CHUYỆN LẠ Ở THÀNH TRƯỜNG AN – NHỮNG NGƯỜI PHỤ NỮ NHÀ A CĂN

By

·

93–140 phút

CHUYỆN LẠ Ở THÀNH TRƯỜNG AN

TRUYỆN: NHỮNG NGƯỜI PHỤ NỮ NHÀ A CĂN

Dịch (láo): A Tĩnh

#truongankydam #chuyenlaothanhtruongan #nhungnguoiphununhaacan

(1)

Nhiều năm sau đó, mỗi lần ở từ đường tế tổ, lúc nào A Căn cũng nhớ về một buổi trưa xa xăm nào đó khi mà các phụ thân quyết định cho mình cưới một lúc ba người vợ. Hôm đó, cha cả, phụ thân và cha ba [1] đều đứng ở từ đường, hàng trước hàng sau chỉ có mỗi ông ta là con, từ bấy đến nay ông ta không sao quên được ánh mắt trống rỗng buồn thương khi cha cả ngoảnh mặt nhìn mình.

Lúc này, một mình A Căn đứng ở hàng đầu tiên, sau lưng ông là bốn đứa con trai, sau lưng các con trai là chín đứa cháu trai đứng ngay ngắn chỉnh tề, này là còn chưa tính một đứa vẫn còn đang trong bụng mẹ.

Còn lúc đó, cha cả cứ mãi đứng ở trước chiếc lò hương lớn đặt trên bàn thờ mà nhìn ngọn nến cháy bừng, phụ thân và cha ba đứng hầu cạnh bên, A Căn ham chơi lòng nóng như lửa đốt, chỉ mong các phụ thân mau chóng tản đi để mình còn đi đốt pháo hoa thỏa thích, sốt ruột nhưng lại không dám vội vàng. Lúc nến đã cháy gần hết, cha cả trầm mặc biết bao lâu mới xoay đầu hỏi phụ thân: “Lão nhị, hôn sự của A Căn đã chuẩn bị thỏa đáng cả chưa?”

“Ừ, không vấn đề gì đâu đại ca, chỉ đợi ngày đó tháng hai thôi.” Nói rồi, phụ thân liền ho húng hắng, cha ba mau chóng đưa tay đỡ lấy phụ thân, tay còn lại vuốt lưng dìu phụ thân ngồi xuống ghế.

Cha cả cũng qua ngồi xuống, đợi phụ thân ho xong liền trịnh trọng nói: “Lão nhị, có chuyện này anh và chị dâu em đã nghĩ rất lâu rồi, hôm qua cũng vừa hỏi mẹ, mẹ nói là chuyện tốt, bảo ba anh em mình bàn bạc rồi xử lý với nhau là được. Hôm nay đại ca trên ngẩng mặt nhìn trời, dưới cúi mặt xuống đất, chính diện đối mặt tổ tông, moi tim móc ruột ra mà nói.”

“Đại ca nói đi.” Phụ thân dằn cơn ho xuống.

“Anh muốn làm thêm một đám cưới nữa cho A Căn.”

Phụ thân vừa mới ngừng ho thì lại bắt đầu ho tiếp. Hồi còn trẻ cha từng bị thương, sau đó sức khỏe vẫn luôn rất kém. Ho rồi hít một hơi sâu: “Đại ca, A Căn đã đính hôn rồi, còn là cháu gái nhà mẹ đẻ nó, tên Bội Lan. Chuyện này anh phải biết chứ…”

“Đương nhiên anh biết Bội Lan, ý anh là thêm một hôn sự của dòng trưởng làm cho A Căn, toàn bộ phí tổn ăn tiêu đều tính cho dòng trưởng, đương nhiên con dâu cũng là con dâu của dòng trưởng nhà anh, sống ở chỗ anh, về sau sinh con… Cũng sẽ là cháu của dòng trưởng.”

Phụ thân không ho nữa, cũng không nói gì mà chỉ nhìn cha cả.

Cha cả nhìn lên bài vị trên bàn thờ nói: “Năm nay anh đã sáu mươi rồi, tuy rằng sinh được ba đứa con trai nhưng đến nay chỉ còn mỗi con bé Bảo Châu còn sống, hơn nữa nó đã lấy chồng từ lâu. Hôm nay ngoài cửa không người, muốn kén rể cũng không có biện pháp. Hơn nữa, con rể dẫu sao cũng là một kiểu người ngoài, không bằng cho A Căn lấy một cô vợ ở chỗ anh, chúng ta cùng cho hai đứa nó tam môi lục sính, bái đường thành thân hệt như nhau. Mỗi tháng A Căn qua ở mấy ngày, chỉ cần giúp con dâu mang thai hạt giống nhà anh là được.”

Phụ thân đờ đẫn hồi lâu, sau khi hoàn hồn mới cười nói: “Em thấy chả sao, này là chuyện tốt mà đại ca, Hạ gia chúng ta hôm nay vượng tài không vượng người, chúng ta là ba anh em, truyền đến thế hệ sau bây giờ chỉ có mỗi một mình A Căn, lão tam năm nay…”

“Nhị ca, em nhỏ hơn anh bốn tuổi.” Cha ba thấy phụ thân nhìn chằm chằm mình bấm đốt tay tính, liền nói.

“Lão tam năm nay đã bốn mươi tám tuổi rồi, mười năm nay nhà ta cũng không có thêm người nào nữa, xem ra, cứ làm vậy thôi…” Phụ thân dịu giọng rồi lại thở dài, “Lỡ như A Căn là một đứa không nên người, Hạ gia chúng ta đành đứt tuyệt hương quả. Về hôn sự của A Căn, mẹ nó cũng từng nói với em, nếu Bội Lan vào nhà rồi mà sinh nở chậm quá thì để con bé Đinh Hương hầu hạ nó hầu hạ trong phòng A Căn cũng được, mẹ nó bảo Đinh Hương nở nang, khung chậu cũng lớn, là là kiểu dễ sinh nở.”

“Ôi, vậy thì dễ nói rồi, chị dâu em còn sợ em dâu cố ý kiến nên bảo anh dò thử ý kiến em trước xem sao.” Vẻ mặt cha cả bất giác dịu đi.

Phụ thân ngồi thẳng lưng, chăm chú nhìn bài vị trên bàn thờ: “Chuyện này mà còn cần dò ý nữa sao, A Căn là do em sinh nhưng cũng là con trai của đại ca và tam đệ mà, nó là dòng dõi Hạ gia chúng ta, đừng nói như người ngoài.” Phụ thân dời mắt sang cha cả rồi nói, “Cưới! Chỉ cần kịp, hai nhà chúng ta cho cưới cùng ngày, để bà con hàng xóm ăn tiệc mừng nửa tháng giúp nhà ta sung túc hơi người, vậy mới xung hỉ.”

Cha cả đứng dậy kéo lấy A Căn đang đứng bên cạnh, vỗ mạnh lên vai A Căn hai cái: “Con của cha, để lát cha cả nhờ bà mai đi hỏi cưới, cha đã chọn được vợ cho con rồi.”

A Căn mặt mày hoang mang nhìn cha cả, cậu chàng còn chưa hiểu được ý nghĩa chân chính đằng sau cuộc đối thoại này và ảnh hưởng nó mang đến cho mình mãi về sau.

Đột nhiên, một bàn tay nặng nề vỗ lên vai kia của A Căn, là cha ba. Cha ba kéo lấy cánh tay A Căn, nhìn cha cả và phụ thân nói: “Ôi chu choa, em nói đại ca nhị ca này, nếu vậy em cũng lấy một cô vợ cho A Căn nữa, đến khi Lai Đễ trưởng thành rồi gả ra ngoài là xong. Hạ gia chúng ta chỉ còn mỗi hạt giống này, tháng nào A Căn cũng ghé đến chỗ em mấy ngày giống hệt chỗ đại ca là được.”

Cha cả híp mắt cười gật gù, phụ thân ho một tiếng nói: “Người ngoài chắc hâm mộ lắm!”

Cha ba vừa vỗ vai A Căn vừa nói: “Con trai của cha, Hạ gia chúng ta sau này đều trông cả vào con đó.”

Gần hai mươi năm nay, thứ khiến cho phú hộ Hạ gia trấn Quách Đỗ ở ngoại ô nam thành Tây An đau đầu không ngoài mỏng duyên đường con cái.

Sau khi cụ ông Nham Đà của Hạ gia tạ thế vào mười tám năm trước, lão thái thái trở thành người nắm quyền quản lý, giờ đã được bảy mươi lăm tuổi sắp thành bà lão hồ đồ đến nơi mà không dám bảo ba đứa con trai chia nhà ra ở.

Tổ tiên nhà họ Hạ làm nghề đào dược liệu, đào bới thảo dược mưu sinh. Tần Lĩnh có nhiều loại dược liệu quý hiếm, Hạ gia đào thảo dược đời này qua đời khác, đến đời của phụ thân ông cụ Nham Đà thì đem gia sản nhiều đời tích lũy mở một hiệu bán dược liệu thô ở trấn Quách Đỗ. Từ đó, Hạ gia không còn đào dược liệu bán cho người khác nữa mà đánh la lên núi thâu thuốc, thồ về sơ chế rồi bán ở cửa hàng dược liệu thô nhà mình.

Do xuất thân cùng khổ lại cần cù sơ chế, thuốc của Hạ gia uống lần nào công hiệu lần đó. Người mua thuốc phần lớn là dân làng, gặp phải người không có tiền còn cho mua chịu, sau khi gặt lúa mà nhớ ra thì có thể mang mấy đấu lúa mì hay ngô bắp gì gán nợ, không nhớ thì Hạ gia cũng không giục không đòi. Nói thì nói vậy nhưng bà con thiếu tiền quay lại chỉ có đưa thêm chứ không đưa thiếu hoặc không đưa. Tiếng lành cứ thế đồn xa, bệnh nhân bốn phương tám hướng đều sang đó bốc thuốc, Hạ gia dần dần trở thành nhân vật tên tuổi tiếng tăm trong trấn Quách Đỗ, mà thứ khiến Hạ gia thực sự thoát thai hoán cốt lại là việc kinh doanh dầu thông không ai ngờ tới.

