặc cho hai đứa nhỏ gọi mẹ đến khản cổ.

Khi bà Ma và Thúy Nhi kịp có phản ứng, bọn họ đã ra đến sân rồi, Thúy Nhi đang muốn đuổi theo ra ngoài thì bị Phương Hiệu dang hai tay cản lại trong nhà, mặt mày dữ tợn nói: “Hay cho Khương Thúy Nhi, cô nghĩ hay ho gớm, đã bỏ nhà theo trai thì thôi, bây giờ còn định dẫn theo mạng sống của Phương Đôn đi nữa, cô tưởng đàn ông nhà họ Phương chết hết hay gì? Phương Đôn trên trời có thiêng nhất định giáng sấm giết chết cô.” Sau đó hắn đẩy ngã Thúy Nhi, lúc sắp ra khỏi cửa còn hung hăng nói với bà Ma: “Đồ heo chó, sớm muộn gì bà cũng chết bất đắc kì tử ngoài đường cho coi, không sợ bị kéo lưỡi xuống địa ngục à.”

Nghe tiếng khóc của Thu Nương càng lúc càng xa, Thúy Nhi thấy lòng vỡ vụn, ngồi bệt ra đất mà khóc. Bà Ma cũng than vắn thở dài, người trải lắm sự đời như bà giờ này phút này cũng không biết phải làm sao mới an ủi được Thúy Nhi.

Đám người Phương Hiệu là do Phương lão nương sai đến cướp người, Phương lão nương biết Thúy Nhi đến là thông qua miệng của Tú Cô.

Tú Cô vào đến nhà bà Ma trông thấy Thúy Nhi thì xoay đầu trở ra, con bé không thích Thúy Nhi, thậm chí còn hơi hận nàng nữa. Từ nhỏ Tú Cô đã biết mình được dẫn về đây, cũng biết lớn lên rồi phải làm vợ của Xuân Sinh, mà Thúy Nhi chính là mẹ chồng của cô bé, thế nên từ nhỏ cô bé đã theo Thúy Nhi học việc. Chẳng qua Tú Cô này thực sự thô lậu ngốc nghếch, làm gì cũng chậm, Thúy Nhi dạy con bé thêu thùa cơm nước mà con bé học cái gì cũng rề rà, còn làm không nên thân, khó tránh bị người khéo léo như Thúy Nhi thường chê mấy câu không được tháo vát. Bởi thế Tú Cô càng lớn càng không muốn thấy mặt Thúy Nhi, hơn nữa lúc Thúy Nhi bỏ đi đã khiến cho rất nhiều việc nhà việc cửa dồn hết lên người cô bé, càng làm gia tăng cảm giác thù hằn Thúy Nhi của Tú Cô. Sau khi Thúy Nhi đi, Phương lão nương liền ở sau lưng xúi bẩy, thế là Tú Cô hoàn toàn đứng về phía nhà họ Phương, thế nên vừa rồi trông thấy Thúy Nhi ở nhà Ma lão đại gia, Tú Cô liền lập tức chạy về báo cho Phương lão nương hay.

Về sau Thúy Nhi mà có đến trấn Quách Đỗ, bà Ma cũng không có cách gì gọi được Xuân Sinh và Thu Nương đến, Phương lão nương ngày nào cũng canh chừng hai đứa nhỏ chỉ trừ mỗi lúc nấu cơm. Trên dưới người nhà họ Phương đều đề phòng Thúy Nhi, tất cả mọi người đều nhồi nhét vào đầu Xuân Sinh và Thu Nương cái lẽ: Mẹ mày chạy theo người khác rồi, không cần hai đứa bây nữa.

Miệng nói xói vành, ba người thành hổ, Xuân Sinh và Thu Nương nghe nhiều cũng bắt đầu tin, bởi vì không tin sẽ bị ăn đánh. Hễ Thu Nương quậy lên đòi tìm mẹ, Phương lão nương sẽ không nghe phân trần cứ lấy chổi cứng mà đập, đánh nhiều rồi, Thu Nương tự động hình thành phản xạ cứ đòi tìm mẹ chính là đòi bị đánh. Dẫu sao Xuân Sinh cũng lớn hơn một chút, đòn đau nhớ đời, thêm nữa Tú Cô cứ ở bên cạnh nói giúp cho Phương lão nương, chẳng bao lâu sau tình yêu của Xuân Sinh và Thu Nương dành cho mẹ mình đã biến thành thù hận.

Thúy Nhi đến nhà bà Ma mấy lần mà không gặp được con, hễ có thằng bé nào đến tìm Xuân Sinh thì Phương lão nương cũng phải xem đó là ai, bà mà bận thì bảo con trẻ chơi trong nhà, rảnh rỗi thì khâu đế giày, không rời mắt khỏi bọn trẻ một chút.

Ba bốn tháng Thúy Nhi phải chạy không mấy lần, ngày đó trời đã vào đông, nàng cầm theo mấy chiếc áo bông mới làm cho con, lúc đi qua cửa hàng dầu muối trên đường thì trông thấy Xuân Sinh châm nước tương xong bước ra. Thúy Nhi gọi rất nhiều lần, Xuân Sinh mới chú ý đến người quấn khăn quanh đầu gọi mình chính là mẹ.

Thúy Nhi kéo chiếc ăn trùm đầu che nửa gương mặt mình ra, khổ sở cười ra nước mắt. Nàng vừa muốn vươn tay toan chạm lên người Xuân Sinh đã cao nửa người, kết quả là Xuân Sinh lùi về sau trốn, cảnh giác nhìn xung quanh, sau đó không lấy gì làm vui vẻ nói: “Bà… Mẹ, mẹ vẫn nên đi mau đi, xin mẹ đấy, đừng để ai trông thấy, bằng không con với Thu Nương lại bị ăn đòn…” Nói xong bèn nhấc bình nước tương chạy liền một mạch.

Thúy Nhi thấy như họng bị mắc xương cá, lưng bị cái gai đâm, thừ người tại chỗ nửa ngày, tai ù lên dữ dội, tưởng như trời đất quay cuồng rồi ngã nhào ra đất. Lúc tỉnh dậy ở nhà bà Ma thì đã là nửa ngày sau, bà Ma bưng đến chén cháo nóng cho nàng, nói mình sẽ không bao giờ làm mai cho ai nữa, cũng khuyên Thúy Nhi nên nghĩ thoáng ra. Con lớn rồi không nghe mẹ nữa, bớt nhớ thương lại chắc hai đứa nó cũng bớt khổ hơn, Phương lão thái thái dẫu sao cũng có ngày tạ thế, đến lúc đó con trai vẫn là con trai mình, con gái cũng là con gái mình… Lại tự lẩm bẩm với mình rằng lúa mì trên ruộng nhà mình bị ai đó rắc cỏ khô phóng hỏa san thành bình địa, Ma lão đại bị người ta đánh gãy một chân ở chỗ tối, con trai chạy đi báo quan, ngốn không ít tiền vào đó nhưng đến nay vẫn không có tin gì…

Sau này Thúy Nhi cũng từng gặp Thu Nương, anh cả nhà họ Khương chịu không nổi Thúy Nhi cứ lải nhải liền đến nhà họ Phương đón Thu Nương đến nhà mình, vốn tưởng ở mấy ngày, ai ngờ hôm đó Thu Nương quậy lên đòi về. Đứa con vừa gặp Thúy Nhi liền khóc, gào lên bảo Thúy Nhi tránh xa ra một chút, con bé đã bị đánh đến khiếp sợ từ lâu, với cô bé, mẹ đã biến thành một nỗi sợ khủng khiếp. Đằng khác, Phương lão nương cũng mắng cho anh cả nhà họ Khương một trận, từ đó cắt đứt quan hệ giữa hai đứa nhỏ với cậu mình.

Quý Quý thường an ủi Thúy Nhi, nói con dẫu sao cũng có ngày trưởng thành tự biết phán đoán sự việc, lúc đó nhà họ Phương có làm chuyện bẩn thỉu gì cũng có thể nói với chúng nó, chúng nó sẽ hiểu được khổ tâm của người mẹ khi xưa. Lòng người làm bằng máu thịt, thời gian lâu dần Thúy Nhi càng lúc càng ít đến trấn Quách Đỗ hơn, lòng cũng nguội đi rồi, không nhiệt tình với chuyện gì nữa. Mà chuyện này còn một nguyên nhân khác ở phía sau, Thúy Nhi sống ở nhà họ Địch cũng không vui vẻ gì, thực ra cũng không phải Quý Quý không tốt, chủ yếu là Địch Kim với cô vợ không phải đèn cạn dầu.

Sau khi được gả đến đây, Thúy Nhi vẫn luôn ở nhà cũ của Địch gia, ban ngày Quý Quý đến Tam Lý Phô, đêm đến lại về nhà. Ban ngày Thúy Nhi ở nhà may vá, nhà cũ trừ nàng ra còn có thằng Kim và cô vợ và cô con gái chưa được ba tuổi, nhưng lúc Quý Quý không có ở đây, vợ thằng Kim hoàn toàn xem người không lớn hơn mình mấy tuổi nhưng xinh đẹp hơn mình nhiều là Thúy Nhi là di nương. Hai người cơm không ăn chung nồi, chuyện không nói với nhau một câu, không ngó ngàng gì nhau cả, vợ thằng Kim cũng không cho con gái chơi với bà nội kế, chỉ cần con gái làm chuyện gì không hợp với ý mình, cô ta liền rống cổ lên mắng, đằng này mắng một câu hồ ly tinh, đằng kia mắng một câu đồ sao chổi, ngoài mặt là mắng con gái nhưng bên trong toàn là chửi chó mắng mèo muốn nói tới Thúy Nhi.

