CHUYỆN LẠ Ở THÀNH TRƯỜNG AN
TRUYỆN: BÁU VẬT BỊ MẤT Ở HÀ GIA THÔN (1-4)
Dịch (láo): A Tĩnh
#truongankydam #chuyenlaothanhtruongan #bauvatbimatohagiathon
—
(1)
Hôm nay mùng một, Hà nương tử đã tắm rửa xông hương từ sớm, sau khi áo mũ chỉnh tề bèn nhấc chiếc giỏ trúc chứa nhang đèn giấy đốt ra ngoài.
Từ ngày được gả cho tên đồ tể họ Hà, mùng một và mười lăm tháng nào nàng đều đến chùa Tiến Phúc thay chồng đốt nhang khấn vái. Theo ý nàng thì chùa Tây Minh gần nhà hơn nhưng Hà trượng phu nói chùa Tiến Phúc ban phúc, thế nên có thể cầu phúc tiêu tai.
Sau khi dâng hương đại điện xong, Hà nương tử nói mấy chuyện trong nhà với tiểu sa di trông coi đèn đóm rồi bảo rằng phải tìm phương trượng đại sư giải đáp nghi vấn cho. Dẫu sao lúc nào cũng có khách dâng hương vì chút chuyện mập mờ không thể nói trước chốn đông người mà đến thiền đường của lão phương trượng một mình xin xăm hỏi quẻ, nhưng lão phương trượng tuổi tác đã cao không dễ gặp khách như xưa nên việc này đã đổi sang cho Giám Tự Trí Thiện làm, bởi thế tiểu sa di dẫn Hà nương tử đi thực chất là đến thiền phòng của Trí Thiện.
Sau khi thấy tiểu sa di đi xa rồi, Trí Thiện đóng cửa thiền phòng, vừa xoay đầu liền ôm chặt lấy eo Hà nương tử từ phía sau, vừa đẩy về phía thiền sàng vừa hôn cổ nói: “Nhớ chết bần tăng rồi.”
Hà nương tử không hề phản kháng, xoay người sờ cái đầu trọc lóc của Trí Thiện mà chế nhạo: “Thôi bỏ đi, dỗ ai thế! Cả tháng tôi mới tới có hai lần, còn chỗ này của thầy ngày nào chả có mấy khách nữ dâng hương đến, dễ gì sạch được.”
“Nương tử lại ghẹo bần tăng rồi. Tâm sự này của thầy, xưa nay có dám nói ai hay. Mấy năm nay vì nàng mà cả người bệnh tật, chỉ đành giấu giếm. Nếu nương tử bằng lòng, bần tăng hoàn tục bỏ đi với nương tử, e rằng phải sớm sớm chiều chiều ở bên nhau bệnh của bần tăng mới khỏi được, đúng là chập chờn mộng mị cũng không quên được nàng!” Lúc nói thì đã cởi tăng bào ra.
“Bẫy chết tôi rồi!” Hà nương tử đẩy Trí Thiên ra, mau chóng chỉnh lý lại áo xống, mắng: “Đúng là quỷ háo sắc! Bộ trúng tà hay gì? Thanh thiên bạch nhật, còn không mau mặc áo vào? Đợi người ta vào thấy hết hả!”
Trí Thiện tỉnh hồn rồi mau chóng mặc áo vào.
Hà nương tử trông vẻ thảm hại của gã thì cười nói: “Đồ quỷ sứ chết bầm, nơi này đông người phức tạp sao dám làm càn thế. Ngày kia giờ sửu (khoảng gần đến ba giờ) [1], thầy đến nhà tôi, tôi để cửa cho thầy. Thằng khờ kia hứa sáng sớm mùng bốn đi làm cho người ta, giữa giờ tý (khoảng 12 giờ) là đi rồi.”
Mặt mày Trí Thiện đang ủ rũ bỗng chốc biến ra hí ha hí hửng, đang muốn túm lấy tay Hà nương tử thì ngoài thiền phòng vọng vào tiếng gõ cửa, có hòa thượng hỏi Trí Thiện bây giờ có tiện không, có khách dâng hương khác xin được gặp.
Trí Thiện đáp lại một tiếng rồi mở cửa, vờ vịt ra vẻ tiễn Hà nương tử đi. Người vào trong một già một trẻ, nhìn không ra người được dẫn theo là con dâu hay con gái.
Trí Thiện tục gia họ Tần, đơn danh một chữ Đa. Người cũng giống đa tình, từ nhỏ đã có tình cảm với Hà nương tử bấy giờ chưa được gả đi, hai người cũng coi như thanh mai trúc mã, chỉ là chuyện chung thân của Hà nương tử từ lâu đã bị cha nàng đính ước với nhà Hà Thải Biện có qua lại nhiều đời với mình.
Hà Thải Biện là cha của Hà mổ heo, có chút dây mơ rễ má với Tri phủ nha môn Tây An, khi ấy ông ta đang làm môi giới cho nhà Phủ Đài, thỉnh thoảng ra mặt giúp người trong phủ lo liệu các loại thịt sống, vì thế mà kiếm được kha khá tiền, bèn thuê người mở một quầy thịt ngay ngã tư đường lớn ở Hà gia thôn.
Sau này tri phủ Tây An bị tố, Hà Thải Biện cũng mất mối làm ăn với phủ lý, chỉ đành ôm quầy thịt sống qua ngày. Con trai hơn mười tuổi đã phải học nghề mổ heo, cũng không thể nói là con nối nghiệp cha nhưng mở quầy thịt cũng coi như gia truyền. Trong nhà cũng còn cơ số đất đai cằn cõi mua được từ thời Hà Thải Biện còn nở mày nở mặt, thế nên cuộc sống cũng không tệ lắm.
Phụ thân Hà nương tử cũng trượng nghĩa, không hề vì nhà thông gia biến thành nhà bán thịt mà khinh thường, sau khi con gái thành niên vẫn giữ lời hứa gả con cho nhà họ Hà.
Tần Đa thấy người mình yêu đi lấy chồng, nhà mình cũng liên tiếp gặp chuyện phá sản, trước mắt cùng đường bèn mua tờ độ điệp [2] xuất gia, cơ duyên xảo hợp thế nào vậy mà lại từng bước từng bước lên đến chức Giám Tự của chùa Tiến Phúc.
Sau này tính tình Trí Thiện đại biến, người ở Phật môn mà toàn thân sặc mùi thất tình lục dục, một lòng chỉ mong lão phương trượng sớm ngày viên tịch để gã mau kế nhiệm, còn uống rượu cờ bạc ham tài háo sắc, chẳng phải hòa thượng đứng đắn gì.
Khó khăn lắm mới nhịn được đến mùng ba, trời vừa sẩm tối Trí Thiện đã nói với người trong chùa rằng phải đến chùa Tây Minh đàm đạo với sư đệ, tối đó sẽ ở lại chỗ sư đệ luôn. Trí Thiện đích xác đã đến chùa Tây Minh nói chuyện phiếm với sư đệ làm Đô Giám đến đầu giờ Hợi (khoảng chín giờ tối) rồi bảo phải về chùa Tiến Phúc mà rời chùa Tây Minh. Sau đó, gã lòng như lửa đốt đi loanh quanh nhà họ Hà, mãi đến cuối giờ Tý (trời đã hơi sáng) nghe thấy tiếng cửa mở, lờ mờ trông thấy một cái bóng lực lưỡng nện bước chân nặng nề ra đi, Trí Thiện mới cấp tốc lẻn vào Hà gia.