Năm đó hoàng gia khởi công tu sửa điện Đại Quang Minh ở Tây Uyển cần gấp một lượng lớn dầu thông nhưng món này chỉ cây thông mới có, hơn nữa sản lượng còn ít, thời gian lại chậm, nhất thời cần dùng một số lượng lớn không dễ kiếm chút nào. Triều đình bèn phát minh chiếu đến các Bố Chính Ti toàn quốc bảo địa phương thu mua dầu thông chuyển về kinh thành. Cơ duyên xảo hợp, Hạ gia tình cờ còn tồn rất nhiều thùng dầu thông lớn, nhờ đó phất lên.

Số lượng dầu thông cần dùng trong hiệu thuốc không nhiều, lại dính dính quánh quánh không dễ sơ chế, Hạ gia bèn lấy toàn bộ dầu thông thu được chứa trong một cái vò sứt miệng, muốn trữ cho nhiều chút để chỉ tốn nhân lực một lần. Ai bảo cây thông trên Tần Lĩnh quá nhiều, dược nông hái thuốc gặp được bèn thuận tay vót một nhúm, lúc thu mua dược liệu dầu thông cũng thuộc về loại hàng hóa không bàn giá cả, cứ được là người ta bán. Cứ thế dầu thông từ một vò biến thành một hũ, từ một hũ biến thành một thùng, nhiều năm sau không ngờ đã chất đầy thành thảm họa, đành phải chất ở hậu viện hiệu thuốc, người đi đường cách một quãng xa mà cũng nghe được mùi thông.

Bố Chính Sứ Thiểm Tây tiếp được minh chiếu liền phái nhân mã nghe ngóng rồi nhanh chóng biết được Hạ gia đang tồn một lượng dầu thông lớn. Lo thủ hạ chậm tay bị số quan lại khác mua được, Bố Chính Sứ liền đích thân đến cửa, niêm phong toàn bộ mấy thùng dầu thông to tướng của Hạ gia rồi chất lên xe áp giải lên kinh thành, đồng thời đệ trình tiến cống hoàng gia, lập được đại công. Hạ gia vừa bán dầu thông vừa được Bố Chính Sứ phát cho một món tiền không nhỏ, Tri phủ Tây An vì muốn nịnh nọt Bố Chính Sứ mà đóng cho Hạ gia một tấm thiếp, cho phép Hạ gia mua bán dược liệu thô với quan chức Biện Dược Cục thành Tây An.

Phụ thân của Hạ Nham Đà trở tay một cái đã dựng được năm cửa hiệu ở cổng Nam Viện thành Tây An, treo lên được tấm bảng hiệu “Tần Thảo Sảnh”. Đến khi ông cụ Nham Đà tạ thế, ngoại trừ “Tần Thảo Sảnh” trong thành ra, trấn Tử Ngọ ở chân núi Tần Lĩnh, trấn Dẫn, trấn Đỗ Khúc và trấn Quách Đỗ quê nhà đều có cửa hàng của Hạ gia, vừa mua vừa bán. Trên núi Tần Lĩnh lại càng có cực nhiều điểm thu mua dược liệu, từ đó, Hạ gia trở thành phú hộ một vùng ngoại ô nam thành Tây An, sửa nhà mua vườn mua đất, gây dựng được gia nghiệp khổng lồ.

Ông cụ Nham Đà sinh được năm con trai một con gái nhưng chỉ có ba đứa con trai còn sống, bởi vì phất lên nhờ bán dầu thông nên tên của ba đứa con trai đều có chữ Tùng [2]. Lão đại Hạ Tùng Tiết, lão nhị Hạ Tùng Âm, lão tam Hạ Tùng Thuần. Thực ra ba anh em sinh được không ít con nhưng chỉ nuôi cho sống được bảy đứa, hơn nữa con trai chỉ có mình A Căn, năm nay tuổi tròn mười bảy. Trên A Căn có năm người chị, dưới còn có một đứa em, đây chính là nguyên nhân lão thái thái đến giờ vẫn gánh vác gia đình, bởi vì một khi chia nhà thì dòng trưởng Hạ Tùng Tiết và dòng thứ ba Hạ Tùng Thuần sẽ thành tuyệt hậu.

Lão đại Hạ Tùng Tiết lúc còn trẻ tuổi đã theo ông cụ Nham Đà kinh doanh buôn bán, vốn dĩ có ba con trai, con trưởng Bảo Phúc ra đời lúc Tùng Tiết mới mười chín tuổi. Lại qua năm năm nữa, Tùng Tiết sinh được một con gái, đặt tên Bảo Châu, trên dưới cả nhà đều gọi là chị cả. Năm Tùng Tiết hai mươi bảy tuổi thì có thêm đứa con thứ tên Bảo Lộc, cùng năm đó lão nhị Hạ Tùng Âm đính hôn, lão tam Hạ Tùng Thuần vừa trưởng thành với thân hình vạm vỡ, Hạ gia tứ đại đồng đường, người – tiền đều vượng.

Chuyện xảy ra năm trưởng tôn Bảo Phúc mười lăm tuổi. Năm đó lão nhị Hạ Tùng Âm theo thông lệ dẫn theo đội lừa chở bạc lên mấy điểm thu mua dược liệu trên núi Tần Lĩnh, Bảo Phúc ầm ĩ đòi đi theo, gia đình cản không được bèn dắt theo cùng. Một là đi cùng có rất nhiều tôi tớ, hai là Tần Lĩnh tuy rằng dã thú nguy hiểm nhưng đường đi thu mua dược liệu đều là làng mạc ngoài rìa, ba là Bảo Phúc với tư cách là trưởng tôn sớm muộn gì cũng phải lo chuyện kinh doanh hiệu thuốc, gia đình nghĩ để nó làm quen sớm một chút cũng tốt. Nào hay đội lá đụng trúng thổ phỉ Thanh Hoa Trại trên núi, đáng lý Hạ gia thu mua dược liệu xưa nay chưa từng đi vào cốc Thanh Phong mà thổ phỉ thường lui tới, nhưng năm đó ba cấp nha môn tỉnh phủ huyện Tây An phát binh diệt phỉ, thổ phỉ chia chác của cải rồi chia thành hai nhóm chạy thoát. Khéo thay, một toán thổ phỉ đụng mặt Hạ Tùng Âm. Thổ phỉ thoạt nhìn thấy đoàn thương nhân bèn không nói tiếng nào cứ cướp hết nào la nào bạc, lại trói Hạ Tùng Âm và Bảo Phúc lại, sai tôi tớ về nhà đưa tin, bảo Hạ gia cầm tiền đến chuộc người đúng hạn. Ông cụ Nham Đà vừa nghe đến Thanh Hoa Trại bèn lập tức quyết định vung tiền tiêu tai, từ hồi còn tráng niên ông đã biết tới oai danh của Thanh Hoa Trại, xưa nay chỉ cướp quan không cướp dân, chuyến này là bị quan phủ diệt phỉ, cấp bách quá thiếu tiền mới trói người, chỉ cần móc tiền ra là hết chuyện. Có trách thì phải trách lão đại Hạ Tùng Tiết giải quyết vụng về. Ông ta mang theo bạc chuộc người, nửa chừng bị mỡ lợn che mờ hai mắt, nghĩ quan binh nếu đang diệt phỉ, tôi tớ lại biết nơi trú thân của thổ phỉ, thế nên liền lén lút báo quan. Quan quân vừa nghe liền không nói không rằng cướp sạch bạc của ông ta. Đem cho thổ phỉ thì là chuộc người, cho quan phủ thì lại là trợ quân, bạc được sung làm lương hưởng để quan quân dùng dẹp yên thổ phỉ. Kết quả thổ phỉ phát hiện ra chuyện này liền chó cùng rứt dậu, lúc đào thoát còn trút giận lên Hạ Tùng Âm và Bảo Phúc bằng cách đẩy họ xuống vách núi. Bảo Phúc ngã chết ngay tại trận. Hạ Tùng Âm nhờ mắc lên được một cái cây chắn ngang eo lúc tiếp đất mà ngã trọng thương nhưng coi như nhặt về được nửa cái mạng.

Bảo Phúc chết chưa được hai năm, Hạ Tùng Tiết họa vô đơn chí, đứa con thứ mới chín tuổi là Bảo Lộc ngã xuống ao nước lúc chơi đùa. Đứa con được vớt lên ngay lập tức nhưng phổi bị úng nước, ho đến bọt máu tràn ra đầy miệng mũi, cuối cùng chống đỡ được nửa tháng thì không gắng gượng được mà tuyệt mệnh. Cùng năm ấy, Hạ Tùng Tiết đã ba mươi sáu tuổi, dưới gối chỉ có một khuê nữ Bảo Châu mười hai tuổi.

Lão nhị Hạ Tùng Âm giữ được nửa cái mạng, cả ngày nằm trên giường uống thuốc dưỡng bệnh. Khi ấy vợ của lão tam Hạ Tùng Thuần đang mang thai, Bảo Lộc chết vào tháng năm, tháng mười nhà lão tam sinh được cô con gái. Ông cụ Nham Đà thấy trong nhà rối reng bèn tìm hỏi âm dương, Âm Dương tiên sinh nói Bảo Phúc, Bảo Lộc được đặt cho cái tên quá quý, con nhà bách tính bình thường không gánh vác nổi, thời gian lâu dần sẽ nghiền nát đứa trẻ.

Đời cháu của Hạ gia không có con trai, ông cụ Nham Đà liền đặt đứa con gái đầu tiên của nhà lão tam tên Chiêu Đễ hòng mở một con đường cho Hạ gia, Chiêu Đễ được xếp sau Bảo Châu, tiểu danh là nhị tỷ. Năm kia, Hạ Tùng Âm ngã bị thương dần khỏe mạnh lên, phòng nhì có động tĩnh, sinh được một khuê nữ đặt tên là Tư Đễ, tiểu danh tam tỷ. Lại thêm hai năm nữa, vợ lão tam lại có bầu, dưới con mắt mong chờ của mọi người, vậy mà vẫn sinh ra một cô con gái, đặt tên là Dẫn Đễ, tiểu danh là tứ tỷ.