Làm sao Thúy Nhi nghe không hiểu chứ? Nhưng không thể nói cho Quý Quý nghe được, bởi vì lúc Quý Quý có ở đây, thằng Kim và cô vợ đều vô cùng hiếu thảo, có nói gì cũng chỉ chứng minh mình nhiễu sự thôi. Đến tháng Chạp, Thúy Nhi thực sự chịu không nổi nữa, bèn thu dọn đồ đạc dọn đến xưởng gỗ ở Tam Lý Phô.

Quý Quý hiềm nơi này quá đơn sơ, nói đợi khai xuân sẽ xây thêm mấy gian phòng nữa, đến lúc ấy Thúy Nhi hẵng dọn tới. Nhưng Thúy Nhi cản lại, nàng không nhắc đến chuyện phiền lòng ở nhà cũ, chỉ nói Quý Quý ở đâu thì nàng ở đó, lấy chồng chứ không lấy nhà.

Quý Quý thấy Thúy Nhi ở đây thì quá mức nhàn rỗi, bèn tìm chút việc may thọ y ở chỗ thợ mộc Phan của tiệm quan tài gần đó thường đến chọn chỗ ông ta chọn gỗ cho nàng làm. Tam Lý Phô đông người lại náo nhiệt, có chút chuyện làm giết thời gian, cuộc sống của Thúy Nhi cũng coi như bắt đầu yên ổn.

Thoắt cái đã ba bốn năm, số lần Thúy Nhi đến trấn Quách Đỗ càng ngày càng ít, cũng không phải nàng không nhớ con mà là đi chỉ hoài công, hoàn toàn không gặp được. Lần cuối cùng gặp được Xuân Sinh chính là ở miếu Quan Đế trong trấn Quách Đỗ, ngày đó Xuân Sinh đã mãn tướng nhưng hai mẹ con không nói gì với nhau. Phàm là những đứa trẻ sinh ra mà khó nuôi đều phải đến chỗ Quan lão gia dằn một tấm bùa báo danh, đến năm mười hai tuổi mãn tướng mới rút ra, còn phải nguyện hôm đó đến miếu bố thí chút nhang đèn trà bánh. Ban đầu Thúy Nhi và Phương Đôn ẵm Xuân Sinh đi, đương nhiên còn nhớ việc này, ngày đó mới sáng sớm nàng đã mang theo đồ đến miếu Quan Đế, trả lễ xong thì lẳng lặng trốn sau gốc cây bên miếu chờ. Sau đó thì thấy Xuân Sinh đỡ Phương lão nương vào, khi chuyện làm sắp xong, Thúy Nhiên liền xin một tiểu đạo đồng gọi Xuân Sinh đến dưới gốc cây, kết quả Xuân Sinh lúc này đã cao hơn Thúy Nhi một cái đầu trông thấy Thúy Nhi thì mặt không cảm xúc, không nói câu nào lập tức ngoảnh mặt bỏ đi. Thúy Nhi tần ngần nhìn Xuân Sinh đỡ Phương lão nương rời khỏi miếu, trái tim đập trong ngực nàng rỗng không, về sau không đến trấn Quách Đỗ nữa.

Sau này, nghe nói Xuân Sinh và Tú Cô đã viên phòng, Thúy Nhi nhẩm tính mấy phen, năm đó Xuân Sinh mới mười bốn tuổi mụ.

Sau đó, nghe nói Tú Cô có thai, Thúy Nhi nghĩ ngợi lâu thật lâu xong vẫn làm mấy bộ quần áo giày vớ trẻ con gửi cho Xuân Sinh, kết quả vòng tới vòng lui quần áo vẫn bị trả về tay nàng.

Sau đó, nghe nói Xuân Sinh sinh được con trai, tên Phương Thân, hơn nữa Thu Nương cũng đính hôn rồi, phu tế là một gia đình đôn hậu.

Sau đó, nghe nói Xuân Sinh lại có đứa con trai, tên Phương Kinh, hơn nữa Thu Nương cũng đã làm mẹ.

Sau đó là không có sau đó nữa, sau khi bà Ma vừa qua đời thì không ai kể chuyện ở trấn Quách Đỗ cho Thúy Nhi biết nữa.

Thúy Nhi và Quý Quý đã sống với nhau được mười hai năm, vốn tưởng đâu cuộc đời cứ bình đạm trôi qua như thế, song Thúy Nhi lại rơi vào một biển khổ tiếp theo – Địch Quý Quý chết.

Quý Quý chết già, năm mươi lăm tuổi không thể coi là thọ nhưng cũng không phải là đoản mệnh. Nhưng con trai Quý Quý là Địch Kim hoặc cũng có thể nói là vợ của thằng Kim lại không cho là vậy, ả ta cho rằng Thúy Nhi bị hồ ly ốp mà hút cạn sinh lực và tinh huyết của cha chồng mới dẫn đến cha chồng chết sớm – Quý Quý vừa chết, việc làm ăn của xưởng gỗ cũng không ai coi sóc nữa. Thế nên sau khi qua được thất đầu của Quý Quý, Thúy Nhi bị đuổi khỏi xưởng gỗ, anh vợ của thằng Kim cho phép Thúy Nhi thu dọn đồ đạc đi còn tỏ ý bằng lòng thuê giúp chiếc xe lừa, bây giờ sẽ do anh ta thay thằng Kim quản lý xưởng gỗ này.

Sở dĩ thằng Kim còn cho Thúy Nhi được thể diện đó là có hai lý do: Một là mấy năm nay cuối cùng Thúy Nhi cũng không sinh được đứa em nào chia gia sản với gã, hai là Tam Lý Phô là chốn làm ăn, lúc Quý Quý còn sống cũng khá được lòng người, không thể vì chuyện này mà vấy bẩn thanh danh được.

Thúy Nhi không dùng xe lừa, chỉ dọn quần áo vào mấy tay nải, đồ của Quý Quý đại để đều để lại Địch gia – Đương nhiên cũng không cho nàng mang ra ngoài.

Tối đêm đó, Thúy Nhi ở lại tiệm quan tài Phan Ký.

(5)

Việc kinh doanh của tiệm quan tài không bằng nghề nghiệp khác mà nhất định phải mở ở khu vực sầm uất mới gây dựng được chỗ đứng, bình thường vẫn luôn lánh ở hang cùng ngõ hẻm cực kỳ yên tĩnh hoặc hang cùng hẻm cụt đợi khách hàng ghé thăm. Khách hàng đến cũng ít khi chào hỏi kiểu lâu rồi không gặp, nhà chết mấy người rồi, tặng cái này cho tiểu thiếu gia chơi nhé, thường tới chơi nha vân vân mây mây… Những câu chào mời mà cửa hiệu thông thường thích nói thường thì cửa hiệu quan tài không nói, toàn do khách hàng tự chọn tự lựa, hỏi được tới nơi rồi người mua mới nói mấy câu.

Cửa hiệu quan tài Phan Ký là hàng kinh doanh của thợ mộc Phan, lúc thợ mộc Phan còn nhỏ, việc gì liên quan đến gỗ ông ta cũng làm, nhưng ông có một người sư phụ sống vô cùng thọ, rất nhiều khách hàng đều để mắt đến may mắn này mà đến đặt quan tài thọ cho các cụ nhà mình. Tiểu Phan theo sư phụ làm vô số quan tài, thời gian lâu dần tay nghề làm quan tài cũng tốt hơn những cửa hàng khác. Sau khi sư phụ tạ thế năm chín mươi sáu tuổi, cuối cùng Tiểu Phan cũng đã lớn thành lão Phan, không chỉ tiếp nhận khách hàng cũ của sư phụ mà còn xây được một cái sân nhỏ ở cạnh chùa Mộc Tháp, thu nhận hai người đồ đệ là Đại Trụ và Thiết Đản, treo bảng hiệu “Tiệm quan tài Phan Ký” chuyên kinh doanh quan tài.

Chùa Mộc Tháp sau khi gặp họa binh đao thì hương hỏa hiếm hoi, hòa thượng trong chùa lay lắt qua ngày bằng cách tiếp nhận rất nhiều cơm cúng ma đói lúc đưa tang người chết, quan tài cũng nhờ thế mà ăn nên làm ra. Sau khi chợ đồ gỗ ở Tam Lý Phô nổi lên, lão Phan dẫn đồ đệ dọn đến Tam Lý Phô, bên này tiện lấy nguyên liệu, chỗ cũng rộng rãi, mỗi lần làm được kha khá cỗ quan tài liền cho xe kéo về chùa Mộc Tháp cho đứa con không theo nghề làm mộc bán lại. Vì thường đến xưởng gỗ của Quý Quý chọn vật liệu mà lão Phan rất thân với Quý Quý. Sau khi Thúy Nhi đến, lão Phan biết nàng biết may thọ y, bèn cắt đủ loại vải may từ quý đến tiện, bảo Thúy Nhi căn cứ theo các kiểu ba, năm, bảy cổ áo mà may, bán chung với quan tài.