Trí Thiện ôm lấy Hà nương tử trên giường, nói: “Nàng đoán xem mấy ngày trước thầy gặp được thứ hàng tốt gì.”
Hà nương tử phờ phạc xoay mặt qua: “Hàng tốt?”
“Ừ, nàng đoán đi.”
“Nước trà của chùa Quang Lộc, đao thương của Vũ Bị viện, sanh hoàng [3] của Thái Thường tự, âm dương của Khâm Thiên Giám, tóm lại đều là loại hàng giống hệt như thầy, trên đời này làm gì có hàng nào tốt chứ!”
“Dám mắng thầy này, bảo nàng đoán xem cái gì mới được coi là hàng tốt!”
“Mau dẹp đi, để bà đây còn ngủ.”
Sau khi bị Trí Thiện quậy cho một trận, Hà nương tử nói: “Thầy nói mau lên, thấy thứ hàng gì mà tốt?”
“Hè năm ngoái Lâm Đồng có động đất, chẳng phải đất ở Tây An bên đây cũng nứt ra một kẽ à? Tháp chùa cũng bị chấn động mà nứt. Lúc đó tưởng đâu sập tới nơi rồi, nhưng sau đó mời thợ đến kiểm tra mới nghe nói là không cần gấp, xà nhà còn ổn, sửa lại là xong, năm nay cứ bận mãi chuyện này. Lúc gia cố, thợ nói tốt nhất là nên kiểm tra nền móng, kẻo bên trong sụt lún ngấm nước gì đó, thế là cạy tấm che nóc địa cung dưới nền tháp lên, lão phương trượng không yên tâm về đám thợ, sợ chúng làm vấy bẩn Phật tổ bèn bảo thầy xuống đó kiểm tra…”
“Phật Tổ mà cũng sợ thợ làm vấy bẩn ư?”
“Chẹp! Đừng chen ngang, còn không phải vì nàng cả ư, nàng biết thầy xuống đó trông thấy gì không? Thấy báu vật ngổn ngang dưới đất, nào đĩa vàng, đĩa bạc, lưu ly, thủy tinh, đồ ngọc, ngọc thạch, ở đâu cũng có.”
Hà nương tử ngạc nhiên ngồi dậy: “Đâu ra số báu vật đó?”
“Lão phương trượng nói hẳn là từ thời Phật Chỉ Xá Lợi và Phật Cốt [4] được hoàng đế Tiền Đường [5] rước về thờ phụng tại chùa Tiến Phúc trong thời khoảng gian cung cấm cung phụng cho tự viện. Chùa Tiến Phúc là chùa hoàng gia của Tiền Đường, hồi xưa nghe đồn có giấu báu vật, không ngờ là thật, báu vật nhiều đến nỗi không có chỗ đặt chân.”
“Vứt hết ra đó làm gì?”
“Không phải vứt, lão phương trượng thấy tình huống đó cũng xuống xem sao, nói Tiền Đường hẳn là đã dâng cúng đàng hoàng. Chẳng phải có động đất đó ư? Nên trái phải mới bừa bộn vậy.”
“Sau đó thì sao?”
“Sau đó nhóm thợ phải gia cố nền móng, lão phương trượng nói nếu Tiền Đường đã đặt ở đây thì chúng ta cũng không thể cầm lên được, thế nên nhặt hết cho vào hai cái chĩnh lớn.”
“Chĩnh lớn? Chĩnh lớn ở đâu ra?”
“Dưới địa cung có Phật điện, trước tượng phật có hai cái chĩnh nước to, lão phương trượng nói hẵng là dùng để chứa dầu lửa đốt Trường Minh đăng [6] thời Tiền Đường.” Trí Thiện duỗi tay phác họa lại kích thước của hai cái chĩnh này.
“Thầy không lấy chút gì ra được à?”
“Lấy cái con khỉ! Địa cung không lớn, lúc ấy còn đốt mấy cây đèn, đằng trên có người nhòm ngó nữa. Ở dưới đó thầy nhặt món nào, lão phương trượng sẽ tiếp lấy bỏ vào trong chĩnh, dọn dẹp xong là nhóm thợ vào tu sửa nền móng ngay. Thầy nhìn đám thợ, đám thợ chả phải cũng nhìn thầy? Hà huống chi trong chùa vẫn đang tiếp nhận rất nhiều kinh quyển và pháp khí dâng cúng, lúc nào cũng bận luôn tay luôn chân, thầy có lòng lấy cũng làm gì có cơ hội xuống tay.”
“Thế là xong rồi à?”
“Còn sao được nữa? Gia cố xong là đóng nắp hầm lại rồi, bên trên đã có một tầng nền tháp cũ rồi lại thêm một tầng gia cố mới, muốn vào bên dưới tháp lại phải qua một bức tượng nghìn cân trấn giữ, còn có tiểu sa di ngày đêm canh chừng hỏa hoạn, muốn trở xuống đó còn khó hơn lên trời.”
“Sao Tiền Đường lại muốn rước Phật? Nghe thầy nói qua biết bao nhiêu lần, chẳng phải Thái Tổ gia [7] cũng xuất thân là hòa thượng à? Sao chẳng thấy ông ta rước Phật bao giờ vậy?”
“Ôi chao, không giống đâu. Thái Tổ gia làm hòa thượng chỉ để kiếm cái ăn chứ có phải thật lòng xuất gia đâu. Năm xưa sau khi Phật Tổ niết bàn có để lại rất nhiều chân thân xá lợi, một phần trong số đó bị các đệ tử mang đến dâng cúng Thiên Triều. Sau thời Võ Chu [8], Đường vương sùng Phật, vậy mà Trường An chưa từng có xá lợi của Phật Tổ nên lần nào cũng lấy Phật Chỉ của chùa Pháp Môn rước vào cung thờ phụng. Vì để thuận tiện cho bách tính cũng có thể chiêm ngưỡng cúng bái, Phật Chỉ được đưa vào chứa trong một vài tự viện, chùa của thầy năm xưa cũng thế. Mỗi lần Phật Chỉ được rước đến một nơi, người trong cung và đạt quan hiển quý đều tranh nhau bố thí, chắc cuối cùng mấy món đồ bố thí đó đều được bảo quản dưới tháp cả rồi.”
“Ờ… Thực sự có xá lợi hả?”
“Đương nhiên có rồi, sau khi đại sư huynh của thầy viên tịch cũng hóa ra xá lợi đó. Có điều năm xưa sư phụ viên tịch lại không có, đúng là kỳ lạ…”
“Sư huynh thầy ở chùa Tây Minh viên tịch khi nào? Ở gần nhau thế sao tôi lại không nghe thấy?”
“Ôi chao, đó là sư đệ thầy.”
“Ờ ờ, tôi nói này, đang yên đang lành rồi đem đốt hả.”
“Sư đệ thầy thành tâm, sau khi viên tịch nhất định cũng có xá lợi, không như thầy.”