Tổ tiên Hạ gia bần cùng, từ lâu đã đặt ra gia quy được phép tục huyền nhưng không được quyền nạp thiếp, ông cụ Nham Đà vì để kế tục hương hỏa mà phá bỏ quy tắc này, cưới thêm một di nương nữa cho lão tam Hạ Tùng Thuần là người trẻ tuổi nhất. Di nương cũng biết phấn đấu, ngay năm đó liền hoài thai, nhưng cách năm lại vẫn sinh ra con gái, đặt tên là Phán Đễ, tiểu danh ngũ tỷ. Năm đó lão đại Hạ gia cũng đã đến tuổi không còn nghi hoặc [3] mà chỉ có duy nhất một cô con gái Bảo Châu. Lão nhị đã qua tuổi tự lập [3], có một con gái tên Tư Đễ. Lão tam Hạ Tùng Thuần cũng đã hai mươi tám tuổi không còn nhỏ nữa, nhưng trong nhà chỉ có ba cô con gái Chiêu Đễ, Dẫn Để, Phán Đễ. Ông cụ Nham Đà vô cùng bối rối, chạy khắp nơi cầu tiên hỏi quẻ, lại mời Âm Dương cầu an cho gia trạch, tu sửa lại mộ phần tổ tiên, quyên tiền sửa miếu cho thôn làng, còn xây một cây cầu đá bắc qua sông ở đầu thôn.

Qua một loạt nhọc nhằn cuối cùng cũng thật sự hiển linh. Đầu tiên là dòng trưởng nhiều năm không sinh con đẻ cái đột nhiên có thai, mấy tháng sau cái bụng của dòng thứ hai cũng lớn. Lại qua tháng ba năm sau, Hạ Tùng Tiết già rồi lại được con, quét sạch đen đuổi nhiều năm của mình. Ông cụ Nham Đà mặt mày nở hoa, sắp xếp chờ ngày cháu mình đầy tháng sẽ dựng đài hát kịch, trả một cái giá cao mời Cửu Tuế Hồng có danh tiếng nhất Tây An đến tần xoang. Dân làng còn chưa đợi được tiếng chiêng trống chúc mừng vang lên thì đã nghe thấy tiếng kèn bầu tang tóc phát ra từ nhà họ Hạ. Đứa trẻ còn chưa đầy tháng đã chết yểu, ông cụ Nham Đà sốt ruột công tâm mà trút hơi thở cuối cùng, đi theo đứa cháu.

Ông cụ và đứa trẻ được tiễn đi vào tháng bảy, cả nhà họ Hạ cũng không rảnh bi thương bởi vì vợ lão nhị bị khó sinh. Đứa con sinh ba ngày ba đêm vẫn chưa ra được, sản phụ mệnh như chỉ mành treo chuông. May mà Hạ gia là cửa hàng bán dược liệu thô, dùng dược liệu quý hiếm tích trữ đưa người từ quỷ môn quan trở về, cuối cùng sinh được một hạt giống nối dõi. Lão thái thái đã gần sáu mươi tuổi thắt chặt ống quần lội nước, đích thân hầu hạ mợ hai ở cữ.

Đến khi đứa con đầy tháng biết ăn biết khóc biết ngủ, cả nhà mới thở phào nhẹ nhõm. Lão thái thái đặt cho đứa trẻ tên A Căn, còn gửi danh phù ở chỗ Quan Lão Gia miếu Quan Đế, lệnh cả nhà bao gồm cả tôi tớ nha hoàn ra vào đều phải gọi hai tiếng A Căn, cả nhà cứ thế gọi A Căn A Căn, kiên quyết phải giữ được hạt giống này. A Căn vẫn luôn khỏe mạnh bình an đến năm mười hai tuổi, lão thái thái mới hoàn toàn yên tâm mà đến miếu Quan Đế trả lễ, đặt cho nó cái tên Hạ Thuyên Trụ. Sau này ba anh em Hạ gia chỉ có thêm một đứa con do di nương của dòng thứ ba sinh ra lúc A Căn bảy tuổi, vẫn là con gái, đặt tên Lai Đễ, tiểu danh lục tỷ. Bởi bên trên đã có năm cô chị nên trên thực tế cả nhà đều gọi lục tỷ là tiểu lục. Từ đó bốn cô con dâu nhà họ Hạ đều đóng cửa không ai sinh hạ được thêm đứa con nào.

Ban đầu khi ông cụ Nham Đà còn tại thế đã cho dòng trưởng lo liệu việc kinh doanh, dòng thứ hai nằm nhà kéo dài thọ mệnh, dòng thứ ba chăm lo cả nhà lớn nhỏ và coi sóc nhà cửa điền trang các nơi, chuyện phân gia không nhắc nửa chữ, bởi thế Hạ gia mấy chục nhân khẩu cứ thế cùng sống với nhau. Nơi Hạ gia ở chính là mấy tòa xuyên viện liền nhau, nóc nhà tiền viện chính là hiệu thuốc sát đường, nhị viện là nơi ở của dòng trưởng, tam viện là dòng thứ hai, tứ viện là dòng thứ ba, ông cụ Nham Đà và lão thái thái ở nhà cũ trong hậu viện. Chung quanh nhà cũ còn có một xuyên viện nhỏ và vườn hoa, mấy viện lạc lớn đều mở cửa bên hướng về ngõ nhỏ, trong ngõ không có gia đình nào khác, tháng rộng năm dài bà con đều gọi nơi này thành hẻm của Hạ gia.

(2)

Đại đa số của nả mà các hộ nông dân vất vả cả năm trời tích lũy cũng chỉ miễn cưỡng giúp họ sống qua được tháng giêng, tháng ba khai xuân mới có cỏ dại và chồi non, thế nên tháng hai trở thành những ngày tháng khó sống nổi nhất, thứ có thể bào dưới đất ngoại trừ cục đất ra cũng chỉ có cục đất thôi. Song tháng hai năm nay, bà con trấn Quách Đỗ có thể thả cửa lấp đầy cái bụng ngon lành tròn cả tháng ở Hạ gia. Mấy năm gần đây, nhà họ Hạ đã gả đi năm cô con gái, nhưng lấy vợ vẫn hệt như đại cô nương sắp lên kiệu hoa – mới chỉ lần đầu. Nhà họ Hạ không chia nhà, chiếu lý hẳn nên dùng tiền của phòng kế toán trong nhà cũ để tổ chức nhưng lần này ba anh em mỗi người đều lấy cho A Căn một cô vợ mà cô nào cũng mà cưới hỏi đàng hoàng bái đường thành thân làm chính thất, phòng sổ sách lo liệu kiểu nào cũng thấy khó xử. Cuối cùng lão thái thái lên tiếng nói phần tiền cưới vợ chia làm ba phần, nhà nào đến xuyên viện của nhà đó tự tổ chức lấy, không đủ tiền thì tự bù vào, muốn đông vui cỡ nào thì làm đông vui cỡ đó, vui vẻ cả làng.

Từ lúc ông cụ Nham Đà tán tài rồi bắt đầu có được cháu trai, nhà họ Hạ liền thay đổi nếp sống tằn tiện ngày trước, bố thí rộng rãi với bên ngoài hơn, theo cách nói của lão thái thái thì là người vượng tài cũng vượng, tiền muôn bạc vạn mà không có người nào thì cũng để người ngoài chiếm hết cả thôi. Bởi thế Hạ Tùng Âm liền tới chào lý trưởng và địa bảo trước nhắn cho bà con hay không phân sang hèn ai cũng có thể đến giúp tổ chức đám. Dẫu sao cũng là cha ruột, không khí đám cưới đông vui thế là truyền ra từ xuyên viện của phòng nhì trước. Vừa hay đúng lúc nông nhàn, bà con già trẻ trai gái đều tụ tập ở hẻm nhà họ Hạ, mẹ A Căn lấy một khoản lớn tiền tiết kiệm ra để lo việc ăn uống. Hai vợ chồng quản gia chia ra điều phối nhân thủ trong ngoài. Đàn ông tháo vát thì mua rượu thịt, giết heo mổ gà, chà cọ lò bếp. Đàn bà nhanh nhẹn nhặt rau thái thịt, nhào bột chiên thịt viên, rửa chén rửa đĩa chuẩn bị đồ dùng làm tiệc. Đám tôi tớ giăng đèn kết hoa dựng giàn giáo. Người già và trẻ em chẳng cần làm gì cả, chỉ việc ngồi dưới ánh mặt trời ven đường phiếm chuyện chờ cơm.

Mấy ngày trước chuẩn bị những chuyện linh tinh vụn vặt, nhà họ Hạ ngày nào cũng chuẩn bị hai bữa cơm cho bà con. Buổi sáng thì nấu một nồi lớn rau luộc bánh hấp, buổi chiều thì một bữa nhân thịt băm, bếp lò lửa cháy không ngừng, ăn thỏa thích, nuốt thỏa thuê. Cánh đàn bà trong nhà muốn rửa cũng không nhanh được, sân trong sân ngoài nơi nào cũng có dân làng ngồi bưng một cái chén lớn xì xụp húp mì, có ghế cũng chả thèm ngồi chỉ thích ngồi xổm vậy mà ăn. Hạ lão thái thái chống gậy, nha hoàn đỡ bà đi đi dừng dừng khắp nơi, há cái miệng không răng lọt gió soàn soạt cao giọng nói: “Ăn đi! Bà con cứ ăn cho no vào, có đủ!” Bây giờ bà lại thích cái cảnh tượng đông đúc lắm người này, cho rằng làm vậy mới tăng thêm hơi người cho Hạ gia.

Bởi vì biết bao nhiêu năm qua mới cưới vợ lần đầu, thân bằng quyến thuộc xa gần của Hạ gia, thân hào hiển quý, bạn hàng buôn bán, nhân vật nào có tên có tuổi nơi này mời được đều mời cả. Tiệc lưu động đã bắt đầu từ ba ngày trước ngày cưới chính thức, trước là chiêu đãi bà con đến giúp lao động được ăn một ngày, để người ta còn tiếp tục ra sức làm việc. Bàn tiệc tám món nguội tám món nóng, có chay có mặn, bàn này liền bàn kia, vòng này tiếp vòng nọ. Trên bếp lò, chiên xào nấu nướng kho lăn hầm ninh không bao giờ ngừng lửa. Ngày thứ ba tân nương vào cửa, không khí lúc bái đường thành thân đạt đến cao trào náo nhiệt.