Người chết được đưa vào chùa đại đa số thường là chết bất đắc kỳ tử, khổ chủ thường không chuẩn bị trước nhưng hễ mua quàn tài thì phải cần thọ y, hai thứ đi chung so với bán riêng mỗi món thì bớt chuyện đi nhiều, bởi vậy việc làm ăn của tiệm quan tài Phan Ký cũng phát đạt thêm. Có người chết không hết thì sẽ có quan tài làm mãi không xong, cũng sẽ có thọ y may hoài không dứt, Thúy Nhi không thiếu việc làm giết thời gian, hơn nữa còn có thể kiếm chút tiền công. Hồi Quý Quý còn sống thường bị lão Phan gọi đến cửa hiệu quan tài uống rượu, Thúy Nhi có rảnh cũng đi theo, mà có việc gì gấp thậm chí Thúy Nhi còn đến thẳng cửa hiệu quan tài mà làm. Cửa hiệu quan tài có một cái bàn bát tiên siêu rộng có thể cho mười sáu người ngồi, rất tiện để cắt vải may đồ, thế nên Thúy Nhi và cửa hiệu quan tài Phan Ký không xa lạ gì nhau. Trước khi Thúy Nhi rời khỏi xưởng gỗ thì đến cửa hiệu quan tài một chuyến, trên tay nàng còn việc đã nhận chỗ lão Phan, cũng phải bàn giao lại cho người ta.

Khi lão Phan biết Thúy Nhi không tài nào sống tiếp ở xưởng gỗ nữa liền bắt đầu oán giận Quý Quý: “Lão đệ này cũng thật là, sao lại không sắp xếp sẵn đường lùi cho cô chứ, nói đi là đi, ngược lại khiến cô rơi vào cảnh không chốn dung thân rồi. Thằng Kim này, thật quá bất nhân…” Thấy Thúy Nhi không nói không rằng, lão Phan lại hỏi tiếp: “Thế sao này cô sinh sống ở đâu? Để tôi kết toán hết tiền công cho cô nhé.” Nói xong liền mở tủ tiền ra.

Thúy Nhi lắc đầu khẽ nói: “Dọn khỏi xưởng gỗ cái đã, anh vợ của thằng Kim sắp vứt đồ đi rồi, đêm nay ở đâu còn chưa biết nữa, nhắc gì tới mai sau…”

Lão Phan xách một xâu tiền lên, đắn đo một lát rồi nói: “Nếu như thật sự không có chỗ nào để đi mà cũng không chê cửa hiệu quan tài ma quái thì cứ ở tạm đây trước đi, chuyện ngày sau để từ từ rồi tính, trời cũng về chiều, lát nữa tối bây giờ.”

Thúy Nhi quét mắt nhìn cái giường lớn trong nhà, đó là chỗ mà lão Phan và Đại Trụ, Thiết Đản nghỉ trưa, nàng biết ban đêm thợ mộc đều kiêng kỵ không ngủ trong cửa hiệu quan tài. Đằng kia căn phòng có bày ba cỗ quan tài đã làm xong, hai cỗ đen nhánh như dầu đen, cỗ còn lại rẻ hơn không dùng màu cây sơn đen. Thúy Nhi nhìn cỗ quan tài đen bóng đó mà nói: “Thế… Cảm ơn Phan chưởng quỹ, tôi còn gì mà phải kiêng kỵ nữa, chẳng phải công việc đang làm cũng là chào hỏi người đã khuất sao.”

“Nói cũng phải, chúng ta đều như nhau…” Lão Phan nhớ Quý Quý vừa mới mất bèn nuốt nửa câu sau “ăn cơm của người chết” lại, rồi trỏ vào bếp lò ở góc phòng, “Chỗ đó có bếp và nồi để đun nước uống trà, bào gỗ và gỗ hỏng trong sân đều có thể đốt được, cô đi mua chút dầu muối miến gạo về tạm, đến khi tìm được chỗ rồi tính tiếp.”

Lão Phan bảo Thiết Đản quét dọn sơ phòng ốc một lần, bảo Đại Trụ theo Thúy Nhi đến xưởng gỗ lấy mấy cái tay nải về đây, thu dọn xong thì trời đã tối, lão Phan và Đại Trụ, Thiết Đản ai về nhà nấy.

Thúy Nhi không tìm ra lối đi hay chốn dung thân nào khác, thực sự không biết còn có thể đi đâu. Không thể về nhà họ Phương được, cũng không thể về nhà họ Khương, lúc cha mẹ còn sống, chị dâu ở nhà mẹ đẻ đã không ưa nàng, cha mẹ vừa qua đời, quan hệ càng trở nên xa lạ.

Thúy Nhi cứ tiếp tục ở lại tiệm quan tài, ngày thường trừ lúc mua vật dụng sinh hoạt thì gần như không ra khỏi cửa sân. Tam Lý Phô đều là người làm công, cũng không có ai có khách vung tiền mời nàng đi đo đồ cắt may, chất liệu may thọ y không đủ nàng phải nói với lão Phan, ngày nào lão Phan ra vào cũng tiện thể đem theo vải về. Có việc, Thúy Nhi liền làm ở đó, mệt rồi thì vào sân xem lão Phan và Đại Trụ, Thiết Đản làm gỗ, tiền công đủ cho mình dùng, thế là cứ tiếp tục lay lắt thế thôi.

Tám năm sau có chuyện xảy ra, cuộc đời của Thúy Nhi lần thứ ba rơi vào bể khổ – Thợ mộc Phan đột tử.

Ngày xảy ra chuyện, chưởng quỹ của một hàng gỗ trong Tam Lý Phô mời tiệc mừng thọ, đều là dân trong nghề nên cũng mời thầy trò lão Phan. Trưa hôm đó, lão Phan dẫn theo đồ đệ đến tiệc mừng thọ, đến được một lúc lâu, ba người liền loạng choạng say sưa quay về, Đại Trụ và Thiết Đản mỗi người đỡ một bên sư phụ, lão Phan ăn uống hơi nhiều, đã bắt đầu choáng váng.

Đại Trụ và Thiết Đản đặt lão Phan lên giường cho nằm để tỉnh rượu, Thúy Nhi sợ ông ta bị cóng còn lấy cái chăn ấm đắp cho. Hai đồ đệ ngồi một lúc rồi về nhà, lúc sắp đi Đại Trụ còn bảo Thúy Nhi chờ sư phụ tỉnh rồi nói cho một tiếng, ngày mai hai người họ sẽ đến làm làm sớm một chút, hôm nay say quá, cầm đục cầm búa sợ không chính xác được.

Mãi đến khi trời tối, lão Phan không dứt được tiếng thở khò khè vang dội, Thúy Nhi hết cách liền thắp đèn dầu ngồi trên bàn bát tiên móc váy. Qua giờ Hợi (khoảng 11 giờ), Thúy Nhi hoa mắt đến nỗi nhìn không thấy được mũi chỉ đường kim mà lão Phan vẫn ngáy khò khò như cũ, Thúy Nhi gọi mấy lần cũng không có phản ứng. Lại đợi thêm một lúc, thực sự chịu không nổi nữa, Thúy Nhi liền cắt nhỏ bấc đèn, nhoài người lên bàn bát tiên bất tri bất giác thiếp đi.

Chắc vào khoảng giờ Dần (3 giờ sáng), lão Phan nằm trên giường dần dần tỉnh dậy, lờ mờ cảm thấy bên tai có người gọi mình: “Lão Phan, lão Phan, nên lên đường thôi.”

Thợ mộc Phan muốn mở mắt ra nhưng không mở nỗi, mí mắt cứ nặng trĩu xuống. Muốn chống tay lên giường ngồi dậy nhưng phát hiện tay mình không có sức, toàn thân mềm oặt, hệt như kiệt sức.

“Lão Phan, lão Phan, nên lên đường thôi.”

Gió lạnh se se bất ngờ thổi lên ngực lão, có người đi trên đỉnh đầu ông ta, tới tới lui lui, lại là chân trần, tiếng bước chân “lộp bộp lộp bộp” rõ ràng là tiếng phát ra khi bàn chân đạp lên giường rồi nhấc lên.

“Lão Phan, lão Phan, nên lên đường thôi.”

Thợ mộc Phan gắng sức siết chặt nắm tay, vẫn không siết được nhưng trong lúc gập ngón tay, một cái gai trên giường đâm vào khẽ móng tay ông ta, đau đến nỗi thợ mộc Phan mở bừng mắt dậy, tức thì ông ta lại nghe thấy: “Lão Phan, lão Phan, nên lên đường thôi.”

Đôi mắt mơ màng cảm nhận được ánh sáng yếu ớt, thợ mộc Phan mở mắt được một lúc mới thích nghi với bóng tối trong phòng, sau đó nhìn rõ người đi tới đi lui trên đầu ông ta chính là Địch Quý Quý.

Quý Quý thấy lão Phan nhìn mình chăm chăm thì cúi xuống đối diện lão Phan mà nói: “Lão Phan, lão Phan, nên lên đường thôi.”