“Thế sư phụ thầy không đủ thành tâm à?”
“Cũng không phải không thành tâm, sư phụ lão nhân gia người… cũng cống hiến cả đời ở Phật môn nghiên cứu Phật pháp, chỉ là không hóa ra thôi…”
“Thế thầy thấy xá lợi trong tháp chưa?”
“Ôi chao, trong tháp không có xá lợi đâu, thời Tiền Đường rước từ chùa Pháp Môn đến lễ Phật xong đã đưa về hết rồi, mà giờ cũng không nghe nói chùa Pháp Môn có xá lợi, nếu không thất lạc thì cũng bị chôn rồi. Tiếc quá, thầy muốn xem ghê.”
“Cái tên hòa thượng nhà thầy, kiếp sau cũng không thành Phật được đâu.”
“Lo kiếp sau làm gì, thầy chỉ mong kiếp này được ở bên nàng thôi.” Trí Thiện trả lời, đến khi gà gáy tiếng đầu tiên liền vội vội vàng vàng chạy về chùa Tiến Phúc.
(2)
Quầy thịt của Hà gia nằm ở ngay ngã tư đường ở Hà gia thôn, người qua kẻ lại đông nườm nượp. Sau cánh cửa quầy hàng là một một cái sân nhỏ, có một cái lều được giăng trên mái hiên sau cửa hàng, dưới lều là một bếp lò đang đun nước. Phía nam là nhà xí và chuồng heo cộng thêm giá kê thùng mổ heo. Phía đông có một cái gò đất cao ngang đầu gối, bên trên chất lộn xộn củi.
Hà mổ heo không nuôi heo mà là đi khắp hang cùng ngõ hẻm thu mua heo sống của nông dân về mà mổ bán. Cũng có vài nông dân tự mình đem heo đến quầy thịt, gửi tiền công nhờ gã mổ bán giùm cho, làm thế thì bán được nhiều hay ít gì cũng đều là chuyện của chủ nhà, hơn nữa còn có thể được chủ nhà vứt cho ít thịt để ăn. Cũng có khi lo liệu đám ma đám cưới người ta thuê gã đến cầm đao, công việc kiểu này gã rất ưa làm, giết heo xong là coi như xong chuyện, tiền cứ kiếm mà không cần phải trông quầy hàng, chủ nhà nào rộng rãi còn cho gã cứa máu cổ heo làm quà.
Quầy thịt là quầy mở cửa sớm nhất trong tất cả sạp hàng. Mở hàng lúc trời tờ mờ sáng đến khi mặt trời ló dạng là lúc kết thúc phần lớn giao dịch, làm vậy không lỡ dở thời gian quầy rượu quán cơm làm ăn buổi sáng. Thịt heo đều là giết liền bán liền, chợ mở sớm thì giết heo càng phải sớm, đa số đều là đầu giờ dần mỗi ngày (khoảng 3 giờ sáng) là phải giết rồi.
Nếu mà giết heo đực thì phải bày thêm một hương án ngay chính giữa sân sau, đốt hương đốt giấy bẩm báo với trời già kia một tiếng. Cồn heo nái không cần. Thực ra trước đây tế trời đều phải đến miếu Thổ Địa mà tế, các sinh linh lớn nhỏ bản địa đều do Thổ Địa công công quản mà. Sau này người ta bắt đầu lười biếng, thế là chỉ làm ở sau vườn cho có vậy thôi.
Lúc mổ heo, đồ đệ sẽ vào đốt một cái lò lớn lên bắt nước, đến khi nước sôi, Hà mổ heo mới đến. Hà mổ heo đến thì sẽ chọn đao trước nhất. Dao lấy máu toàn bộ đều được đặt trong giỏ trúc, gã phải lần lượt cầm từng cái lên búng một hồi, rồi chọn lấy con dao nào có tiếng vang giòn giã nhất mà cắt tiết. Gã cho rằng đao cũng có tính khí như người, tiếng vang không đủ giòn tức đao chưa tỉnh giấc, dùng không thuận tay.
Một ngày trước khi mổ, heo sẽ không được cho ăn, ăn no quá lúc mổ dễ lòi ruột ra. Sau khi mở cửa chuồng, heo sẽ đi loanh quanh bên ngoài tìm thức ăn rồi bất thình lình bị Hà mổ heo canh ở ngoài chuồng dùng móc sắt móc chặt lấy hàm. Móc sắt dài khoảng bốn năm thước, dày cỡ ngón út, một đầu tay nắm là một cái vòng tròn, đầu còn lại là một cái móc cong, được mài cho bén ngót. Sau khi heo bị móc chặt sẽ bị đưa lên bàn lấy máu đồng thời bị kéo ra phía trước, còn những người khác giúp nắm tai heo, đẩy mông heo. Heo kêu gào thảm thiết, đôi khi Hà mổ heo không thích nghe thứ âm thanh này thì sẽ cắm móc câu sâu thêm chút nữa, chỉ cần móc trúng cuống họng là heo chỉ biết há miệng chứ không thể kêu gào.
Bàn mổ heo cao chừng một thước, mọi người giơ tay lật heo nằm ngửa lên. Sau đó một người sẽ nhận lấy móc câu mà kéo chắc đầu heo, một người khác sẽ kẹp chặt cái chân trước hướng lên trời của con heo từ sau sống lưng, một người khác nữa đứng sau đuôi sẽ giữ chặt bẹn heo. Giữ kiểu đó, cái chân heo phía sau sẽ không phát được lực, mặc cho nó giãy giụa thế nào.
Hà mổ heo sờ cổ heo, nhắm trúng tim rồi đâm thẳng một dao vào. Nếu như không rút đao ra, lưỡi đao lúc đó gần như sẽ không có máu, từ đó có thể nhìn ra tay nghề của đồ tể đang ở mức nào.
Đem bồn gỗ chứa máu lên rồi mới rút đao ra, tức thì máu văng tung tóe. Thấy máu chảy ra, Hà mổ heo sẽ ra hiệu cho những người khác dần buông lỏng tay ra, thế là giò heo lơ lửng trên không, heo chỉ có thể quẫy đạp mà không có sức lực, mà càng không phát được lực thì càng liều mạng quẫy chân, càng quẫy chân máu càng nhanh chảy.
Cái đồ tể muốn chính là máu chảy cho nhanh, như vậy máu tụ trong thịt mới ít, màu thịt mới tươi sáng được.
Lúc lấy máu heo, đồ đệ sẽ múc nước sôi cho vào thùng chứa, trộn với chút nước lạnh để tránh làm bỏng da heo. Vừa lấy máu xong thì lập tức nhấc heo vào thùng, đầu dưới mông trên, ngâm heo trong nước nóng, đồ đệ sẽ quan sát cử động của đuôi heo.
Trong thời gian hút một điếu thuốc có thể rút được đuôi heo ra. Lúc này, Hà mổ heo sẽ dùng một thanh đao tròn cấp tốc róc nửa cái đuôi heo. Tay nghề nhất định phải nhanh, bằng không nước nóng sẽ làm da heo mịn màng bỏng đỏ.