Mấy ngày trước Hạ Tùng Âm uống thêm nhân sâm để bồi bổ tinh thần, hôm nay lột xác từ đầu đến chân. Ông ta chống một cái nạng ngồi ở chủ vị, không ngừng vừa nghe vừa gật đầu với những người đến chúc mừng, làm gì có thứ nào dễ chịu hơn mấy lời nịnh nọt đó đâu. Trên thực tế, người tiếp đón tiễn đi, tiếp rượu chiêu đãi là Hạ Tùng Tiết và Hạ Tùng Thuần, quản gia lo liệu bàn tiệc chạy trước chạy sau.

Lúc lên đèn, A Căn và cô dâu mới cùng ngồi bên mép giường, bốn năm đứa trẻ con bưng mấy cái đĩa đầy táo đỏ, đậu phộng, long nhãn, tiền đồng, tim sen đứng trước giường, vợ quản gia hát: “Em ơi vẩy phía đông rèm, chập chờn bóng nến bức rèm xa xăm; một phen rèm vẩy phía nam, ý tình hòa hợp đắm chìm say sưa; phía tây em đã vẫy chưa, lưu tô dải lụa bốn bề xõa ra; rồi sang phía bắc vẫy xa, đắm chìm một nét chu sa giữa mày; giữa giường em vẩy một tay, phù dung một cặp sum vầy dưới trăng, tưởng như gặp được nữ thần, hồng vân tụ hội rỡ ràng núi Vu; vẩy sau rèm một vốc to, vợ chồng hòa hợp bên nhau trọn đời, mai sau phu xướng phụ tùy, chớ làm sư tử Hà Đông gầm gừ.” Bà ta hát một câu, lũ trẻ lại sang một góc giường vẩy ra một vốc. Mẹ A Căn, đại nương, tam nương, tam di nương dìu lão thái thái ngồi bên cạnh góp vui. Vẩy xong quanh rèm lại uống rượu hợp cẩn, ăn quả cát tường, bánh như ý, ầm ĩ mãi đến khi hoàn tất toàn bộ nghi lễ mọi người mới tản ra. Dưới nến đỏ lay động trong tân phòng chỉ còn mỗi A Căn và cô dâu Bội Lan.

Bội Lan nhỏ hơn A Căn một tuổi, là cháu gái của mẹ A Căn, nhà mẹ đẻ kinh doanh lá trà, môn đang hộ đối với nhà họ Hạ. Mẹ A Căn từ nhỏ đã vừa ý Bội Lan, đến khi hơi lớn một chút liền đính hôn cho hai đứa để hai nhà thân càng thêm thân. Bội Lan từ nhỏ đã có vài năm chơi chung với đám con trai ở trường tư thục, là người tri thư đạt lễ, tính tình ngoan ngoãn dịu hiền, cử chỉ đoan trang chín chắn, rất được cô mẫu cũng chính là mẹ chồng bây giờ ưa thích.

Từ hồi A Căn còn chưa ra đời thì chị cả Bảo Châu đã xuất giá, chị hai, chị ba, chị tư, chị năm đều chỉ lớn hơn cậu có mấy tuổi, cùng ăn chung chơi chung với nhau từ nhỏ, sau này lần lượt từng người xuất giá, nói ra thì A Căn thực sự cũng không xa lạ gì với các cô nương. Nhưng mãi đến khi chui vào cùng một ổ chăn với Bội Lan, mình trần kề cận, A Căn mới phát hiện mình là một tấm chiếu mới, không hề biết gì về phái nữ cả, hoàn toàn mù tịt về chuyện nam nữ với nhau. Mà chuyện này cũng chẳng lạ gì, Hạ gia chỉ có mỗi một đứa cháu đích tôn, từ nhỏ đã trông chừng cẩn thận, ra vào đều có người theo, tuy rằng nhà đông con gái nhưng dẫu sao cũng là vai chị, ai lại nói với thằng bé những chuyện này. Bội Lan thẹn thùng xấu hổ, không dám ho he gì. Ngày tiếp theo, giày vò mãi đến sau nửa đêm A Căn mới miễn cưỡng hiểu được thành thân có nghĩa là gì bèn như bừng tỉnh giác ngộ thở dài một câu: “Hấp dẫn quá chừng!” rồi kiệt sức ngủ thiếp đi.

Bà con lại bắt đầu tụ tập ở con hẻm Hạ gia từ sớm, quản gia sắp xếp người dở bếp lò lều chiếu dọn ra ngoài, Hạ Tùng Tiết ở xuyên viện nhà mình đích thân chỉ huy mọi thứ phải sắp xếp như nào, lần này đến lượt dòng trưởng nhà ông làm chủ. Bà con ban đầu còn thấy mới mẻ, chưa từng thấy qua hỉ sự kiểu này nhưng rất nhanh chẳng còn mấy ai thấy kiểu cách này hiếm lạ nữa, việc nên giúp người ta làm thì góp sức mà giúp, lúc nên ăn cơm thì nhét đầy cái bụng mà ăn, bụng phải đủ nước đủ dầu mới là chuyện đúng đắn. Bàn tiệc chuẩn bị giống hệt như nhau, đây là chuyện ba anh em đã bàn với nhau từ trước, ba nhà tổ chức như nhau, không để bà con có cơ hội so bì, như vậy mới không làm mất thể diện Hạ gia. Đến ngày đãi tiệc lưu động vẫn là bàn này nối tiếp bàn kia, vòng này nối tiếp vòng nọ. Quá trình đón dâu bái đường A Căn đã không còn cần người dẫn đạo nữa, chuyện vừa mới trải qua, xe nhẹ quen đường cứ thế đón cô dâu Táo Hoa vào cửa, tuy rằng là xuyên viện của cha cả nhưng bây giờ cũng là nhà của cậu rồi.

Đến khi nhánh thứ ba tổ chức thì càng dễ nữa, mọi người thuộc cửa quen đường, lặp lại quy trình giống hệt như trước. Song A Căn đã không còn một chút tinh thần nào, hai lần làm lễ cậu đều giữ vai trò trung tâm, xong chuyện mới ngủ cũng phải vận động thể chất, chuyện đêm đến A Căn mới trải lần đầu, huống chi Bội Lan và Táo Hoa mang đến cho cậu hai lần trải nghiệm không giống nhau trên cùng một sự việc, cứ thế tham lam thỏa thích mấy ngày.

Do cha cả và cha ba đều xem cậu như con trai ruột mà mấy ngày này, A Căn thường đến xuyên viện của cha ba hơn. Gian nhà chính chỗ cha ba là một cái tổ chim sẻ đúng nghĩa, Chiêu Đễ, Dẫn Đễ, Phán Đễ và tiểu lục cứ quay quanh cậu thử cát phục, chí cha chí chóe rì rì rầm rầm, A Căn chỉ thấy có một cái tổ ong chui vào đầu cậu vo ve mãi không dứt. Tuy hai lần trước lấy vợ cũng có mấy người chị này nhưng nhà cậu có người chị ruột là Tư Đễ, nhà cha cả có Bảo Châu, thế nên bọn họ ít nhiều cũng có phần dè dặt, lần này đến nhà họ thế là cứ mặc tình huyên náo. Ít nhiều gì cũng phải chịu đến đêm ngày thành hôn chính thức, hoàn tất mọi nghi lễ rồi ai nấy tản ra, A Căn chẳng náo động gì cứ thế cởi áo lên giường, qua loa bảo cô dâu mới Hà Diệp vẫn còn ù ù cạc cạc lo mà ngủ đi. Mắt cậu sớm đã mở không lên nổi rồi.

(3)

Bình thường Hạ gia chủ yếu nấu cơm ở nhà bếp nhà cũ nhưng các xuyên viện đều có phòng bếp nhỏ của riêng mình, bình thường đến giờ cơm, nhà bếp lớn sẽ chia thức ăn vào các ngăn xếp tầng rồi đem phát, bởi chưởng quỹ và tiểu nhị ở cửa hàng dược liệu đầu hẻm cũng cần phải ăn.

Ngày thường Hạ Tùng Tiết phải chạy khắp các cửa hàng nhưng hễ mà ở nhà đều sẽ ăn cơm với lão thái thái ở lão trạch. Hạ Tùng Âm thường niên ăn trên giường bệnh, do mẹ của A Căn và bà vú tự nấu cơm ở xuyên viện nhà mình, A Căn hiềm cơm nơi này nhạt như nước lã nên gần như không ăn. Sau khi thành thân, lão thái thái liền bảo Táo Hoa ở nhà lớn hầu hạ cha mẹ chồng, Hạ Tùng Tiết nếu có ở nhà cũng không cần mỗi bữa cơm đều qua đó nữa cho quen nếp, dẫu gì con trai cũng đã là ông lão sáu mươi rồi. Bà cũng bảo Bội Lan đừng sang nhà cũ mà ở lại giúp mẹ chồng săn sóc cha chồng nhiều hơn, lão thái thái thực sự sợ Hạ Tùng Âm sẽ đi trước cả bà. Cả nhà Hạ Tuần Thuần thêm cả cô con dâu mới cưới Hà Diệp vẫn tiếp tục hầu lão thái thái ăn cơm ở nhà cũ. Đương nhiên A Căn cũng ở đây, chủ yếu là lão thái thái không rời cậu được, nói A Căn phải ăn trước mắt bà mới ăn được nhiều cơm.

Tối hôm ấy, trên bàn ăn vừa xuất hiện một nồi bánh bao hấp trắng muốt, A Căn liền tức khắc nhớ đến Táo Hoa, cũng đã nhiều ngày không sang viện bên ấy rồi, sau khi thắp đèn cậu chàng liền lỉnh qua bên đó.