Sau đó hình bóng của Quý Quý khe khẽ đung đưa, thợ mộc Phan ngồi dậy, nhìn thấy dưới ánh nến to bằng hạt đậu có người nằm bò trên bàn bát tiên, là Thúy Nhi. Đối diện Thúy Nhi còn có một bóng người phiêu đãng, đăm đắm nhìn Thúy Nhi qua chiếc bàn bát tiên. Đôi mắt mơ màng của thợ mộc Phan nhìn chằm chằm người đó, là dung mạo của một chàng trai trẻ, ông nhận không ra – Đương nhiên ông nhận không ra Phương Đôn rồi.

“Lão Phan, lão Phan, nên lên đường thôi.”

Chàng trai trẻ đó xoay người bay ra khỏi cửa, Quý Quý cũng bay ra theo, sau đó đóng cửa lại.

“Lão Phan, lão Phan, nên lên đường thôi.”

Thợ mộc Phan cảm thấy cơ thể mình nhẹ bẫng, lắc lư chao đảo cũng bay theo ra ngoài.

Thúy Nhi bị một tràng tiếng đập cửa làm cho giật mình tỉnh giấc, trời đã sáng bảnh, đèn dầu trên bàn cũng tắt ngấm từ lâu. Lúc ngồi dậy bà suýt nữa ngã nhào, mới hay bản thân mình đã nằm bò trên bàn ngủ cả đêm. Lúc vận động tay chân tê mỏi ra mở cửa, Thúy Nhi còn nhìn lão Phan vẫn đang ngủ ở bên giường một cái, chỉ là không còn tiếng thở khò khè nữa.

Ngoài cửa là Đại Trụ và Thiết Đản, thường ngày trời con chưa sáng Thúy Nhi đã dậy rồi, đến khi hai người tới thì cửa đã mở sẵn. Sau khi mở cửa, Thúy Nhi vẫn áy náy nói: “Hôm qua sư phụ của các cậu cứ nằm ngủ mãi đến giờ, sau khi trời tối vẫn chưa tỉnh lại, tôi may vá dưới đèn đến nửa đêm, thức không nổi nữa nằm nhoài ra bàn thiếp đi, kết quả mở mắt ra là trời đã sáng.”

Đại Trụ và Thiết Đản vào phòng thấy sư phụ còn nằm trên giường, tư thế hệt như lúc hôm qua đặt xuống. Thiết Đản gọi mấy tiếng mà sư phụ vẫn không đáp lời, liền duỗi tay lay cánh tay sư phụ, kết quả là vừa chạm vào người liền nhảy dựng lên giống như bị rắn cắn: “Lạnh, lạnh, lạnh rồi…”

Đại Trụ lầm rầm chửi một câu, giơ tay ra nhẹ nhàng sờ lên cánh tay sư phụ, quả nhiên lạnh toát. Sau đó liền thăm dò hơi thở, mới kinh hoàng nhìn Thiết Đản với Thúy Nhi: “Sư, sư phụ lão nhân gia… tạ thế rồi.”

Sau khi xác nhận sư phụ đã mất, Đại Trụ liền mau chóng đến nhà họ Phan báo tang, sinh tiền lão Phan đã chuẩn bị quan tài và thọ y cho mình, thọ y được để ở cửa hàng bên chùa Mộc Tháp làm hàng mẫu.

Thúy Nhi đốt lò hương, cùng Thiết Đản lẳng lặng trông chừng lão Phan, không biết con trai người ta tới thì nên xử lý thế nào, bởi vì lão Phan không chết trong nhà, theo tục lệ thi thể không thể đưa vào nhà được.

Thời gian một nén hương qua đi, Đại Trụ dẫn người của nhà họ Phan đến Tam Lý Phô, con trai lão Phan xác nhận cha mình tạ thế xong cũng mặc kệ cha mình mà trỏ vào mặt Thúy Nhi chửi mắng như người mất trí, chất vấn Thúy Nhi sao cha mình đang sống sờ sờ mà qua một đêm thì chết trên giường bà.

Thấy hành động của trượng phu, con dâu lão Phan cũng nhiệt tình bổ nhào về phía Thúy Nhi mà giật tóc cào mặt, nguyền rủa liên tục như pháo liên thanh.

“Loạn tiễn bắn chết đi…

“Bị giáo đâm chết đi…

“Xe cán ngựa giẫm đi…

“Nghìn người cưỡi vạn người ngủ chung…

“Nhọt trong cuống họng rữa ra như tương cho rồi…

“Dâm phụ…

“Đĩ điếm…

“Sao chổi….

Những lời chửi rủa độc ác hàng loạt phun ra.

Lúc Thúy Nhi lùi đến cỗ quan tài sơn đen đầu tiên trong phòng thì không còn đường nào lui nữa, bị con dâu lão Phan đẩy ngã. Trời đất quay cuồng, Thúy Nhi dựa vào quan tài trượt xuống đất, mặc cho người ta thóa mạ đánh đập, bởi vì con dâu lão Phan nói một câu “Con góa khắc chết hai người đàn ông tại sao cứ ở lì nhà tao không đi vậy” khiến Thúy Nhi trăm miệng khó cãi một lời.

Cuối cùng Thúy Nhi bị con trai và con dâu lão Phan đánh đuổi ra khỏi cửa hiệu quan tài, toàn bộ căn nguyên đều vì con trai lão Phan chưa từng học nghề thợ mộc với lão Phan, ngụ ý lão Phan mà chết cửa hiệu quan tài Phan Ký phải đóng cửa nghỉ làm. Đại Trụ và Thiết Đản mấy năm trước đã mong mỏi có thể tự lập môn hộ kiếm tiền, bây giờ sư phụ chết rồi cũng không thể tiếp tục làm công cho Phan gia nữa. Tục ngữ nói cắt đường tài lộc như giết cha giết mẹ người khác, huống chi nhà họ Phan thực sự bị đứt đường tài lộc bởi phụ thân tạ thế, thế nên cơn giận này toàn đổ hết lên người Thúy Nhi.

Thúy Nhi năm mươi tuổi lưu lạc đầu đường xó chợ, từ Tam Lý Phô đến trại Địch, chỉ dựa vào việc may vá giúp người khác mà bữa đói bữa no. Bà muốn chết, nhưng trong lòng lúc nào cũng có một cái vực sâu, dưới vực sâu đó ẩn giấu Xuân Sinh và Thu Nương nơi xa xôi dịu vợi, không thấy mặt con trai con gái, bà chết không nhắm mắt.

Con trai và con dâu của thợ mộc Phan tổ chức đám tang xong phát hiện Thúy Nhi còn ở trại Địch liền bắt đầu gieo rắc tin đồn Thúy Nhi là sao chổi chuyên khắc đàn ông, ai chọc vào người đó chết không được yên thân. Thêm vào chuyện mấy năm trước Địch Quý Quý tạ thế và Thúy Nhi đến trại Địch vốn là quả phụ tại giá, đầu đường cuối hẻm đồn đãi về bà càng lúc càng gớm ghê. Loại chuyện này người ngoài thấy gió sẽ nói mưa, thà tin là có, thế nên chẳng bao lâu sau Thúy Nhi bắt đầu chịu đói, nếu không phải sửa soạn sạch sẽ nhanh nhẹn, thực ra không khác ăn mày là bao.

Mấy ngày sau, Thúy Nhi đã lâu không được ăn cơm cuối cùng đói đến ngất ở trước cửa am Tịnh Nguyệt.

(6)

Am Tịnh Nguyệt nhỏ lắm, chỉ có hai vị ni cô một già một trẻ. Ni cô già tên Tịnh Tâm, tục danh không ai biết. Tịnh Tâm là người vùng khác nửa chừng xuất gia, chồng là thợ rèn, lúc còn trẻ tuổi bị quan binh đi đường cướp theo làm lính, từ đó bặt vô âm tín. Sau này một trận bệnh dịch bùng phát cướp đi sinh mạng của người già trẻ nhỏ, bà điên điên dại dại lưu lạc khắp nơi, sau được lão ni cô trong am Tịnh Nguyệt lúc ấy gặp được rồi mang về am, trị bệnh xong liền xuống tóc làm ni, pháp danh Tịnh Tâm. Tịnh Tâm từ bi hiền hậu, cường đạo đều vòng qua am Tịnh Nguyệt mà đi, sợ bị báo ứng. Đương nhiên am Tịnh Nguyệt trừ cái lò Tuyên Đức ra thì cũng không có vật gì đáng giá, chỉ là người ngoài hoàn toàn không biết chuyện này.

Tiểu ni cô pháp hiệu Trí Minh Nhi, là người bản địa của trại Địch, mười hai tuổi đào hôn trốn ra. Sau khi cha của Trí Minh Nhi tạ thế, mẹ kế liền bán cô đi làm thiếp cho một ông già hơn sáu mươi tuổi ở một trấn lân cận, đêm đó Trí Minh Nhi suýt chút bị ông già kia giày vò đến chết, nửa đêm gần sáng cô trốn khỏi nhà ông lão, đến khi trời sáng thì đến được am Tịnh Nguyệt, lừa Tịnh Tâm giúp mình xuống tóc làm ni.

Am Tịnh Nguyệt không có điền sản gì, cuộc sống tương đối cơ hàn. Ngày thường bá tánh xung quanh mà có pháp sự thì sẽ mời thầy trò Tịnh Tâm đến xử lý rồi bố thí cho chút đỉnh, đến khi hết của bố thí, thầy trò hai người sẽ thay phiên nhau đi hóa duyên, đồng thời trồng ít củ cải, rau xanh trong chùa mà lay lắt qua ngày.