Sau khi nửa cái đuôi heo đã được róc sạch, đầu heo sẽ được điều chỉnh để cạo trước một nửa, rồi dùng đá bọt cạo sạch vành mắt, khoang tai các thứ cùng với lông trong các nếp gấp da. Thịt trên mặt heo nhiều mà không ngấy, là món nhắm thượng đẳng.
Sau khi đuôi đã sạch tương đối, cả con heo sẽ được vắt ngang trong thùng, dùng nước lạnh xối qua mình heo hai lượt. Nước nóng nước lạnh hòa lẫn vào nhau sẽ khiến da heo tức thì săn lại khóa được phần nước bên trong, như thế thịt được róc ra sẽ trơn bóng láng mịn mà cực có tính đàn hồi.
Sau đó, chặt hai nhát ở khớp xương đùi sau, treo ngược heo trên giá. Lấy dao nhỏ tỉ mẩn cạo một lượt lông tơ, nhúng cả con heo vào nước lạnh cho sạch sẽ. Tiếp đó đổi dao, cắt một vòng phần thịt béo núc xung quanh cần cổ, lúc này xương đốt sống cổ gắn liền với đầu heo hãy còn rắn chắc lắm.
Hà mổ heo ngồi xổm khom mình, hai tay giữ chặt tai heo, hất tay dùng sức vặn đầu heo một cái là nhấc được đầu heo ra, cùng với tiếng “rào rào” vang lên là một lượng máu lớn chảy ra khỏi lồng ngực. Thứ này là thức ăn ngon cho chó.
Trước đây, Hà gia vốn có một con chó lai sói lực lượng nhưng sau khi Hà mổ heo thành thân, lúc nào con chó cũng cắn Hà nương tử, dạy cách nào cũng bằng không. Con chó không thể thân thiết với Hà nương tử được, gặp ngày nào là cắn ngày đó, cuối cùng chỉ đành đem cho.
Lại xối nước lạnh lên mình heo thêm một lượt nữa để làm chắc da heo, rồi lại lóc một lớp da thịt từ sau háng đến đốt sống cổ, lưỡi đao không được sâu, bằng không sẽ tổn thương đến nội tạng.
Trong lúc Hà mổ heo luồn hai ngón tay vào sau bẹn heo để róc phần da thịt trong đó, ngón tay gã dùng sức vạch mạnh xuống dưới một đường, thế là mổ thịt phanh bụng đã xong. Thứ đầu tiên được moi ra là tim, gan, phổi. Bao giờ Hà mổ heo cũng sẽ lật xem tim heo trước, nhìn vết đao trên bề mặt đó để phán đoán thủ pháp của mình. Rồi mới lấy tới dạ dày, ruột, đổ hết chất dơ trong đó ra, dùng một cây gậy trúc mỏng luồn qua lòng ruột một cách điêu luyện rồi lật ngược, súc qua nước nóng một lần là coi như đã sạch.
Lúc này khoang bụng heo coi như đã trống, Hà mổ heo duỗi tay sờ đến lưng heo, nhân lúc lưng heo còn nóng lại thuận tay véo một cái cũng véo được không ít thịt. Véo được nhiều đương nhiên có thể bán thêm được mấy văn tiền. Sau đó dùng lưỡi đao rạch một khe hở bên mỡ lá hai bên xương sườn, xé một lượt từ trên xuống dưới, cả một miếng mỡ lá có thể được tách ra. Nếu dao chậm quá có thể gây tổn thương phần thịt sườn, mà thịt sườn chính là phần đắt nhất trên mình heo, bởi vì đắt, thế nên phải làm cho dễ coi một chút.
Quầy thịt chỉ có thể bán nửa ngày, thường chưa tới giữa trưa là chỉ thừa vài mảnh thịt vụn. Hà mổ heo sẽ về nhà trước, quầy thịt sẽ do đồ đệ trông coi rồi thu dọn.
Nhà không xa, từ đầu ngõ bày hàng đi đến cuối ngõ là tới.
Sau khi vào cửa, Hà mổ heo đưa cật heo cho nương tử. Hôm nay cật heo không tệ nhưng lại bán không được, đành phải tự mình ăn.
Trong thời gian gã tắm rửa thay đồ, Hà nương tử đã xào cật heo xong, còn làm thêm hai món ăn nhẹ, bưng thêm một bình rượu hai người cùng nhau ăn.
Hà nương tử cũng không coi là yêu chồng nhưng cũng không coi là không yêu được, cứ thế sống qua ngày thôi. Tuy rằng nàng thường hẹn hò với Trí Thiện nhưng cũng cũng chỉ là thêm chút gia vị tươi mới cho cuộc đời bình đạm, nếu Trí Thiện thực sự hoàn tục dẫn nàng đi, chưa chắc nàng đã vui lòng.
Có điều vợ chồng hai người thành thân đã nhiều năm rồi mà chưa sinh được một trai nửa gái nào, Hà mổ heo cho rằng vì sát nghiệt quá nặng nhưng lại không còn kế sinh nhai nào khác, thế nên mới bảo nương tử mỗi mùng một và mười lăm vào chùa Tiến Phúc giải nghiệp cho mình.
Bình thường uống rượu, Hà mổ heo lúc nào cũng tự châm tự uống, hôm nay thấy nương tử dọn hai chén rượu liền vui mừng nói: “Ôi, nương tử hôm nay cũng muốn uống một hớp à?”
“Thiếp không uống được à?”
“Được được, đến đây, ta rót đầy cho nương tử.” Hà mổ heo rót đầy chén cho nương tử trước mới rót cho mình, gã nâng chén rượu lên muốn cạn ly với nương tử, ai ngờ nương tử lờ gã mà hớp một mình.
“Chẹp chẹp, khó uống quá, sao chàng lúc nào cũng muốn uống thứ này vậy?”
“Uống hai ngụm một chung, ngày cũng không khó qua nữa.”
Hà nương tử nghẹn họng cạn lời, ngửa đầu uống cạn. Hà mổ heo cũng uống cạn chén của mình, sau khi rót đầy rượu cho cả hai thì tự mình gắp thức ăn.
Thường ngày Hà mổ heo đều uống rượu cao lương, rượu tính cực nồng. Hà nương tử uống một lần nhiều quá, mặt mày chẳng mấy chốc đã đỏ ửng lên, những lời không cần nói bất giác cũng nói hơi nhiều.
“Aiz, lão Hà, chàng biết mấy ngày trước thiếp đến chùa Tiến Phúc được biết chuyện gì không?”
Hà mổ heo không hùa theo, chỉ đưa mắt nhìn nương tử chờ nàng nói.
Hà nương tử chép miệng chán chường: “Chùa mới sửa tháp, động đất năm ngoái chấn động làm nứt tháp rồi.”
“Cái bếp nấu rượu của ta cũng sập nữa, chó má, bếp lò ngã lăn quay!”
“Chẹp… Đúng là không biết làm sao nói chuyện với chàng, ai muốn nói cái này. Lúc hòa thượng sửa tháp có mở tầng hầm ra, trong đó có báu vật đó.”
“Báu vật? Báu vật gì?”
“Nghe nói là đồ hoàng cung dâng cúng cho tự viện cái hồi hoàng đế Tiền Đường rước xá lợi gì đó từ chùa Pháp Môn, chứa đầy hai chĩnh lớn, trong đó vàng này bạc này thứ gì cũng có.” Hà nương tử học theo dáng vẻ của Trí Thiện mô tả lại kích thước của hai cái chĩnh.