Táo Hoa lớn hơn A Căn bốn tuổi, lúc thành thân nàng đã được hai mươi hai, là một cô nương đầy đặn, con gái một phú hộ ở Lâm Trấn. Năm Táo Hoa mười lăm tuổi, mẹ nàng trúng gió liệt nửa người, trong nhà ngoại trừ phụ thân ra còn có hai người em chưa đến tuổi thành niên, việc chăm mẹ và lo ăn mặc cho cả gia đình thế là rơi xuống đầu nàng. Ba năm sau mẹ nàng tạ thế, Táo Hoa mười tám tuổi phải mau chóng lấy chồng, thế nhưng đứa em trai lớn mới vừa đính hôn, nồi cơm trong nhà lại do nàng gánh vác, đợi tới đợi lui đến khi em dâu vào cửa đã là chuyện của hơn một năm sau rồi. Bà con chưa kịp nhớ ra nàng mười chín thì Táo Hoa đã thành một bà cô già hai mươi tuổi, người đến đề thân nếu không phải là các ông góa vợ muốn tục huyền thì là cục thịt trong quan tài sắp phải vùi thây đất vàng đòi nạp thiếp, không thì là tốp trẻ ăn bữa nay không biết bữa mai, nhà nghèo đến nổi cửa khép không chặt. Cha Táo Hoa tuy rằng là phú hộ nhưng trong nhà cũng có ít ruộng cằn, tuy không coi là sung túc nhưng chí ít cũng có thể ăn no mặc ấm thế nên không bằng lòng mấy cuộc hôn nhân chả ra ngô ra khoai gì đó. Táo Hoa lại có tướng mạo cao ráo rắn chắc vai rộng eo tròn, ra đồng làm việc cũng đã bằng hơn nửa đàn ông, thỉnh thoảng dăm ngày ba bữa theo cha ra đồng, ngược lại càng trở nên tráng kiện, thế là cứ ở nhà thêm tận hai năm.

Khi Hạ Tùng Tiết nhờ bà mai tìm con dâu cho đã ra hai điền kiện: Tuổi tác phải lớn hơn A Căn và thân thể phải tráng kiện. Ông ta nói với bà mai rằng dòng trưởng phải lo kinh doanh dược liệu, người làm ăn coi trọng “gái hơn ba vàng ôm đầy nhà”. Còn lý do thứ hai là vì Hạ gia ai cũng ốm yếu, lấy một cô vợ tráng kiện có thể thay đổi môn phong, về phần cô dâu cửa nhà cao thấp gì chút đỉnh cũng không thành vấn đề, dẫu sao Hạ gia cũng không thiếu bạc.

Hạ Tùng Tiết vốn có tư tâm, bàn tính trong lòng ông ta chính là bất kể như nào trưởng tôn cũng phải ra từ dòng trưởng, vai vế này cho ra thì dễ chứ muốn lấy về rất khó, bởi thế cần đằng gái lớn chút thì dễ sinh hơn. Mặt khác ông ta cứ canh cánh trong lòng đứa con chết yểu của mình và chuyện năm đó mẹ A Căn khó sinh, hai mẹ con suýt chút đều bước vào quỷ môn quan, ông ta nghĩ nếu mẹ A Căn có thể trạng rắn rỏi chút sẽ không xảy ra chuyện này, thế nên mục tiêu của ông ta rất rõ ràng, con dâu của chi trưởng không thể có bất kỳ sơ sót nào trên phương diện sinh nở được. Lời ông ta nói bà mai tin mới là lạ nhưng bà mai cầm tiền nói chuyện, mặc kệ ông cưới dâu là có mưu toan gì. Cách ngày, bà mai liền đề xuất Táo Hoa, Hạ Tùng Tiết tìm Âm Dương thầm tính toán bát tự hai người, rất hợp kết hôn. Nhưng ông ta vẫn không yên tâm lại sai mẹ Bảo Châu đặc biệt chạy thêm một vòng, vờ như hỏi đường nói chuyện với Táo Hoa mấy câu, mẹ Bảo Châu về nói vừa nhìn đã thấy là tướng dễ sinh nở, khung chậu rất rộng và chắc. Tức thì, hai vợ chồng già liền xác định cưới cô con dâu này, lại bảo bà mai xác nhận với cha của Táo Hoa, hai người trước là hợp kế đòi cưới hỏi đàng hoàng chính thê cho dòng trưởng, nếu thực tế không làm được thì để làm lẽ cho A Căn. Nhưng Táo Hoa vĩnh viễn vẫn là con dâu trưởng của dòng trưởng, chỉ cần sinh được một đứa con nối dòng, sau khi hai vợ chồng già trăm tuổi sẽ để lại hết gia sản cho hai mẹ con Táo Hoa. Cha Táo Hoa thấy bà mai đến cầu hôn, nói là cưới cho đứa cháu đích tôn của “Tần Thảo Sảnh” liền không so đo là thê hay thiếp, bảo kiệu hoa mau chóng khiêng về là xong. Giao thừa tế tổ, sau khi Hạ Tùng Âm đồng ý cho A Căn thành hôn, mẹ Bảo Châu lại bắt đầu lo lắng lỡ như A Căn chê Táo Hoa thì thế nào? Đứa cháu đích tôn được trên dưới cả nhà chiều chuộng tám trăm dặm miếu quanh đây, người ngoài không hiểu chứ bản thân mình lẽ nào còn không hiểu A Căn? Hôn sự của dòng trưởng lại tổ chức sau dòng thứ hai, mẹ Bảo Châu và mẹ A Căn đều từng gặp Bội Lan rồi, so Táo Hoa với Bội Lan thực đúng là lừa què còn đòi chạy thi với ngựa, cả đời cũng không sánh kịp. Hai vợ chồng già vắt óc suy nghĩ hai đêm, thực sự sợ rằng sau khi thành thân A Căn sẽ chê Táo Hoa mà không đến chung đụng thì còn sinh con gì nữa. Đến đầu năm sau đứa con gái thứ hai về nhà mẹ đẻ, trông thấy Bảo Châu, hai vợ chồng mới có chủ ý. Mẹ Bảo Châu bảo con gái đến nói rõ đầu đuôi với Táo Hoa trước, thế nên mới có đêm đầu tiên với Táo Hoa khiến A Căn vừa nhớ mãi không quên vừa khiếp đảm kinh hồn.

Hôm bái đường thành thân A Căn vẫn luôn ngờ vực không biết rốt cuộc cha cả đã tìm cho mình một cô vợ thế nào, tướng tá trông thì vạm vỡ, đứng còn cao hơn cả cậu ta. Đêm xuống động phòng, A Căn cầm móc vén khăn trùm đầu lên, vừa vén được một nửa đã bị giật mình: “Oái! Nàng, nàng sao lại thế này?”

A Căn lùi lại hai bước vứt móc câu đi, xoay người vừa bước ra ngoài vừa nói: “Ta, ta phải đi tìm Bội Lan…” Ai ngờ Táo Hoa vén hẳn khăn trùm đầu ra, sải bước chắn ngay trước cửa, tiện tay chốt cửa lại. A Căn ngẩn người, ngẩng đầu nhìn chằm chằm Táo Hoa: “Nàng, nàng muốn quậy cái gì?”

Táo Hoa mặc kệ, tóm lấy cánh tay A Căn kéo đến trước giường, tiện đường còn thổi tắt nến trên chiếc bàn vuông, ngay cả đèn trường minh đốt trong đêm tân hôn cũng tắt. A Căn sững sờ, nghe thấy tiếng cởi y phục sột sà sột soạt, tim cậu đập lên dữ dội, vừa mò ra bên ngoài vừa la: “Nàng muốn làm gì?” Đột nhiên một thứ sức mạnh từ đâu ập tới ấn cậu xuống giường. Ở Hạ gia đã bao giờ cậu phải bị đối đãi thế này đâu, vừa muốn chửi cha mắng mẹ thì đã bị đè lên mặt, cực kì giống như đưa cái đầu vào lồng hấp bánh vào ngày tam cửu [4], hơi nóng hầm hập khiến cậu thở không ra hơi, lại càng thấy mơ màng. Xúc chạm nóng hổi cứ cọ tới cọ lui trên mặt A Căn, cả người A Căn bắt đầu ngứa ngáy. Bàn tay Táo Hoa bắt đầu vuốt ve lồng ngực và trên dưới phần bụng dưới của A Căn, bàn tay với những vết chai thô ráp đến nỗi khiến da bụng A Căn hơi đau nhưng lại toát lên vẻ khoan khoái tê dại. A Căn bắt đầu mê say, trong lúc ngơ ngác, cậu nhớ đến những ngày ở trong ổ chăn hồi nhỏ ngủ với vú nuôi. Ban đêm, mẫu thân phải thường xuyên bưng nước đút thuốc cho người phụ thân bệnh tật, A Căn liền do vú nuôi chăm, đêm nào vú nuôi cũng vuốt ve bụng dưới của A Căn như vậy. A Căn từ từ hưởng thụ không khí mẫu tính đã lâu không được nếm trải này thì thình lình một thứ kích thích giật mình chạy từ mũi chân lên thẳng đỉnh đầu. A Căn muốn ngồi dậy giãy ra nhưng lại bị một cánh tay còn lại của Táo Hoa ấn chặt trên giường.

Trời sáng, A Căn tỉnh dậy trước tiên, nhìn bốn bề mới biết mình đang ở nơi nào. Một cánh tay của Táo Hoa đang gác trên mình A Căn, A Căn nhẹ nhàng đẩy ra, đưa mắt nhìn Táo Hoa đang say giấc, tướng mạo không xấu, cũng coi như đứng đắn, chỉ là xương cốt hơi lớn, hơi bị tráng kiện thôi. Một cảm giác thư thái không biết từ đâu mà đến, đó là cảm giác mà ngoài vú em cho A Căn lúc nhỏ ra thì chưa từng có ai cho được. Nhớ lại đêm qua, A Căn tưởng đâu nhờ Bội Lan mà mình không còn là tấm chiếu mới nhưng, nhưng xem ra vẫn còn mới lắm.