Sau khi Thúy Nhi đến am Tịnh Nguyệt thì có thêm người phụ, tay nghề thêu cũng tốt, Tịnh Tâm bèn nhận thêm một ít việc giặt giũ vá may cho những hộ nhà giàu. Tịnh Tâm và Trí Minh Nhi phụ trách giặt giũ, Thúy Nhi may vá, rồi lấy tiền đổi được mua chút dầu trà gạo miến nhang đèn nến lửa, ba người lại chỉ ăn cơm không chia chác tiền công, ngày tháng trong am thực ra tốt hơn lúc trước rất nhiều. Chỉ là Trí Minh Nhi lúc nào cũng ghét bỏ Thúy Nhi, trước sau cô ả vẫn không quên được sự tàn ác của ông già suýt đã giày vò mình đến chết, cũng vì thế mà đặc biệt ghét đàn ông, mà ghét hơn cả đàn ông chính là những người phụ nữ không có đàn ông thì sống không nổi – Thúy Nhi trong mắt cô ả chính là loại người đó. Trí Minh Nhi không thể hiểu nổi vì sao Thúy Nhi cứ phải hết lần này tới lần khác tái giá, con trai và con dâu của thợ mộc Phan rêu rao bậy bạ khắp nơi, lúc truyền đến tai Trí Minh Nhi thì Thúy Nhi đã thành người mà thợ mộc Phan tục huyền.

Hành vi của Trí Minh Nhi, Tịnh Tâm đều thấy rất rõ, bà nói với Thúy Nhi mạnh ai nấy tụng kinh của người đó, không cần để ý người ta nói gì.

Thúy Nhi từng xin Tịnh Tâm xuống tóc cho mình nhưng Tịnh Tâm lại nói bà sẽ không xuống tóc cho ai sau Trí Minh Nhi nữa. Thực ra xuống tóc hay không cũng không quan trọng, niết bàn do tâm chứ không do tướng. Hơn nữa cho dù Thúy Nhi chưa nói bao giờ nhưng bà vẫn còn tâm chưa chưa tròn, không quy y được. Thúy Nhi lẳng lặng làm việc trong am Tịnh Nguyệt, theo Tịnh Tâm tuân thủ nghiêm ngặt thanh quy giới luật, sớm tối đả tọa tụng kinh.

Một năm.

Ba năm.

Năm năm.

Mười năm.

Tưởng đâu am Tịnh Nguyệt đã là chốn quay về cuối cùng của mình, ai ngờ vận mệnh lại tiếp tục trêu đùa Thúy Nhi vào năm bà vừa tròn một hoa giáp, khiến cuộc đời bà rơi vào bể khổ lần thứ tư – Bà bị tiểu ni cô Trí Minh Nhi đuổi khỏi am Tịnh Nguyệt.

Chẳng phải do nguyên nhân gì ghê gớm, lão ni cô bảy mươi tuổi Tịnh Tâm viên tịch, Trí Minh Nhi trở thành chấp sự trong am Tịnh Nguyệt. Tuy bàn dân thiên hạ quanh am Tịnh Nguyệt nhìn Thúy Nhi mãi cũng thành quen, không ai nhớ đến quá khứ của bà hoặc bằng lòng dẹp buôn dưa về chuyện của bà nhưng Trí Minh Nhi vẫn nhớ mãi không quên. Trí Minh Nhi nói mệnh Thúy Nhi phạm phải ngũ quỷ, khắc chết Tịnh Tâm, nếu còn tiếp tục ở lại am thì chính ả ta cũng bị khắc chết. Cái chuyện khắc người này nọ là do con dâu của thọ mộc Phan đã khuất đồn, phạm ngũ quỷ là do Trí Minh Nhi bịa, chỉ là do chính miệng ni cô nói ra thì có vẻ đáng tin hơn thôi.

Trí Minh Nhi chân trước vừa đuổi Thúy Nhi đi, chân sau liền đón dì mình vào am, việc giặt giũ may vá đã trở thành nguồn thu ổn định của am Tịnh Nguyện, tuy không kiếm được món tiền lớn nhưng chung quy phụ phí cũng giúp sống tạm qua ngày, huống chi mẹ con hai người mới là người một nhà.

Tính từ ngày Thúy Nhi bị đuổi khỏi am Tịnh Nguyệt biến thành khất cái, Phương lão nương nằm đờ người trên giường bệnh đã được hai ngày ba đêm. Nói không thành tiếng, nuốt không nổi cơm, uống không được nước, cũng không trút được hơi thở cuối cùng.

Bạch chấp sự nghe nhiều hiểu rộng nói với Xuân Sinh cái này gọi là chết không nhắm mắt, bà nội ông còn tâm nguyện chưa tròn, phải mời thầy bà về làm phép để bà nội ông mở miệng giải bày tâm nguyện của mình rồi mới nhắm mắt được.

Thầy bà đến chật kín cả sân, lắc lục lạc nhảy lên múa xuống, niệm chú một hồi, đốt ba tờ giấy hoàng biểu, Phương lão nương đột nhiên há miệng gọi Xuân Sinh. Xuân Sinh bấy giờ râu tóc đã bạc đi một nửa vội vã quỳ xuống bên cạnh bà nội, Phương lão nương siết lấy tay Xuân Sinh, nói năng đứt quãng: “Sau khi bà đi… đón mẹ con… về nhé…”

Xuân Sinh thấy đầu óc mụ mị đi, ngơ ngác nửa ngày mới nhớ ra mình còn có mẹ, chỉ là không biết sống chết, cũng không biết đang ở nơi nào, chỉ mang máng nhớ được năm mẹ đi Thu Nương vừa tròn bảy tuổi.

Phương Thân, Phương Kinh quỳ dưới giường chờ mà bốn mắt nhìn nhau, bà cố nói vậy là có ý gì? Không phải nói lúc bọn họ còn chưa ra đời thì bà nội đã chết rồi sao, sao phụ thân đột nhiên lại có mẹ? Phương Thân, Phương Kinh đổ dồn v ề nhìn mẫu thân, Tú Cô nửa ngồi bên giường không biểu lộ cảm xúc gì, cũng không trả lời con trai.

Người có phản ứng là Thu Nương đang quỳ phía sau Xuân Sinh, thấy Xuân Sinh ngớ ra, Thu Nương bèn nhẹ nhàng đẩy Xuân Sinh một cái từ phía sau.

Xuân Sinh hoàn hồn, ghé lên phía trước muốn nói gì đó, kết quả là Phương lão nương vội nắm tay Xuân Sinh ngăn ông ta lại. Phương lão nương ngừng một lúc mới nói: “Ban đầu là bà gạt các con… Không phải mẹ con… không cần các con… là bà ích kỷ… không cho các con gặp mẹ… còn trăm ngàn lần… cản trở… bây giờ bà gặp báo ứng… liệt giường mười năm nay… lâm chung còn không trút hơi thở được… đều là… đều là… ở ác gặp ác… bà đã từng nghe ngóng… mẹ con… đang ở am Tịnh Nguyệt ở trại Địch… còn chưa xuống tóc… chờ qua thất tuần… con đi… đón mẹ về đi… nhớ… chó… không chê chủ nghèo… con… con… con… không hiềm mẹ xấu…” Bàn tay siết chặt Xuân Sinh của Phương lão nương từ từ buông lỏng ra, chiếc lục lạc trên tay bà thầy pháp lại vang lên lần nữa, bà ta nhảy lên giường ụp một tấm giấy gai lên mặt Phương lão nương.

Thất tuần của Phương lão nương vừa qua, Thu Nương liền giục Xuân Sinh đến am Tịnh Nguyệt đón mẹ.

Xuân Sinh đã lên chức ông nội từ lâu, con trai cả của Thu Nương cũng đã thành hôn rồi, hai anh em đã trải đời cũng bắt đầu hiểu được chỗ khó của mẹ mình năm đó. Thực ra thoạt đầu ở chỗ của bà Ma, hai đứa cũng thấp tha thấp thoáng nghe được tính toán của nhà họ Phương với mẹ mình, chỉ là lúc đó nhỏ quá nghe không hiểu, sau này lớn rồi thì không có mẹ cũng thành quen.

Có điều người nắm quyền trong nhà là Tú Cô kiên quyết không cho đón Tú Nhi về nhà, Phương Thân và Phương Kinh cũng không có chút cảm giác nào với người bà đột nhiên từ trên trời rơi xuống, Tú Cô chỉ nói một câu ‘đón về cho chết rồi hai đứa bây chôn’ đã khiến hai đứa con hoàn toàn đứng về phe mẹ mình.

Dưới tình thế lưỡng nan của Xuân Sinh, Thu Nương thầm nói cứ đón về đã, bố trí ở căn nhà nhỏ đặt nông cụ trong vườn rau, thu dọn một chút rồi bảo mẹ về đó ở trước, như vậy cũng tiện cho mình tới lui, đỡ phải ở nhà nhìn sắc mặt Tú Cô.