Hà mổ heo nhất thời xốc lại tinh thần, buông đũa xuống hỏi: “Thế châu báu đó đâu?”
“Còn ở đáy tháp.”
“Không lấy lên à?”
“Lão phương trượng không cho lấy, dưới đó còn chứa một vài kinh quyển gì đó nữa.”
“Nàng thấy rồi hả?”
Hà nương tử lại tặc lưỡi, nhìn trượng phu bằng vẻ mặt hết sức chán chường: “Thiếp thấy gì chứ, là Trí Thiện đại sư nói đó, chẳng phải tháng nào chàng cũng cúng chùa một cân đèn dầu hả, bây giờ phương trượng già rồi, những thứ này đều do Trí Thiện đại sư lo liệu, mấy ngày trước thầy ấy nói lúc sửa tháp đã đích thân xuống trông thấy đó.”
Hà mổ heo lơ đãng gật gật đầu, bưng chén rượu lên uống cạn rồi nói: “Thằng trọc Trí Thiện đó, lão phương trượng đức cao vọng trọng, sao lại cho cái thứ tệ hại vớ va vớ vẩn đó làm Giám Tự nhỉ…”
“Ơ, thầy ấy chọc gì đến chàng à?” Hà nương tử trợn mắt hỏi trượng phu.
“Hắn trộm của ta!”
Một câu nói làm Hà nương tử tỉnh hồn tức khắc, hơi rượu thoắt chốc cũng tan đi hơn nửa.
Hà mổ heo thấy nương tử nhìn mình chằm chằm thì nói: “Ngoài kia ai cũng nói hắn tham tài háo sắc, một cân đèn dầu này của ta e rằng quá nửa đã bị hắn nẫng tay trên. Nghe nói hắn còn làm nhục khách nữ dâng hương, có người còn treo cổ, chỉ là gia đình sợ mất mặt mới không nói thôi. Sau này nàng cũng nên cẩn thận, chớ bố thí cho hắn. Thế đạo này là thế đạo gì, hòa thượng méo miệng thổi đèn, tràn đầy tà khí, cái thứ thối tha ấy…”
Hà nương tử nghe mà đỏ mặt tía tai, không tiếp lời, nhìn chén rượu đã bưng lên hồi lâu, cuối cùng cũng không uống tiếp được.
(3)
Một buổi trưa trời mấy hôm sau, Hà mổ heo mới từ quầy thịt về nhà thì thấy An mù phấn khởi vác theo con hươu đẩy cửa bước vào.
“Săn đâu được đó?” Hà mổ heo vừa hỏi vừa bước qua giơ tay véo lên mình hươu.
“Haha! Lão Hà, thần kỳ lắm, trông thấy không? Còn sống!”
“Ôi, bởi mới nói sao trói chân rồi mà ông còn vác đi.”
“Sợ chạy! Hôm nay ông phải lột da cẩn thận chút, một con mắt của tôi không thấy đường chứ tay ông đừng có quáng gà nhé.”
“Ông đây có mù đâu, đừng nói là hươu, lột sạch da heo ông đây còn lột được từ trên xuống dưới. Ê, nói đi, bắt được ở đâu đó?”
“Bắt cái bóng! Là lúc đuổi tới bờ sông, con hươu này nhảy qua không được, rớt xuống sông trùng hợp kiểu gì lại kẹt vào khe đá, rồi Con Đen chạy lên kéo được.”
“Chó ngoan!” Hà mổ heo sờ đầu con chó đen bên cạnh, “Lát nữa ông đây cho mày tí huyết!”
Con Đen liếm mồm sủa hai tiếng.
Con Đen là chó săn, chỉ có hai lỗ tai màu đen chứ các bộ phận khác đều có lông tạp.
“Mơ đi cưng, tôi cũng muốn uống mà!” An mù nhìn căn nhà đối diện, thấy Hà nương tử không có ý ra chào bèn nén giọng nói: “Trên đường về vừa hay đụng mặt Quách viên ngoại đang dắt ngựa, ông ta ra giá ngay, da, thịt, máu trọn bộ, còn bảo tôi đến Liễu Phong viện cắt trước mặt ông ta, ông ta muốn mời thêm mấy người bạn cùng chia nhau hưởng thụ ở đó.”
“Ơ sao vậy?” Hà mổ heo chẳng hiểu kiểu gì.
“Ông mổ heo mà không biết hả? Máu hươu đại bổ mà, tráng dương đó!”
“Làm sao tôi biết chứ, ông đây cũng có yếu đâu.”
An mù lén nhìn trộm vào nhà: “Đi thôi đi thôi, cầm theo đồ nghề ra ngõ Phấn với tôi, xong việc rồi tôi mời.”
“Cái thằng này…”
Hà mổ heo vào nhà nói lại mấy câu với vợ, Hà nương tử cũng chỉ gật đầu, thứ duy nhất nàng nghĩ tới là bữa cơm vốn làm cho hai người ăn mới làm được nửa, bây giờ còn lại một mình mình, nên làm nấu tiếp hay là khỏi nấu đây.
An mù là bạn của Hà mổ heo, họ An, nhưng cũng không mù hẳn. Gã là một nông phu nhưng không thích trồng trọt, phần lớn số ngày trong năm đều vác theo lương khô với cung tiễn, dẫn theo Con Đen chạy khắp nơi săn bắt. Hồi ấy lúc đuổi theo con thú săn lỡ chạy nhanh quá, bị cành cây đâm mù một con mắt, phải đeo cái bịt mắt che lại thế nên bị gọi là mù.
An mù săn được nhiều nhất là gà rừng với thỏ rừng, thỉnh thoảng mới gặp được hươu, có điều hươu vừa biết chạy vừa biết nhảy, ít khi bắt được. Bình thường mỗi lần ra ngoài đều phải mất hai ba ngày mới săn được tám chín con thú rừng, nhiều hơn cõng không nổi, trời nóng càng dễ thiu hơn. Thú rừng đều được đưa thẳng đến quán nhậu thân quen, gà nhà nuôi một con hai ba chục văn tiền chứ gà rừng có thể bán được đến bốn năm chục văn, thỏ rừng cũng đáng giá ba bốn chục văn. Một lần đi săn chẳng qua chỉ kiếm được hai ba trăm tiền, bằng mỗi nửa quầy thịt heo của Hà mổ heo nhưng thỉnh thoảng còn có thể bị thú rừng cắn bị thương, cắn cho tàn phế, hoặc là rớt xuống vách núi ngã chết mất xác luôn. Tần Lĩnh có hổ, heo rừng, gấu, sói đủ loại mãnh thú, tuy An mù không vào sâu trong rừng nhưng cũng có thể đụng trúng.
An mù quen Hà mổ heo trong một dịp tình cờ.
Ngày đó trời mới tờ mờ sáng An mù đã ra khỏi nhà, trông thấy một con thỏ trắng to ngồi xổm trong bụi cỏ dại ở một chỗ không xa con đường nhỏ, bèn giơ cung lên bắn, kết quả trong bụi cỏ truyền ra tiếng người thảm thiết kêu la. Con Đen xông lên phía trước cũng sủa ẳng ẳng không ngừng, An mù chạy qua liền thấy một người đàng ông cao to đang cong đít bò toài trên mặt đất rên xiết.