Nếu phải luận công ban thưởng cho hôn sự với Táo Hoa, vậy công đầu nhất định phải tính cho Bảo Châu. Hồi Bảo Châu xuất giá, dòng trưởng trên có Bảo Phúc dưới có Bảo Lộc, chính là thời điểm mà Hạ gia người-tài cùng vượng, lại là lần đầu tiên gả con, bất luận là phô trương của nhà đẻ hay nhà chồng đều vô cùng hoành tráng. Bảo Châu đã sinh được hai trai một gái, lại rất được phu tế yêu thương, tuy đã là một người đàn bà ba mươi sáu tuổi rồi nhưng nhan sắc mặn mà dáng điệu thướt tha. Cô nàng đương nhiên hiểu rõ tình hình Hạ gia cũng hiểu chỗ bất đắc dĩ của dòng trưởng. Phụ thân còn tại thế, nàng vẫn còn hưởng được ít vinh quang nhưng nếu như phụ thân trăm tuổi qua đời mà dòng trưởng tuyệt hậu, thế thì số gia sản thuộc về dòng trưởng đó, một khuê nữ đã gả ra ngoài như nàng nửa phần cũng không chia được. Thế nên mùng hai về nhà, được nghe lo lắng của cha mẹ, ngày tiếp theo Bảo Châu liền thu xếp lễ vật đến nhà Táo Hoa. Sau khi nói rõ thân phận, Bảo Châu và Táo Hoa đơn độc ở chung một phòng, nàng sợ bà cô này nghe không hiểu mình nói gì liền “mở cửa đón nắng, nói trắng ra”, khai mở từng lớp từng lớp cho bà cô này, giúp Táo Hoa hiểu được chuyện nam nữ. Chỉ cần đóng cửa vứt bỏ thể diện, đàn ông vào rồi đừng cho chạy là xong, cứ thế ép buộc! Sau lại nói đến chuyện gia sản giúp Táo Hoa hiểu rằng, chỉ cần nàng có con, thế thì dòng trưởng sẽ chiếm được một phần ba gia tài bạc vạn của Hạ Gia, những thứ này về sau đều là của mẹ con Táo Hoa hết. Tháng giêng Bảo Châu đến nhà Táo Hoa mấy lần, khiêu khích bà cô già vẫn còn e thẹn, đỏ mặt tía tai là Táo Hoa, thế nên mới có màn kinh tâm động phách này.

(4)

Hôm nay, ngũ tỷ Phán Đễ về nhà mẹ đẻ, ra mắt bà nội ở nhà cũ xong thì về nhà mình, vừa vào viện liền trông thấy nha hoàn Tiểu Hồi đang ngồi bên cạnh bếp lò ở hành lang sắc thuốc, đó là việc thường ngày từ khi Hạ gia mở hiệu thuốc đến nay, ruồi nhặng giơ chân cũng dám tự mình bốc thuốc.

“Tiểu Hồi, sắc thuốc cho ai vậy?”

Tiểu Hồi ngoảnh đầu đứng lên: “Cô nương về rồi, là sắc cho mợ ạ.”

“Hà Diệp bị sao?”

“Lão gia nói là thuốc bổ?”

“Thuốc bổ? Lại lấy đậu hũ lót giường…”

Nghe thấy bên ngoài có người nói chuyện, mẹ ruột của Phán Đễ vén rèm cửa nhà chính ra nói: “Bởi mẹ nói đêm qua sao mí mắt cứ giật cả đêm, hóa ra tại con ranh này.”

“Má này… Nói gì thế.” Phán Đễ cười hì hì vào nhà, thấy phụ thân đang cầm một tờ giấy nói gì đó với mẹ mình, bèn nói, “Cha, mẹ, lão Lưu đến trấn Tử Ngọ làm việc, con tiện xe ghé nhà xem sao, Tiểu Hồi nấu thuốc bổ gì cho Hà Diệp vậy?”

Năm đó ông cụ Nham Đà vì muốn giúp Hạ gia kéo dài hương hỏa mà lấy cho Hạ Tùng Thuần thêm một di nương, thế nên Phán Đễ do di nương sinh ra kêu ai là mẹ cũng thành một vấn đề. Ông cụ Nham Đà không giống những nhà khác bảo Phán Đễ gọi chính thê của Hạ Tùng Thuần là mẹ rồi gọi mẹ ruột mình thành dì mà bảo Phán Đễ gọi mẹ ruột là má, như vậy mẹ hay má đều thân như nhau. Chính thê của Hạ Tùng Thuần và di nương mỗi người đều sinh ra hai cô con gái, cũng không có gì mâu thuẫn, không khí cả nhà vậy mà rất thuận hòa ấm êm.

“Con gái về à, thì là mẹ con thấy thân thể Hà Diệp ốm yếu nên mới tẩm bổ.” Hạ Tùng Thuần vừa nói vừa gấp tờ giấy gai nhét vào túi áo. Nhân hôm giao thừa ở từ đường Hạ Tùng Tiết và Hạ Tùng Âm nói sẽ cùng cưới vợ cho A Căn mà Hạ Tùng Thuần nghĩ mình cũng đã đến tuổi biết được mệnh trời [3] rồi mà sau khi sinh Lai Đễ mười năm, cả hai người vợ không sinh được thêm đứa nào nữa, xem ra số trời đã định mình không có con trai. Nghĩ vậy chi bằng nhân cơ hội này cũng cưới cho A Căn cô vợ, đến khi sinh cháu rồi gả Lai Đễ đi, không được nữa thì kén rễ là đã có hai phần bảo hiểm. Đương nhiên, Hạ Tùng Thuần cũng che giấu tư tâm muốn sinh trưởng tôn của mình.

Đám cưới tổ chức một lượt vào tháng hai sẽ bớt được lắm phiền hà, bởi vậy từ đoạn chọn con dâu hợp bát tự đến ngày thành thân đều rất gấp. Hà Diệp chẳng khác chi được mua về, nàng là con gái thứ tư của một nhà nghèo, không sang quý chút nào cả. Cha Hà Diệp chỉ mong sao có người rước cái miệng ăn này đi sớm cho nhờ, huống chi sính lễ của Hạ Tùng Thuần lại phong phú, tuy rằng vội vã nhưng lấy về rất nhanh. Hà Diệp vừa tròn mười lăm, tuy là một cô gái nhà nghèo nhưng tướng mạo lại vào hàng duyên dáng nhất trong số các cô vợ và các chị em của A Căn. Eo cong như rắn nước, vai xinh như đẽo gọt, da thịt trắng trẻo mướt mát còn hơn cả Bội Lan, chỉ là người hơi gầy yếu chút. Lúc nàng ra đời, mặt hồ trải đầy lá sen, cha mẹ nàng thuận miệng liền đặt tên Hà Diệp, vì thế Hà Diệp cũng từng oán giận cha mình tốt xấu gì cũng phải đặt tên Hà Hoa chứ, nhưng cha nàng nói lúc đó hoa sen còn chưa nở.

Mẹ Phán Đễ nói: “Lão gia giấu con bé làm gì, nói ra đi biết đâu Phán Đễ về có thể hỏi cô gia cho.”

“Đúng rồi Phán Đễ, con về rồi hỏi cô gia thử, xem có phương thuốc bí truyền nào không, không phải cô gia thường ra vào nội trạch quan gia à, chuyện như này chắc từng thấy qua không ít.” Má Phán Đễ phụ họa theo.

Hạ Tùng Thuần liền móc tờ giấy ra đưa cho con gái, Phán Đễ mở toa thuốc ra xem. Trai gái trong nhà họ Hạ đều quen mặt với dược liệu và toa thuốc, có thể xem như chuyên gia trong nghề. “Cha, phương thuốc này cứ kì kì sao ấy, thuốc dẫn là sáu cặp mắt ếch, một cặp tinh hoàn dê à.”

Mẹ Phán Đễ nói: “Cha con bị ma ám rồi, sợ Hà Diệp giống mẹ và má con chỉ sinh được con gái, không biết kiếm ở đâu ra phương thuốc này, bảo có thể sinh con trai.”

Hạ Tùng Tuần trợn mắt nhìn mẹ Phán Đễ: “Nói cái gì vậy, họa may công hiệu thì tiện dụng rồi.”

Má Phán Đễ nói: “Nếu công hiệu thì để em với chị hai uống hai thang thử, biết đâu sinh được con trai cho lão gia.”

Mẹ Phán Đễ nói: “Chị đến tuổi này thì thôi, nếu thực sự công hiệu em cứ thử đi nhé.”

Hạ Tùng Thuần lại trợn mắt nhìn hai bà vợ: “Không biết xấu hổ gì, đẻ được con trai thì đã đẻ cho tôi lâu rồi!”

Phán Đễ cảm thấy mặt mình nóng hầm hầm liền xoay lưng ra trước bức bình phong vờ như đang xem tranh vẽ, trông thấy cô nàng quay đi, má Phán Đễ nói: “Phán Đễ, cô gia nhà con không kém hơn lão gia mấy tuổi mà cũng có thể có con lúc xế chiều, con về hỏi cô gia thử xem có phương thuốc bí truyền gì không, đừng nói là có mà không nỡ cho đó.”

Phu tế của Phán Đễ là Lưu y quan chưởng quản cục thuốc Huệ Dân huyện Trường An. Tổ tiên nhà họ Lưu nhiều đời đều giữ chức trong thái y viện, lão Lưu tuổi đã ngoài bốn mươi, vợ ông mất sớm, dưới gối chỉ có hai con gái. Bởi cục thuốc Huệ Dân và nhà họ Hạ thường trao đổi dược liệu với nhau, đôi bên vô cùng thân thuộc, thêm nữa lão Lưu thường đến kho nhà họ Hạ tìm thuốc quý cho mình, tới tới lui lui rồi để ý Phán Đễ. Má Phán Đễ cân nhắc việc mình chỉ là di nương, y quan tốt xấu gì cũng là quan bèn đồng ý cho Phán Đễ tục huyền với lão Lưu. Phán Đễ cũng biết phấn đấu, gả vào rồi cùng năm liền sinh cho lão Lưu hai cậu con trai. Cái này gọi là mẹ quý nhờ con, Phán Đễ nhờ đó mà được nhà họ Lưu vô cùng sủng ái, dẫn đến địa vị ở nhà mẹ đẻ cũng không khác gì những người chị do chính thất sinh ra. Phán Đễ do dự giây lát rồi nói: “Có thì có… Cũng thường uống, chẳng qua là… Không phải thuốc bổ, mà là rượu.”

Hạ Tùng Thuần nhìn con gái: “Rượu thuốc?”