Xuân Sinh cưỡi lừa hỏi thăm đến am Tịnh Nguyệt thì phải về không, Trí Minh Nhi thấy ông lão bước vào không phải khách đến dâng hương mà đến hỏi thăm về Thúy Nhi, tức thì đanh mặt nói người này đã về hương đường rồi. Xuân Sinh không hiểu ý gì, tiếp tục hỏi dì của Trí Minh Nhi, người dì đó hằn học vừa đẩy Xuân Sinh ra ngoài vừa nói Thúy Nhi đã rời am này gần hai tháng rồi. Xuân Sinh còn muốn hỏi đã đi đâu thì cửa am đã bị đóng lại.

Đầu Kim Cang ai sờ cho tới [6], Xuân Sinh men theo lân cận quanh am nghe ngóng, gặp ai cũng hỏi có gặp bà cụ trên sáu mươi tuổi trước kia ở am Tịnh Nguyệt không. Đa số mọi người đều tưởng đâu đang hỏi Tịnh Tâm bèn bảo viên tịch rồi, là chuyện không lâu về trước. Ngẫu nhiên có người sẽ hỏi người Xuân Sinh tìm là Tịnh Tâm hay Thúy Nhi, Tịnh Tâm vừa viên tịch là Thúy Nhi cũng bị đuổi khỏi am rồi. Xuân Sinh lại hỏi Thúy Nhi đi đâu thì chẳng ai biết cả, nhưng có thể xác nhận là một tháng trước Thúy Nhi đã bị đuổi khỏi am Tịnh Nguyệt, còn sống hay chăng thì không ai biết. Thế là ngoại trừ tìm người sống, Xuân Sinh cũng bắt đầu nghe ngóng chỗ lính bảo an địa phương xem gần đây có thi hài nào vô chủ hay không.

Loanh quanh biết bao nhiêu ngày, tìm kiếm khắp một vòng trại Địch mà vẫn không thấy tung tích mẫu thân đâu. Hôm nay trời gần trưa tuyết rơi càng lúc càng dày, Xuân Sinh vừa lạnh vừa đói, con lừa cũng chả có gì ăn, bèn dừng lại dưới một mái hiên nhà tránh tuyết, tính toán xem hay là về trấn Quách Đỗ trước đã, ra ngoài biết bao nhiêu ngày lộ phí tiêu cũng sắp sạch rồi, thân thể vốn đã yếu ớt cũng bắt đầu không theo nổi nữa. Nhưng nhìn cả trời đầy tuyết, Xuân Sinh lại thương xót vạn phần, tuy rằng ba mươi năm không qua lại với nhau nhưng dù sao cũng là mẹ ruột. Trước đó không biết thì thôi, bây giờ đã biết mẫu thân bị đuổi khỏi nhà xin ăn, kẻ làm con sao không xót được, trong lúc ngậm ngùi bất giác than rằng: “Ôi chao, mẹ của con ơi, rốt cuộc mẹ đang ở nơi nào?”

Ai ngờ bên cạnh có giọng nói yếu ớt vang lên: “Ôi con của mẹ ơi…” Người nói chính là Thúy Nhi, thật ứng với câu thổ địa gọi thành hoàng, màu ơi là nhiệm.

Thúy Nhi sau khi bị đuổi khỏi am thì không tìm được việc gì khác, một là tuổi đã cao, không có nhà nào muốn thuê người già giúp việc. Hai là việc giặt giũ may vá xưa nay am Tịnh Nguyệt vẫn làm đều do Tịnh Tâm và Trí Minh Nhi nhận về mang đi, không có khách nào biết Thúy Nhi cả. Bình thường lại không có tiền công, có thể nói ra khỏi am Tịnh Nguyệt mà không xu dính túi.

Sau khi ra đi, Thúy Nhi sớm đã nghĩ đến việc tìm chốn không người mà chết quách cho xong, nhưng lòng còn mong mỏi có thể gặp lại Xuân Sinh và Thu Nương lần nữa, có điều bản thân bà lại không muốn đến trấn Quách Đỗ.

Vòng xuyến trâm cài năm xưa còn lưu lại vốn là của hồi môn mà mẹ già nhà họ Khương tặng cho Thúy Nhi ngày bà lấy Phương Đôn nhưng có dè xẻn cũng chỉ bớt không được bao nhiêu. Hai ngày nay trời rét buốt người, bà dự định sẽ bán đi món trang sức cuối cùng rồi mặc cho số phận vậy. Nhưng đến trước cửa hiệu cầm đồ bà lại hơi do dự rồi ngồi thừ dưới mái hiên. Vừa đúng lúc Xuân Sinh trông thấy có người tránh tuyết dưới mái hiên mới nghĩ đến chuyện cũng vào tránh tuyết một lúc, ông ta nào có ngờ người đó chính là người mẹ mà mình khổ sở tìm kiếm bấy lâu. Ba mươi năm không gặp, sớm đã nhận không ra rồi. Mãi đến khi Xuân Sinh bật thốt ra “Ôi chao, mẹ của con ơi, rốt cuộc mẹ đang ở nơi nào?” mới hấp dẫn sự chú ý của Thúy Nhi.

Lúc Thúy Nhi đi, Xuân Sinh được mười tuổi, bây giờ đã là một ông lão râu tóc bạc hoa râm rồi, hoàn toàn nhận không ra. Nhưng tục ngữ nói mẫu tử liền tâm, lúc Xuân Sinh gọi “Ôi chao, mẹ của con ơi”, Thúy Nhi chợt thấy lòng mình rung lên, bởi vì từ nhỏ mỗi lần Xuân Sinh gọi mẹ đều kéo dài chữ “ơi” ở đuôi ra một chút, điểm này sớm đã ăn vào tủy xương của người làm mẹ, thế nên bèn nói không cần nghĩ “ôi con của mẹ ơi”.

Xuân Sinh cúi đầu nhìn nửa ngày, cực kỳ xa lạ nhưng lại như đã từng quen biết, cảm giác trên mình người ấy chính là cảm giác trên mình mẹ trong ký ức của mình. Một luồng điện chạy dọc khắp châu thân, hai gối Xuân Sinh mềm oặt ngã khụy xuống đất, khóc lóc kêu: “Ôi mẹ của con ơi, mẹ bắt con tìm lâu quá!”. Mẹ con hai người ngồi quỳ dưới đất, trong cái rét buốt của gió lạnh tuyết bay mà ôm nhau khóc.

Căn nhà nhỏ ở ruộng rau nhà họ Phương đã được dọn dẹp tươm tất. Chiếc giường đất mới dọn vào sớm đã được nung cho khô ráo, trên giường là chăn đệm mới ấm áp, nồi chén ăn cơm muôi đĩa củi gạo dầu muối cũng đều được lấp đầy, chiếc bàn thờ nhỏ đã được lau đến không còn hạt bụi.

Sau khi Xuân Sinh đi, ngày nào Thu Nương cũng bận bịu không ngừng. Tú Cô mặc kệ, Phương Thân và Phương Kinh hai người nghe lời mẹ cũng mặc kệ theo, một mình Thu Nương thu dọn ngược lại cảm thấy không có ai vướng tay vướng chân mình. Chỉ là cứ bồn chồn trong dạ chẳng yên, rõ ràng là gặp mẹ nhưng còn căng thẳng hơn cả lúc mình xuất giá.

Xuân Sinh và Thúy Nhi về được căn nhà đó trước tối ngày hôm ấy, Thúy Nhi ôm lấy Thu Nương, mẹ con hai người vừa khóc vừa cười nhốn nháo đến nửa đêm. Thu Nương giống hệt như lúc mới có mấy tuổi, ríu ra ríu ríu, khua tay múa chân nói mãi không ngừng, không có chút nào giống người đã làm mẹ chồng người ta.

Con người chính là như vậy, cha mẹ còn sống thì bản thân vĩnh viễn vẫn luôn là đứa trẻ, hơn nữa còn cách cái chết thêm một lớp màn ngăn. Đến khi cha mẹ mất rồi, con cái sẽ trực diện đối mặt cái chết. Chỉ có khi ở trước mặt mẫu thân, Thu Nương mới đem hết mọi cay đắng ngọt bùi ba mươi năm nay tích tụ trút hết ra ngoài, đêm đó, bà rúc chặt vào lòng mẹ ngủ.

Xuân Sinh ra ngoài nhiều ngày, vừa về đến nhà liền nói với Tú Cô nhưng Tú Cô mặc kệ vấn đề của Xuân Sinh, tỏ thái độ không liên quan đến mình. Phương Thân, Phương Kinh ngược lại có hỏi Xuân Sinh ra ngoài mấy ngày sức khỏe có ổn không nhưng chuyện bà nội thì một chữ cũng không nhắc tới. Về sau Xuân Sinh không nhắc chuyện mẹ mình với người trong nhà nữa, phụ thân ông mất sớm, việc nhà do Phương lão nương làm chủ, sau này thì do Tú Cô được Phương lão nương dẫn về quán xuyến. Từ nhỏ Xuân Sinh đã quen không lo việc gì, thế nên không cần làm quen cũng chấp nhận ngay được việc Tú Cô thờ ơ với Thúy Nhi.