Người đàn ông đó chính là Hà mổ heo, ông ta vừa mới mới mổ heo cho người ta xong về nhà, nửa đường thấy bụng không được khỏe liền ngồi vào bụi cỏ làm luôn, ai ngờ cái mông trắng lại bị An mù tưởng nhầm thành thỏ mà bắn. May mà Hà mổ heo cường tráng, đầu mũi tên không xuyên sâu, hai người bàn nhau nếu mà về tìm lang trung thì tin này mà không truyền khắp xóm khắp làng mới lạ, thế nên nhịn đau rút mũi tên ra. An mù lấy rượu trong hồ lô ra rửa miệng vết thương, lại bôi thuốc tùy thân của mình lên, xé y phục băng bó đàng hoàng rồi cõng Hà mổ heo về nhà. Lão Hà chỉ nói với bên ngoài là bị vấp té, chuyện đít gã bị trúng tên cả Hà nương tử cũng không được biết, đương nhiên nàng cũng chẳng quan tâm. Về sau cứ cách dăm ba hôm An mù lại xách thỏ rừng gà rừng qua cho lão Hà. Hà mổ heo cũng biết điều, hầm thịt trong quầy rồi kêu rượu cho hai người uống, cứ thế mà thành bạn nhậu thân thiết với nhau.
“Gần đây quầy thịt làm ăn được chứ?” An mù bưng rượu hỏi.
“Haiz, được không được gì, cầm cự qua ngày thôi, còn sao được.” Lão Hà cụng ly rồi uống cạn.
“Ông vậy mà còn không biết đủ, chẳng có gì phải gánh vác, vợ cũng đẹp nữa, cả ngày ở nhà chờ ông.”
“Ôi, sau lưng trống không đây này, làm gì cũng không có hứng.”
“Nói gì thế này, ông còn trẻ mà, từ từ đẻ. Coi Quách viên ngoại nhà người ta kìa, đã sáu chục tuổi đầu, vậy mà trong vòng chưa đầy một canh giờ đã uống hai lượt máu hươu, ông nói lão già đó còn biết rén không?”
“Tôi nghe người bên cạnh nói đại thọ sáu mươi tuổi vừa rồi ông ta ăn mừng với con trai đúng không?”
“Chứ sao nữa, bằng không sao lại bảo ông từ từ mà đẻ, tiểu thiếp nhà lão mới đẻ con trai đó.”
“Thằng già này, ai biết là con trai hay cháu trai chứ.”
“Hử? Ha ha ha, có thể, có thể lắm! Thằng con đó của lão có đàng hoàng đâu, cũng có thể là loại làm được thứ chuyện này, dù sao cũng đều là họ Quách, con trai hay cháu trai mà chả như nhau! Đây, cạn một chén.”
Sau khi hai người bỏ chén xuống, An mù nói tiếp: “Lão Hà này, có chuyện lạ lắm. Hôm nay con hươu đó không phải bị Con Đen tóm được ở dưới sông ư? Tôi nói ông nghe nhé, trước đây chỗ đó không có sông, tôi đi qua đó bao nhiêu năm nay rồi cũng có thấy sông đâu, chỉ có sau trận động đất năm rồi mới mọc ra con sông này, ông nói là có lạ không?”
“Chuyện này thì có gì mà lạ, trận động đất năm ngoái làm nứt nhiều đất lắm, có thể dưới đó trùng hợp có nước, dâng lên chả phải thành sông rồi à.”
“Cũng đúng, hàng xóm tôi mất trong trận động đất năm ngoái này. Một người đàn ông cao tới năm thước, ai ngờ rớt khỏi tường, vừa khéo nằm ngay dưới vách tường đổ xuống do chấn động, bị chôn hết ba bốn ngày, mãi đến khi qua cơn một đám người xúc đất lên mới thấy, haiz…”
“Ừ, cái bếp để mổ heo nấu nước của tôi cũng bị đổ do địa chấn, ông nói coi tòa tháp sáu bảy trăm năm vô sự mà vách tường dăm ba năm lại sụp mất, thế sự kiểu gì.”
“Tòa tháp sáu bảy trăm năm gì?”
“Tòa tháp ở chùa Tiến Phúc đó, tháp Tiểu Nhạn.”
“Tháp Tiểu Nhạn sao?”
“Tòa tháp đó năm ngoái cũng bị động đất làm nứt ra một khe, sửa sửa một tí xong ổn rồi.”
“Sao ông biết chuyện bị nứt?”
“Nương tử tôi nói, tôi cứ mãi sát sinh thế này, bởi vậy tháng nào cũng bảo nương tử đến chùa Tiến Phúc cúng mấy cân đèn dầu. Bận trước nương tử tôi nói có hòa thượng trong chùa nói thế, tháp bị địa chấn làm nứt ra một khe, sửa lại chút đỉnh ổn rồi, mà mai mốt còn có người dám lên không nhỉ?”
An mù lắc đầu: “Tôi chưa từng lên đó bao giờ. Chúng ta cũng có trúng kỳ thi võ đâu mà leo lên đó đề tên [9], ông nói thế sau này càng không dám leo lên nữa.”
“Đúng rồi, còn có một chuyện lạ lùng nữa.” Vừa nói, Hà mổ heo vừa nhìn chung quanh, nhoài người ra bàn tỏ ý bảo An mù ghé sát lại, “Nương tử nói, hòa thượng bảo nền tháp của chùa Tiến Phúc bị động đất xô lệch, lúc gia cố đã mở tầng hầm ra, trong đó có vàng bạc châu báu mà hoàng đế đời Đường năm ấy ban cho lúc rước Phật Cốt Xá Lợi, chất đầy mấy chĩnh.” Vừa nói vừa lấy tay họa lại.
“Chó má! Lấy lên hết chưa?”
“Nương tử nói lão phương trượng không cho động vào, sau khi sửa tháp xong thì đóng kín lại rồi.”
“Không sợ trộm à?”
“Trộm cái méo, dưới đáy tháp mà, nghe nói nền đất gia cố xong liền đóng kín. Thỉnh thoảng tôi đến đó cũng là để giải nghiệp, đã thấy tòa tháp đó rồi, dưới đó còn có một Tôn Đại Phật trấn giữ, hơn nữa trong chùa có biết bao nhiêu hòa thượng ở từ sáng đến đêm.”
“Tiếc thay tiếc thay…”
“Ông thì có gì mà tiếc, ông săn thú của ông, tôi mổ heo của tôi, chuyện khác chớ mơ mòng.”
“Nói thì nói thế, nhưng rượu ngon đỏ mặt, tiền bạc mê hồn mà…”
Hai người vừa ăn vừa nói chuyện phiếm, uống mãi đến khi tiếng trống đóng cổng thành vang lên mới tản đi.
(4)
Sau khi về nhà, An mù càng nằm càng thấy bứt rứt, cứ mãi đắn đo về chuyện lão Hà kể. Qua nửa đêm rồi mà nằm cũng không yên, thế là âm thầm ngồi dậy, nương ánh trăng đến gõ cửa hai lần một nhà trơ trọi ngoài thôn.