Phán Đễ không nói không rằng, chỉ gật đầu.

“Vậy con về xin cô gia toa thuốc đi, nhà ta lập tức ngâm ngay.” Má Phán Đễ nói.

“Má à, đó… toàn là thuốc cũ lâu năm, nhiều vật quý giá, nào có chuyện hai ba ngày là ngâm ra được…”

Mẹ Phán Đễ nói: “Vậy con xin cô gia một ít để nhà mình cho Hà Diệp uống.”

“Mẹ ơi, không phải để con gái uống đâu…” Nói rồi Phán Đễ đỏ hết cả mặt, lại xoay người ra trước bức bình phong nhìn chim hoa trên thắt lưng mình.

Hạ Tùng Thuần từ sắc mặt và ngữ điệu của con gái mà hiểu ra, “Ồ” một tiếng rồi ghé sát tai má Phán Đễ nói nhỏ: “Bảo Phán Đễ lấy một ít về đây đi.” Nói rồi liền nhấc chân ra khỏi nhà.

Buổi trưa ba ngày sau, Phán Đễ lại về nhà mẹ đẻ, đưa cho Hạ Tùng Thuần một hồ lô rượu. Hạ Tùng Thuần mở ra ngửi ngửi: “Quả nhiên là thứ thái y viện không cho ngoại truyền, ngửi mùi liền biết không tệ rồi! Cái con ranh này đưa cha làm gì, người làm cha chồng như cha làm sao nói với con dâu được chứ.”

Mẹ Phán Đễ nói: “Đúng rồi Phán Đễ, vẫn là con đưa Hà Diệp tiện hơn, thứ này mà đưa cha con thì chưa kịp đem cho đã hết quá nửa rồi.”

“Bà nói gì vậy!” Hạ Tùng Thuần trợn mắt nhìn mẹ Phán Đễ.

Phán Đễ lại thấy nóng mặt, trước khi xuất giá không hề để ý thấy cha mẹ mình không đứng đắn thế này, thế là vội tiếp lấy hồ lô rồi đến sương phòng. Hà Diệp đang thêu gì đó, thấy Phán Đễ vào phòng liền bỏ xuống, gọi “Ngũ tỷ”, phải mất khá nhiều ngày nàng mới phân biệt được thứ tự của mấy cô con gái nhà họ Hạ.

“Thêu gì đó?”

“Rảnh rỗi không có gì làm mới thêu cho A Căn mấy cái áo yếm, cái của chàng cũ rồi.”

Ba cô con dâu đều tuân theo thói quen của Hạ gia, người trước người sau đều gọi trượng phu là A Căn, không gọi thiếu gia.

“Nó còn mặc cái này!”

“…”

“Em nhận cái này đi.” Phán Đễ đưa hồ lô cho Hà Diệp.

“Ngũ tỷ, gì vậy?”

“Rượu thuốc, cho A Căn uống, em đừng uống nhầm đó.” Trước mặt em dâu, Phán Đễ dễ nói nhiều hơn, “Nó năng qua bên này không?”

“Lần trước là… hai ba ngày, lần này, bốn năm ngày mới đến một đêm…” Mặt Hà Diệp đỏ ửng lên, nói rồi liền mau chóng để hồ lô trên mấy cái bàn sát tường dùng để bày chậu cảnh.

“Toàn ở chỗ Bội Lan à?”

“Cũng không hẳn, lần trước nghe nói là ở tiền viện…”

“Chỗ Táo Hoa?” Phán Đễ kinh ngạc tròn mắt nhìn Hà Diệp.

“Ừ…” Trông thấy vẻ mặt của Phán Đễ, Hà Diệp không biết mình đã nói sai cái gì, người xuất thân nghèo khổ như nàng vẫn còn chưa ra dáng mợ hai.

“Trời đất ơi! Chị cứ cấn cấn mãi tại sao cha mẹ cả lại tìm cho A Căn một cô… vợ như vậy. Thằng nhóc A Căn, thì ra trong mắt nó em còn không bằng một con bò mẹ!” Một tràng trắng trợn khiến Hà Diệp vốn có phần xấu hổ liền tức thì đỏ bừng mặt lên. Lúc này, tiểu lục Lai Đễ chạy vào phòng. Lai Đễ và Phán Đễ đều do di nương sinh ra, thân thiết hơn người thường. Trông thấy Phán Đễ, Lai Đễ liền gọi: “Chị, chị ơi, chị đến hồi nào đó, em vừa nghe má nói.”

Phán Đễ đảo mắt, chợt có chủ ý, nàng kéo Lai Đễ lại nói: “Tiểu lục, chị nhờ em giúp chuyện này, làm được lần tới chị mang bánh hấp ở cổng Nam Viện tới cho em.”

“Thật hả chị?” Tiểu lục phấn khích lắc lắc cánh tay Phán Đễ.

“Thật, chỉ cần em làm được.”

“Vậy chị nói mau đi.”

“Tối đêm nay, em đi gọi anh A Căn của em qua đây cho chị.”

“Này thì có gì khó, giờ em đi liền.”

“Không không, tiểu lục, sau khi trời tối đã, đến lúc đó bất kể A Căn ở đâu đều phải gọi A Căn đến phòng chị dâu Hà Diệp của em, hiểu không?”

Phán Đễ nhìn Hà Diệp nói, “Được rồi, nếu nó không qua thì chị kéo nó qua.”

Trên thực tế, A Cặn bị tiểu lục kéo đến từ chỗ Bội Lan. Bận trước A Căn nếm trải sự đời lại một mạch cưới liền ba cô vợ, quả thực tham lam hơn vài phần, mấy ngày nay đã thấy hơi mệt mỏi. Cha A Căn lo cho thân mình chưa xong càng khỏi nói có sức đâu mà lo chuyện của A Căn. Mẹ A Căn và vú nuôi lại một mức yêu thương A Căn, người duy nhất quản được A Căn là Tư Đễ nhưng lấy chồng rồi thì chuyện gì cũng để mặc A Căn.

Bội Lan ở ngoài thì nghe mẹ chồng, ở trong thì nghe A Căn, bởi vậy toàn để mặc A Căn thích làm gì thì làm ở xuyên viện nhà mình. Lúc tiểu lục đến, A Căn đang híp mắt nằm đong đưa trên ghế bập bênh, Bội Lan đang đổ nước rửa chân cho A Căn. Tiểu lục gọi “Chị dâu” rồi không nói thêm gì cứ thế kéo A Căn ra ngoài, A Căn và Bội Lan đều tưởng đâu bên chỗ lão thái thái có chuyện gì, cũng không hỏi gì thêm. Đến hậu viện, A Căn bị kéo vào phòng Hà Diệp, tiểu lục vứt lại một câu “Ăn cơm” rồi bỏ chạy. A Căn nhìn mấy cái đĩa nhỏ dưới ánh nến chao đảo trên bàn, nói: “Ta tưởng đâu lão thái thái có chuyện gì, bữa tối mới vừa ăn xong, sao còn bày ra nữa.”

Hà Diệp khẽ nói: “Chiều nay ngũ tỷ có ghé, mang theo món thịt ướp của Túy Trường An, lão thái thái cắn không nổi, nhớ ra chàng thích ăn thịt liền để lại chỗ thiếp, để đến ngày mai sợ không ngon nữa…”

“Đồ ăn của Túy Trường An hả, vậy phải ăn hai đũa mới được.” Nói rồi A Căn ngồi khoanh chân, Hà Diệp rót một chung rượu, A Căn bưng lên định uống nhưng ngửi mùi là lạ bèn ghé đến trước nến xem, “Rượu này… Màu sắc là lạ, ngửi mùi cũng… quái quái.”

“Rượu cũng do ngũ tỷ đưa qua nói là rượu dưỡng sinh của thái y viện, bình thường chỉ để cho quan gia dùng.” Lời Hà Diệp nói là do Phán Đễ dặn nàng.

“Hèn gì mùi thuốc lại vừa nồng mà lại vừa toát ra vị thanh mát.” A Căn một hơi uống cạn, nhâm nhi mùi vị rồi nói, “Vị cũng không đắng.”

Hà Diệp gắp một miếng thịt ướp cho A Căn trước, sau đó lại rót đầy một chung. A Căn nhấm nháp mấy miếng nói: “Đầu bếp Túy Trường An nấu càng lúc càng dở, trần bì trong thịt quá nhiều, át cả mùi vị. Ôi, nàng đừng nhìn không thế, rót chung rượu uống đi.” A Căn bưng chung rượu lên, một hơi nốc cạn. Chung rượu không lớn cũng chỉ bằng một hớp thôi.

“Thiếp khoan hẵng ăn, chàng cứ thử trước, ngũ tỷ nói rượu này mạnh, dễ say khướt lắm.” Hà Diệp do dự một lát, lại rót đầy chung rượu cho A Căn rồi mới cất bình rượu đi.

“Cầm đi làm gì, ta còn muốn uống thêm.”

Hà Diệp nói: “Uống ít thôi, lỡ như lát nữa say khướt bây giờ.”

“Có gì phải sợ, trời cũng tối rồi, say khướt thật thì nằm ở đây, cả nhà trong trong ngoài ngoài chẳng có ai uống rượu với ta…” A Căn nhấc đũa một miếng gấp tảo biển ủ đồng tiền, “Không nói thì thôi, mới uống hai hớp đã thấy kích thích, cả người nóng bừng, hơi khó chịu.”

Hà Diệp để lại bình rượu trên bàn, thấy mặt mày A Căn đã hơi đỏ lên, có phần rụt rè nói: “Vậy ăn thêm đi…” Rồi gấp cho A Căn một ít ba da cắt sợi.

A Căn cạn một chung rồi nhìn Hà Diệp nói: “Không uống nữa, dọn hết đi, cả người ta trương lên cả rồi… Nóng quá, Hà Diệp qua đây…” Nói rồi vứt chung rượu đi, hai tay chà mặt, lại nới cổ áo kéo quần áo ra một chút. Hà Diệp mau chóng thu dọn chén đĩa, đến khi đóng cửa buông rèm thì A Căn đã đỏ mặt tía tai. Tim Hà Diệp đập lên bình bịch, lúc Phán Đễ sắp đi đã dặn dò Hà Diệp rất nhiều, một trong số đó chính là rượu thuốc này dược tính rất mạnh, A Căn còn trẻ, cứ uống một chung thử trước xem sao đã. Hà Diệp thấy chung rượu nhỏ liền rót cho A Căn ba chung. Lúc nàng luống cuống chân tay bò lên giường, trản đèn cuối cùng cũng tắt ngấm.