Ruộng ra cách nhà không xa, bất luận sớm khuya ngày nào Xuân Sinh cũng đến đây một chuyến, gánh nước chẻ củi, thêm gạo mì dầu muối. Thỉnh thoảng Thúy Nhi bị đau đầu nóng sốt, ông ta lấy lừa đón đi khám bệnh, thảng hoặc còn đặt một xâu tiền đồng dưới gối mẫu thân, có khi mua thêm chút bánh ngọt dẻo. Cái gì làm được đều làm, chỉ là rất ít khi nói chuyện. Xuân Sinh vốn miệng kín bưng như hủ nút, tình cảm mẹ con lại trống vắng quá nhiều năm, vốn không biết nói gì, chỉ đơn thuần là tận hiếu. Thu Nương thì khác, dăm ngày ba bữa đến một lần, lúc có thể dứt khỏi việc nhà thì ngủ với mẹ một đêm. Hôm nay cắt tấm vải, ngày mai may quần áo, hai mẹ con không hết chuyện nói với nhau.

Thúy Nhi vẫn tiếp tục ăn chay giống hệt như những ngày sống ở am Tịnh Nguyệt, bà và Thu Nương cùng đến chùa Vĩnh An thỉnh tượng Phật về nhà nhỏ thờ, sớm chiều dâng hương cúng bái, cầu phúc cho Xuân Sinh và Thu Nương.

Giày làm cho Xuân Sinh và Thu Nương nhiều đến mang cũng mang không hết, toàn là khâu loại đế nghìn tầng, xem như thỏa mãn tấm lòng của người mẹ muốn bù đắp cho đứa con mà bao nhiêu năm nay mình không chăm sóc.

(7)

Về đến trấn Quách Đỗ đã được năm sáu năm có lẻ, Thúy Nhi trước sau vẫn ở ruộng rau. Thực ra Xuân Sinh đã định xây mấy gian phòng tốt ở cái sân trống cho mẹ mình ở từ lâu nhưng Thúy Nhi không muốn con trai vất vả, sự tồn tại của bà đã đem đến quá nhiều phiền phức cho Xuân Sinh rồi, nào dám so đo phòng tốt hay không tốt. Thêm nữa, mười năm ở am Tịnh Nguyệt sớm đã khiến Thúy Nhi quen với không gian yên tĩnh, ruộng rau vừa hay là một nơi vắng vẻ, huống chi bà đã là người hơn sáu mươi tuổi rồi, nói chết là chết ngay thôi.

Không biết kể từ khi nào mà trời đổ mưa thu không dứt, Thúy Nhi ngơ ngác nhìn ra ngoài nhà, nhớ lại xem mưa bắt đầu từ ngày nào mà rơi. Lần trước bà gặp Sinh Xuân chính là lúc mà trời bắt đầu đổ mưa, Xuân Sinh qua đưa cho bà một lọ mật ong lâu năm, dọn củi lửa đến dưới hiên nhà, gánh cho thật đầy nước, từ đó Xuân Sinh không còn qua đây nữa. Thu Nương cũng vậy, chẳng qua Thúy Nhi biết cái chân bó của Thu Nương không thể đi xa trên nền bùn đất. Nhưng tại sao lòng lại hoang mang đến vậy, cứ thấy sắp xảy ra chuyện gì.

Mãi đến khi mưa tạnh, căn nhà nhỏ cuối cùng cũng có người đến, là Phương Thân đến gánh nước cho. Đây là lần đầu tiên Phương Thân vào căn nhà này kể từ khi Thúy Nhi về trấn Quách Đỗ, trước đây gã và Phương Kinh đến ruộng rau canh tác đều không vào căn nhà này, đương nhiên cũng chưa từng gọi tiếng bà nội nào.

Nửa ngày trời Thúy Nhi mới nhìn được rõ người đến là ai, sau đó liền hỏi: “Cha con đâu?”

“Bệnh rồi.”

“Bệnh gì? Nghiêm trọng không?”

“Phong hàn.” Phương Thân không nói thêm gì, đổ nước gánh về vào vại rồi xách thùng không đi.

Thúy Nhi gần như ngồi đến khi trời sáng, lúc đến gần trưa cuối cùng cũng gặp Thu Nương đến đưa thức ăn, Thúy Nhi vội hỏi: “Đi thăm anh con chưa? Xuân Sinh sao rồi? Biết bao nhiêu ngày rồi không đến…”

Thu Nương bỏ hộp đồ ăn xuống, móc chiếc khăn trùm đầu mới ra khỏi vạt áo rồi choàng lên cho Thúy Nhi, nhìn một hồi mới thản nhiên nói: “Không sao, mẹ đừng mong nhớ, anh con… Chỉ bị bệnh vặt thôi, giao thời đổi tiết thường là mấy ngày không được thoải mái, uống thuốc nghỉ ngơi rồi không có gì đâu…” Nhưng lúc nói câu này, Thu Nương nhân lúc xoay lưng xách hộp thức ăn trống lên thì lén lau khóe mi ướt đẫm.

Thúy Nhi lải nhải: “Bệnh vặt… Bệnh từ khi nào… Mấy ngày trước sao không nghe nói…”

“Chẳng phải mấy ngày nay cứ mưa tối trời sao.” Thu Nương biết Xuân Sinh bệnh tình nguy kịch, sợ nói nữa sẽ bật khóc ra mới đánh trống lảng, “Chỗ con gần đây cũng rối như canh hẹ, người lớn hét trẻ con la, đường lại khó đi, muốn qua đây ở hai ngày mà chỉ nghĩ thôi vô ích.”

Thúy Nhi nhìn Thu Nương hồi lâu, thở dài thườn thượt, vừa xỏ giày xuống giường vừa nói: “Con ơi, con đừng dỗ mẹ nữa, mấy năm nay mẹ trải qua biết bao nhiêu chuyện, còn nhìn không ra nặng nhẹ chăng… Con đỡ mẹ, mẹ phải đi thăm con của mẹ.”

Thu Nương cản không được đành thắt chặt khăn trùm đầu cho Thúy Nhi rồi gắng sức đỡ cánh tay, Thúy Nhi chống gậy, hai mẹ con bước thấp bước cao đến nhà họ Phương.

Ngày đó, Thúy Nhi bước vào cửa nhà họ Phương mà đã ba mươi năm rồi chưa bước qua lần nào, mọi thứ trước mắt đều hoàn toàn xa lạ.

Siêu thuốc dưới mái hiên sôi lên sùng sục, một đứa con dâu rụt rè đang cầm quạt nhẹ nhàng quạt lửa, thấy có người vào sân, cô con dâu kêu một tiếng bà cô nhưng khi thấy Thúy Nhi được Thu Nương dìu đỡ thì ngẩn người tại chỗ.

Xuân Sinh nằm trên chiếc giường trong nhà chính xoay đầu nhìn ra ngoài, Tú Cô ngồi bên cạnh, vừa đặt chén thuốc lên bậu cửa sổ, trông thấy Thu Nương vào nhà toan cất tiếng hỏi thì dừng lại ngay. Sau khi Thúy Nhi về chưa từng gặp qua Tú Cô, Tú Cô không ra ruộng nên chưa từng gặp mặt Thúy Nhi, đến khi Thu Nương nói “Anh ơi, mẹ đến thăm anh”, Tú Cô mới biết bà lão này là ai. Tú Cô lập tức nghiêm mặt, cũng không chào hỏi gì, xuống giường đi thẳng ra ngoài.

Xuân Sinh xoay đầu nhìn mẹ, muốn thử ngồi dậy nhưng không ngồi nổi. Thúy Nhi ấn lên vai ông ta, run rẩy kêu: “Con của mẹ…”

Xuân Sinh mặt mày trắng bệt cố nặn ra một nụ cười, miễn cưỡng nói: “Mẹ, sao mẹ đến đây? Đường không dễ đi, con, không sao, mấy ngày nữa sẽ xuống giường được thôi…”

Nửa tháng sau, Xuân Sinh quả thật đã xuống được giường, có điều là bị khiêng xuống, cơn gió lạnh trong trận mưa thu cuối cùng đã mang ông ta đi.

Thúy Nhi biết được chuyện này từ chỗ Kim lão thái thái vẫn luôn rảnh rỗi đến thăm, đó là ngày thứ hai sau khi Xuân Sinh trút hơi thở cuối cùng.

“Ôi, đời này con đã tạo cái nghiệt gì mà khiến con của con phải chịu, đây là báo ứng…” Thúy Nhi đốt nhang, quỳ trước tượng Phật nức nở, “Có tội nghiệt gì, cứ trút hết lên người bà lão con đây… Đừng làm khó con trai con gái con nữa, chỉ cần chúng nó sống tốt, xuống địa ngục con cũng cam lòng…”

Sau khi Xuân Sinh qua đời, cuộc sống của Thúy Nhi chuyển qua cho Phương Thân và Phương Kinh lo liệu, hai đứa con theo ước định chia nhà với phụ thân lúc sinh tiền mà tính ngày tháng, một đứa gánh nước chẻ củi cho Thúy Nhi, đứa còn lại lo gạo mì dầu muối, chỉ cần Thúy Nhi có thể sống tiếp, những chuyện khác hầu như không quản.

Sau khi Xuân Sinh lìa đời, Thu Nương rất ít khi bước chân vào nhà họ Phương mà đi từ nhà chồng đến thẳng ruộng rau, vì giúp mẹ ăn uống mà bà gần như đắc tội với cả Tú Cô và cháu mình. Từ lúc con dâu sinh cháu, Thu Nương càng ít đến hơn, có đến cũng chỉ mang theo ít đồ, ngồi chưa bao lâu thì đã về, việc nhà người lớn trẻ con đều không xa bà được.