“Ai đó?”
Người trong nhà dường như hết sức cảnh giác, nửa đêm nửa hôm đang lúc thiu thiu ngủ, mới gõ tiếng đầu thì trong nhà đã vang lên giọng người căng thẳng hỏi rồi.
“Nhị ngố, anh đây.”
Cửa nhà mở hé, một cái đầu thò ra: “Anh mù, muộn thế chuyện gì?”
“Nhà có người không?”
“Không.”
“Vào trong rồi nói.”
Sau khi An mù vào nhà, Nhị ngố lại nhìn ra ngoài trời hồi lâu, thấy không có động tĩnh gì mới nhẹ nhàng đóng cửa, đốt ngọn đèn to bằng hạt đậu lên.
“Anh mù sao lại đến lúc này?” Nhị ngố vừa khoác áo vừa hỏi.
“Gần đây mua bán như nào?”
“Không ổn, lê thu được chẳng ra sao, cứ hơi dập một chút là dẹp rồi.”
An mù dựa người vào mép giường, bĩu môi: “Anh nói Lý Nhị ngố này, chú bớt nói đùa với anh, nửa đêm nửa hôm chú tưởng anh bị rảnh hay gì, đang nói vụ làm ăn dưới đất ấy.”
Nhị ngố miễn cưỡng nhếch mép: “Anh, anh mù ơi, em tưởng anh hỏi lê…”
“Chắc anh rảnh! Gần đây chú đào được gì không? Có nhắm được việc gì không?”
Kết quả là An mù nhăn mặt chỉ vào Nhị ngố: “Nè thằng ngố Lý Nhị, anh đang nói chuyện đàng hoàng!”
“Không không, anh mù à.” Nhị ngố xòe tay tỏ ý xin lỗi, “Thực tình em chỉ muốn nói gần đây không không được may mắn, ra ngoài đạp phải cứt chó, đi tè giẫm trúng chân thôi.”
“Sao, vồ hụt à?”
“Hai tháng gần đây hỏng việc đến ba lần, bề ngoài nhìn thì đẹp chứ vào cái nào là rỗng cái đó, e là bị người cùng nghề nẫng tay trên, anh thấy lạ lùng không.”
“Chú qua đây ngồi, anh hỏi chú chút chuyện.”
Sau khi Nhị ngố ngồi lên giường đất đối diện, An mù mới hạ giọng nói: “Anh biết chú biết đào hầm, ví dụ dưới đất mà có đá xây gạch ngói gì đó thì có đào xuống được không?”
Nhị ngố bụng biết có chuyện, hơi nhướng đuôi mày lên ghé tới trước hỏi: “Anh mù có mối nào à?”
“Khoan hỏi, chú nói trước đã, nếu dưới đất có đá xây gạch ngói, chú có đi xuống tiếp được không?”
“Em nói với anh thế này, phàm là mộ nào được thiết kế, mười thì có hết tám chín bên dưới là đá xây rồi. Có đá xây mới dễ vào, chỗ khó vào đều không có đá xây.”
“Ừ… Chả hiểu nổi cái nghề của chú mày.” An mù không nói gì thêm, đăm chiêu nhìn chằm chằm ánh lửa.
“Anh mù, có mối làm ăn gì hả?”
“Ừ… Có, vụ làm ăn lớn, nếu thành công thì cả đời chú mày không cần đào nữa.”
Thế là An mù bèn đem chuyện châu báu dưới tháp Tiểu Nhạn mà Hà mổ heo kể ra kể lại từ đầu tới đuôi.
Nhị ngố nghe xong liền nói: “Tháp Tiểu Nhạn thì em biết, nhưng tin này chuẩn không? Đừng để phí công hùng hục xuống rồi mừng hụt nhé.”
“Vậy cũng phải, để anh nghe ngóng lại chỗ lão Hà cái đã.”
“Nếu như có người biết, thế có khả năng đã có người thấy, cũng có nghĩa là có người từng xuống đó rồi?”
“Lý thì đúng là cái lý đó, nhưng vốn là do vợ lão Hà nói, mà cô vợ này thì… Chả bao giờ gặp anh, để nghĩ cách bắt chuyện đã.”
“Đừng! Anh mù ơi, anh bớt hỏi ý đàn bà, ả lại chả phải loại điếm thấy tiền là há mỏ, đảm bảo anh hỏi cái gì là nghẹn cái đó thôi. Có điều, nếu đã là chùa Tiến Phúc, em lại nhớ tới một người…”
“Ai?”
“Trí Thiện.”
“Trí Thiện là ai?”
“Giám tự chùa Tiến Phúc.”
“Thế chẳng hóa ra điên à? Làm gì có chuyện trộm đồ còn kêu chủ.”
“Không không, anh mù không biết đó thôi. Đừng thấy Trí Thiện là hòa thượng mà lầm, con lừa ngu đó ăn uống gái gú, chuyện em hay làm gã cũng làm chả thiếu một món. Em vẫn phải nói anh hay, em thường qua lại với con lừa trọc này, mấy lần bán cho gã nào dạ minh châu, san hô, mã não gì đó, gã ra giá cao lắm, bảo chuẩn bị trước để may cà sa mặc vào sau khi làm phương trượng, gã phải loại tốt lành gì đâu.”
“Vậy… Không sợ gã nói hớ ư?”
“Gã? Không đâu không đâu.” Nhị ngố liên tục xua tay, “Anh biết gã khốn nạn thế nào không? Có lần con lừa trọc đó tìm em, nói lúc khâm liệm cho một gia chủ giàu có đã chính mắt trông thấy trong quan tài có biết bao nhiêu châu báu, sau đó liên thủ với em trộm số châu báu đó ra, em vào nghề lâu như vậy, lần phát tài nhất chính là lần làm với Trí Thiện đó.”
“Còn có thứ hòa thượng này…”
“Aiz, nhiều đằng khác, mua đồ của em không phải mỗi gã hòa thượng này. Em thích làm ăn với tụi nó nhất, tụi nó mà ra tay là hào phóng không dám nói chơi, đợi em kiếm cơ hội nào đó nghe ngóng thực hư một phen rồi nói.”
“Thế chú cân nhắc nặng nhẹ, thêm một người coi chừng phải chia thêm một phần.”
“Anh mù sao tối dạ thế? Chùa Tiến Phúc nhiều hòa thượng vậy, anh làm gì có cơ hội ra tay? Tìm quản sự trong đó ra tay dễ hơn nhiều, mà chẳng nhẽ lại đi mời phương trượng nhập hội?”
“Anh… Không phải sợ nói lộ chuyện sao? Chúng ta đã làm chuyện đó bao giờ đâu.”
“Chỉ cần có thể phát tài, anh bảo gã làm gì gã cũng dám. Nếu thực sự lấy được châu báu quý hiếm ra, em đoán Trí Thiện có lòng hoàn tục, gã còn phải sợ em xì chuyện của gã ra ấy chứ.”
“Thế chuyện này có hi vọng không?”
“Có hi vọng không phải đợi hỏi đã mới biết, để em tìm dịp nào đó đến chùa Tiến Phúc thăm dò Trí Thiện trước đã, có điều nếu phải làm ăn thì cần tìm thêm người nữa giúp.”