Kim lão thái thái ở gần đó thì thường đến hơn, bà và Thúy Nhi tuổi tác tương đương nhưng chân khỏe hơn Thúy Nhi, chuyện nhà bên đông dài nhà bên tây ngắn bà nghe được rất nhiều nhưng xung quanh lại thiếu người già có thể nói chuyện được bèn thường đến thăm Thúy Nhi giết thời gian.

Xuân Sinh qua đời chưa tròn ba năm thì Tú Cô cũng nối gót theo sau, sau khi Xuân Sinh qua đời, Tú Cô vẫn cứ bệnh triền miên dai dẳng, thuốc thang mãi cũng kéo dài được hơn hai năm. Sau này cơm không ăn nổi, người gầy như que củi, gần như bị đói chết.

Những chuyện này đều là Kim lão thái thái nói cho Thúy Nhi nghe; Phương Thân, Phương Kinh đến đưa đồ đều không mở miệng nói, có khi cũng sai người trong họ qua đây, Thúy Nhi thường còn chưa nhìn rõ người đến là ai thì người đã đi rồi.

Thúy Nhi nhẩm tính đã hơn nửa tháng rồi Thu Nương không đến đây, hôm nay một người trẻ tuổi xách theo một bao quần áo và một đống đồ ăn được vào căn nhà nhỏ, kêu ba bốn tiếng bà ngoại, Thúy Nhi mới nhìn rõ đó là Minh Huy – con trai út của Thu Nương.

Minh Huy lúc nhỏ đã theo Thu Nương đến ruộng rau, trưởng thành rồi thỉnh thoảng sẽ dắt lừa đưa Thu Nương đến, là một đứa bé biết nghe lời. Minh Huy nói Thu Nương bị đứa cháu chạy loạn làm ngã nhào xuống bậc thềm hành lang, tổn thương gân cốt, nên sai thằng bé đến đưa đồ cho bà ngoại. Lần cuối cùng Thu Nương đến thăm Thúy Nhi chính là ba bốn tháng sau khi bị thương rồi sai Minh Huy đưa sang đây, lúc ấy khí sắc của Thu Nương còn kém hơn cả Thúy Nhi, người gầy đi nhiều, tóc đã bạc trắng.

Lúc Thúy Nhi hỏi, Thu Nương chỉ nói sau khi ngã thì cả ngày phải ở trong nhà, chẳng làm được việc gì còn phải nhờ người hầu hạ, khẩu vị không tốt mới gầy đi. Chuyện Thu Nương không nói chính là con gái bà ta ở nhà chồng bị mẹ chồng và trượng phu đánh cho một trận, sau đó treo cổ tự sát.

Lại qua thêm non nửa năm nữa, Minh Huy đưa một tay nải đến cho Thúy Nhi, bên trong có hai bộ quần áo và một gói bánh xốp ngọt đã vụn. Minh Huy nói đây là vật mà lúc sinh tiền Thu Nương đã khuất muốn đưa cho bà ngoại một tháng trước, sau đó nín lặng một hồi liền đi. Thúy Nhi đốt một lò hương trên bàn thờ, cô đơn khổ sở đờ đẫn ngồi bên giường.

Trời dần tối đi, ba chấm đỏ trong lò hương đã tắt hết một cái. Thúy Nhi thình lình tóm lấy chiếc gậy, bước hai bước về phía ban thờ vung gậy lên mà đánh, miệng không ngừng mắng nhiếc: “Người nên chết không chết, không nên chết đều chết, bảo bà đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn, tôi thấy bà chỉ biết trơ mắt ra nhìn, có cúng chỉ tổ tốn nhang tốn nến…” Bức tượng thờ bị đánh cho nát vụn, lò hương vỡ thành mấy miếng, tro hương đầy sàn.

Ngày tiếp theo Thúy Nhi kéo theo chiếc ghế nhỏ ra khỏi ruộng rau, lê được mấy bước thì ngồi nghỉ một lúc. Người đi ngang qua đều thấy bà cụ xách ghế đi đường này lạ lùng nhưng không ai biết bà, bởi vì sau khi đến trấn Quách Đỗ, Thúy Nhi rất ít khi ra khỏi ruộng rau.

Qua một buổi trưa Thúy Nhi mới lê được đến chùa Vĩnh An, tăng nhân thực sự không chú ý đến bà, trong số khách dâng hương có không ít cụ bà đi đường bất tiện, người được khiêng tới đây còn có nên chẳng ai lấy đó làm kỳ.

Thúy Nhi bò đến sau bậc cửa cao cao của đại điện nghỉ ngơi hồi lâu rồi loạng choạng đi đến trước đài sen, lại ngồi một hồi lấy sức, sau đó thình lình vung ghế vừa đập vừa mắng: “Nên chết thì không chết, không nên chết đều chết…”

Những người khác trong đại diện đều ngây ra như phỗng, đến khi một tăng nhân có phản ứng xông lên đẩy ngã Thúy Nhi thì bà đã nện được bốn năm cái rồi. Đài sen cao xấp xỉ Thúy Nhi, mấy cánh sen đã bị đánh cho rụng xuống, đài nhang đèn và cúng kiếng bị làm rối tung lên.

Lúc Thúy Nhi tỉnh lại chỉ phát hiện một mình mình nằm ở trên giường, bà không biết mình đã về ruộng rau thế nào, chỉ nhớ là sau khi bị hòa thượng đẩy ngã ra đất chịu đòn mấy cái rồi lịm đi.

Bên ngoài trời đã tối đen như mực tự bao giờ, không biết mấy giờ rồi. Cửa nhà chưa đóng, gió thổi ù ù không ngừng cuốn tấm rèm cửa bay ra rồi lại bay vào. Gió lạnh và hơi ẩm phả lên trên mặt, mùi bùn tanh pha lẫn mùi tro hương, ngoài kia chắc đã đổ mưa rồi.

Không ngồi dậy, Thúy Nhi vẫn cứ nằm trên chiếc giường lạnh, cảm thấy như có xoáy nước đen kịt chiếm trọn hai mắt mình. Trong lúc trời đất quay cuồng, dần dần bà trượt vào trong xoáy nước đó, bên trên từng vòng xoáy nước đều có người đang đứng, bà đều nhận ra cả, có Phương Đôn, Xuân Sinh, Tú Cô, Thu Nương, Quý Quý, thợ mộc Phan, Tịnh Tâm, bà Ma, bà Kim… Gương mặt họ xoay tới chuyển lui tựa như hung thần ác sát, thân hình đột nhiên cao lên rồi thình lình bắt đầu sụp đổ, đồng loạt đổ ập xuống mặt bà.

Trước mắt Khương Thúy Nhi tối mịt, cuối cùng bà mất đi tri giác.

[1] Khiêu đại thần: Tục gọi là ‘Xuất mã tiên nhi’ hoặc ‘khiêu thần’, có nguồn gốc từ vu thuật của đạo Tát Mãn cổ xưa lưu truyền ở phương bắc Trung Quốc (đặc biệt là vùng đông bắc). Thông thường phối hợp với đại thần (người được thần dựa) hoặc nhị thần (trợ thủ, đánh trống), thường đánh trống, nhảy múa, xướng hát mô phỏng tư thế của các loài động vật tiên gia để cúng tế, cầu phúc hoặc trừ tà chữa bệnh, ngày nay được xem như tín ngưỡng dân gian hoặc bị coi là hoạt động mê tín dị đoan.

[2] Nguyên văn là “Chuyển phòng hôn”, một tập tục kiểu chồng chết thì lấy em trai hoặc anh trai chồng. Nhìn chung có để nguyên Hán Việt cũng không phải từ dễ liên tưởng để mà hiểu, nội dung đằng sau cũng có giải thích nên tôi đổi chữ đọc có vẻ quen thuộc hơn và chú thêm từ nguyên.

[3] Là một thành ngữ nhắc đến tập tục đập bình đất nung trong tang lễ để tạm biệt người đã khuất và đưa quan tài nhập thổ. Ở đây ý của bà mẹ chồng là để người em chồng có cơ hội có đứa con đưa tang vì đứa con đầu của ông ta là gái, cũng chính là muốn tục huyền cho đứa cháu kiếm thằng con trai.

[4] Một cách gọi thím – vợ của chú nhưng gọi thân mật hơn kiểu coi thím như mẹ.

[5] Từ gốc là “hải thú”, nghĩa gốc của nó thì vốn là chỉ động vật dưới biển bình thường thôi nhưng ngôn ngữ mạng bên ấy còn dùng chữ này để chỉ những người không chung thủy, xét thấy hình ảnh cũng không có gì mang nghĩa tượng hình nên tôi không giữ lại từ gốc.

[6] Thành ngữ với hình ảnh nghĩa đen là một vị Kim Cang hòa thượng cao 1 trượng 2, người ta không với tới đầu hòa thượng được. Nghĩa bóng chỉ không thể hiểu được hay biết cách xử lý vấn đề trước mắt vì không nắm rõ tình huống như thế nào.

Liên quan đến quan điểm gái góa có được lấy chồng hay không, tôi có viết thêm một bài bổ sung ở đây

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
1
0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x