“Làm gì?”
“Đào hầm đó, một mình em làm gì làm nổi.”
“Có anh.”
“Anh biết bắn cung, tai thính mắt tinh, tốt nhất là ở bên ngoài canh gác, tự viện chứ có phải chỗ hoang vu vắng người đâu, phải tìm được một người có sức khỏe tốt giúp đào đất. Người cùng nghề thì… hơi không yên tâm nổi.”
“Có sức khỏe tốt à… Chỗ anh, chắc là có người này được.”
Hai người xì xầm xì xầm đến khi hừng đông trắng như bụng cá mới thôi.
Lý Nhị ngố ngoài mặt thì bôn ba tứ xứ gom chút lê, táo, rồi lại chuyển cho các gánh hàng rong khắp hang cùng ngõ hẻm ăn chút chênh lệch chứ bên trong thực ra là kẻ trộm mộ kiếm chác. Món nghề này là hồi lâu trước đây học được từ tay một khách thương đến từ kinh thành.
Khách thương đó vốn là một tay trộm mộ ở kinh sư, nhân một án cũ bị phơi ra ánh sáng mà đào thoát được đến phủ Tây An, trong thời gian lẩn tránh thì làm lại nghề cũ trước khi trộm mộ là buôn trái cây. Nhị ngố vì buôn lê với khách thương mà giao thiệp với nhau mấy lần, hai kẻ nặng mùi hợp nhau, rất nhanh đã thành tri kỷ.
Khách thương tật chó không sửa được thói liếm phân, cũng lấy danh nghĩa thu mua trái cây mà đi khắp nơi tìm mộ cũ. Nhị ngố lại là người bản địa, huống chi Quan Trung không thiếu mồ mả, dễ cho hai người cùng nhau quật lên nhiều đồ đạc.
Mồ cũ thường không rộng không sâu, chỉ cần nửa buổi tối đã hết chuyện rồi, có thể làm mà thần không biết quỷ không hay. Đồ bồi táng cũng là lắc tay, vòng cổ, nhẫn, ngọc bội và các thể loại trang sức tùy thân đeo vào lúc liệm, những thứ chai chai lọ lọ không tiện ra tay thì đa phần không lấy, cứ thế Nhị ngố học được tay nghề phong thủy đào hầm.
Về sau phong ba trong kinh thành đã qua, khách thương kia quay về, Nhị ngố biến nghề chính là buôn lê thành nghề phụ, mà đem đào mồ quật mả biến thành nghề chính. Một mình gã đơn độc đi lại trên giang hồ không ai trói buộc, kiếm được tiền thì chơi bời gái gú, tiêu sạch rồi lại đi khắp nơi tìm mộ. Xung quanh biết được chuyện này chỉ có mỗi An mù, bởi vì An mù đi săn cũng thường chạy đường đêm, rất dễ nghe ra mùi đất trên người Nhị ngố.
—
[1] Những chỗ chú thích giờ hiện đại ngay trong văn bản là do tác giả chú thích, chắc là 1 canh giờ = 2 tiếng dài quá nên tác giả muốn tự chú để người đọc dễ hình dung, thành ra tôi để nguyên chú thích này trong văn bản như nguyên tác chứ không chuyển xuống cuối.
[2] Một loại giấy tờ cấp cho tăng ni – những người đã thọ giới để trở thành tăng lữ. Nghĩa là ai sở hữu tờ độ điệp này đều như có 1 giấy chứng nhận cho thân phận xuất gia hợp pháp của mình. Độ điệp có nguồn gốc từ thời Nam Bắc Triều, thịnh hành vào thời Tống, Đường và bị bãi bỏ vào thời Thanh bởi tệ nạn mua bán độ điệp. Như vậy Tần Đa trong truyện này là mua tờ độ điệp giả làm thầy tu, không phải kiểu xuất gia có học giới luật đàng hoàng.
[3] Sanh hoàng (笙簧): Là một loại nhạc cụ bộ hơi truyền thống của Trung Quốc.
[4] Phật Chỉ Xá Lợi: Xá lợi tạo thành từ ngón giữa bàn tay tay trái của Đức Phật sau hỏa táng. Đương nhiên tôi cho rằng mấy cái xá lợi này mà truyền qua tới TQ thì khả năng không phải đồ thật cao hơn.
[5] Tiền Đường: Là Đường triều do Lý Uyên kiến lập, với vị vua nổi tiếng mà đa số chúng ta đều biết là Lý Thế Dân. Sở dĩ có cách gọi Tiền Đường là để phân biệt với 1 triều Đường khác do 1 người khác sáng lập vào tầm khoảng mấy trăm năm sau, triều đó được gọi là Hậu Đường.
[6] Trường Minh đăng: Là loại đèn được cho là có thể cháy trong một khoảng thời gian khá dài, cấu tạo gồm hai lớp, lớp trong chứa dầu và bấc đèn, lớp ngoài chứa nước để làm mát. Người TQ xưa thường đốt đèn này trong tang lễ với niềm tin rằng nó sẽ soi đường dẫn lối cho người chết ở thế giới bên kia. Ngoài ra người ta cũng thắp đèn này trước tượng Phật hoặc trong Phật điện, cũng mang ngụ ý soi sáng tương tự.
[7] Tức Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương trước khi khởi nghĩa lật đổ nhà Nguyên đã từng xuất gia làm hòa thượng. Cộng thêm tên gọi Tây An nữa nên có thể chắc câu chuyện này diễn ra vào thời Minh.
[8] Sau khi Võ Tắc Thiên xưng đế, lập ra triều đình nhà Chu, để phân biệt với nhà Chu thời tiên Tần nên gọi là Võ Chu.
[9] Võ cử đề danh: Ở thời Đường, học sinh quốc nội sau khi đậu tiến sĩ có thể đến tháp Đại Nhạn tiến hành “Đề tên trên tháp Nhạn”, ngụ ý “Đã vượt vũ môn”. Đến thời Minh, những trúng cử kỳ thi võ quê ở Thiểm Tây sẽ bắt chước tập tục tiến sĩ đời Đường đề tên trên Tháp Đại Nhạn mà vào chùa Tiến Phúc khắc tên mình trên vách đá ở tháp Tiểu Nhạn, tạo ra phong tục “Võ cử đề tên trên tháp Nhạn”.
Câu chuyện động đất nứt tháp Tiểu Nhạn tôi có biên 1 bài ở đây
Lúc dịch toy cũng khá là hoang mang, cái bộ này tính phổ cập luôn thường thức đời sống thị dân hay gì mà tả cảnh mổ heo kĩ dữ vậy. Truyện trước bảo thịt mèo chua đã có mấy cái comment bên nhà hàng xóm hỏi: “Ơ thiệt không” rồi. (Thực ra toy nghĩ chúng nó hỏi thế để confirm tác giả ăn rồi hay gì mà biết? Nếu đúng, chúng nó đốt nhà tác giả =))). Toy cũng hoang mang lắm…
Hết sức công bằng, vợ lén chơi trai, chồng đi chơi gái…
Nói chuyện thế hèn gì bị kêu là Nhị ngố =))