(5)

Hôm nay mới sáng sớm A Cắn đã ra ngoài, lúc về thì trời đã quá trưa, còn chưa vào đến nhà chính đã nghe giọng Tư Đễ đang nói chuyện.

“Ôi, chị về rồi hả, thằng Hổ đâu?” A Căn vừa cười vừa ghé lên phía trước. Thằng Hổ là con trai của Tư Dễ, hơn hai tuổi.

“Không về cho em bị biến thành bã thuốc hay gì!” Tư Đễ ngồi trên ghế bành, nói chuyện với A Căn bằng giọng cọc cằn.

Bội Lan cũng ở bên cạnh, thấy A Căn vào liền bước qua múc nước vào chậu rửa tay rồi lại cầm khăn tay vắt trên giá treo đồ lên mà chờ A Căn.

“Chị nói vậy là sao, không phải em đang sống yên lành à?” A Căn ngồi xuống chiếc ghế bành bên cạnh Tư Đễ, gẩy chơi hai cành “đuôi khổng tước” [5] trong chiếc bình khắc hoa văn hoa thú đỏ để trên bàn.

Thấy Bội Lan còn đứng bên cạnh giá để thau rửa mặt chờ A Căn, Tư Đễ nói: “Bội Lan qua đây, mặc kệ nó, để nó tự rửa lấy, cả ngày chỉ biết chơi bời, chả thèm để tâm lo việc nhà chút nào hết.”

“Chẹp! Chị ơi, sáng sớm hôm nay em đến trấn Tử Ngọ, đằng đó hai ngày trước mới thu mua một lượng lớn dược liệu, cha cả bảo em sang đó đối chiếu hàng hóa sổ sách, bận đến cả cơm trưa còn chả được ăn, sao lại bảo là chơi bời.” A Căn biện bác.

“Chị hỏi em, gần đây con hồ ly tinh Hà Diệp có phải có thay đổi gì không?”

“Ấy chị ơi, nói năng cho tử tế, người một nhà với nhau còn mắng làm gì.”

“Người một nhà? Ai người một nhà với hồ ly tinh? Người nào người nấy đều biết rù quến đàn ông!” Tư Đễ cao giọng nói.

“Ôi chao chị ơi, Bội Lan ở đây, nói năng đàng hoàng, nói cho đàng hoàng nào.” A Căn cười nhăn nhó nói xong lại bảo với Bội Lan đang dứng cạnh Tư Đễ: “Bội Lan, về phòng mình lấy trà Giới Chiết Giang mấy ngày trước Quách công tử tặng để chị nếm thử, chia thêm hai phần đem về cho anh rể nữa nhé.”

Tư Đễ túm Bội Lan sắp đi ra ngoài lại, xoay mặt về phía A Căn hét lớn: “Chị không uống! Anh rể em cũng không!”

“Ối…” A Căn dụi dụi lỗ tai, đứng dậy ngồi sang chiếc ghế bành đối diện. Vì sức khỏe Hạ Tùng Âm không tốt mà hai bên gian nhà chính không bày ghế gỗ cứng thời thượng mà là ghế bành đan mây mềm mại. A Căn xụi lơ trên ghế nói: “Bớt giận đi nào, sao lại phát hỏa thế này, anh rể với thằng Hổ dạo này khỏe không?”

“Bớt đánh trống lảng, chị nói cho em biết, sau này mỗi mười ngày mới được đến nhà bác cả và chú ba, những ngày còn lại cứ ở nhà mình mà sống với Bội Lan đàng hoàng. Em xem người ta như cha, người ta xem em là… Heo đó! Heo giống!” Tư Đễ dằn xuống rồi lại dằn không được, đanh giọng hét về phía A Căn.

A Căn cười hì hì xòe hai tay về phía Bội Lan: “Nàng xem, ta nói với nàng là chị ghê gớm lắm, tuyệt đối đừng dây vào nàng còn không chịu tin, ta vừa vào tới cửa chưa kịp nói gì thì đã bị mắng rồi.”

Bội Lan giơ khăn tay che miệng cười, không tiếp lời A Căn.

“Bội Lan, em phải quản nó chặt vào, đừng để mặc nó như ngựa sổng chuồng, không thì sức khỏe thế nào cũng toi.” Tư Đễ kéo tay Bội Lan mà nói.

“Khụ khụ khụ…” Lúc này, mẹ A Căn dìu cha A Căn chầm chậm bước ra từ nhà trong, mẹ A Căn nói: “Con bé này, nói A Căn thì nói A Căn đi, sao lại kéo cả cha mẹ vào vậy.’’

“Đúng rồi mẹ ơi.” A Căn vội đứng dậy đỡ phụ thân ngồi xuống chiếc ghế bành ban nãy mình vừa ngồi, mẹ A Căn cũng ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Thấy cha mẹ bước ra, Tư Đễ cũng chỉ nhỏ tiếng xuống một chút chứ không hề nhấc mông lên mà vẫn ngồi nguyên trên ghế bành hùng hổ nói với A Căn: “Em qua đây, qua đây nè, tránh xa vậy bộ chị ăn thịt em hả? Chị hỏi em, lần trước Chiêu Đễ dẫn Hà Diệp đến ngõ Phấn làm gì?”

A Căn dựa vào chiếc bàn bát tiên, ra vẻ hoang mang mà nhìn Tư Đễ: “Ngõ Phấn? Em có đến đó đâu, nàng ấy đến đó làm gì?”

“Em đúng là cái đồ đầu khoai lang tim gỗ đàn – đần độn, chị cũng thật là lo chuyện bao đồng, tự nhiên đi diễn thành cái tuồng Thôi phu nhân thẩm vấn Hồng Nương [6] – một hỏi ba không biết.” Chồng của Tư Đễ là Thôi Đức Phù, cô nàng vừa hạ giọng xuống là lại gióng cao giọng lên.

“Chị ơi, em không biết chuyện này thật mà, mấy ngày nay có sang chỗ Hà Diệp đâu, không tin chị hỏi Bội Lan đi. Một cô gái như nàng ấy đến ngõ Phấn thì làm được gì chứ?” A Căn tỏ vẻ nghiêm túc nói. Ngõ Phấn ở gần cổng Nam Viện thành Tây An, từ xưa đã là nơi phồn hoa náo nhiệt. Nơi đó vốn không phải gọi là ngõ Phấn, chỉ là trong đó có quá nhiều thanh lâu kỹ viện, cả một con ngõ sực nức mùi phấn son nên mới được gọi là ngõ Phấn, còn tên thật của nó thì chả ai gọi, những tên ghé kĩ viện gọi mãi thế là thành ngõ Phấn.

Mẹ A Căn tiếp lời nói: “Con bé này, sao con biết chuyện này?”

“Nhất định là chủ ý đồi bại của con hồ ly lẳng lơ Chiêu Đễ rồi.” Tư Đễ hậm hực nói. Nhà chồng Chiêu Đễ là phú hộ thành Tây An, có một lượng lớn điền sản ở cổng Nam Viện, cả một ngõ Phấn đều là sản nghiệp nhà hắn ta, toàn cho thanh lâu với kỹ viện thuê. Tư Đễ nhìn mẹ mình rồi nói: “Sao con biết được hả, một người đàn bà như con cả ngày chỉ có ở nhà với thằng Hổ nhưng không mù cũng không điếc. Chuyện này là do Bàng giáo tập dạy hát ở Liễu Phong viện kể, ông ta với Thôi Đức Phù hồi nhỏ học cùng một trường tư, hôm qua đến tìm Thôi Đức Phù tán dóc có nói hôm mùng bảy trông thấy tú bà dẫn theo Chiêu Đễ rồi thêm một bà mợ trẻ trắng trẻo eo cong vai đẽo vào phòng bao một cách lén la lén lút, còn có cả Kim giáo tập đi theo nữa.” Bàng giáo tập nhận ra Chiêu Đễ, cảm thấy chuyện này quái lạ, nghe người xung quanh nói kia là cô con dâu mới cưới của Hạ gia, thế không phải Hà Diệp thì ai vào đây nữa? Thôi Đức Phù lập tức về nhà hỏi thăm, sợ xảy ra chuyện gì dơ dáy bại hoại thanh danh.

“Khụ khụ khụ… Khụ khụ khụ…” Cha A Căn nghe xong thì ho kịch liệt, Bội Lan vội bước qua đưa cho mẹ A Căn chén trà trên bàn, mẹ A Căn nhận trà rồi tiện tay đặt xuống chứ không đưa cha A Căn uống. A Căn và Tư Đễ từ nhỏ đã quen với thể trạng của cha mình, thấy cha ho cũng chỉ nhìn vậy thôi chứ hoàn toàn không để ý, cũng biết chuyện này không phải cần uống nước là xong.

Đợi cha A Căn ngừng ho, Tư Đễ mới lại hung hăng trợn mắt nói với A Căn: “Em có biết Kim giáo tập dạy cái gì không?”

“Dạy hát chứ còn dạy gì được nữa?” Lúc này tâm tư A Căn đều để cả trên người Hà Diệp, nhớ đến những gì mình hưởng dụng được ở chỗ Hà Diệp gần đây mà không khỏi nhếch môi mỉm cười. Nụ cười này vừa hay bị Tư Đễ đang nhìn chằm chằm cậu trông thấy, cho rằng A Căn hoàn toàn không xem đó ra gì. Nhất thời bốc hỏa không hiểu tại sao, thình lình bước hai bước lên nhéo tai A Căn, vừa vận sức bóp mạnh vừa nói: “Này thì hát nè! Chị hát cho em nghe!”

Sau khi Hạ Tùng Âm bị thương phải gần ba mươi tuổi mới sinh được Tư Đễ, do đó hai vợ chồng từ nhỏ đã hết sức cưng chiều cô con gái này. Tính tình Tư Đễ lại nóng nảy bộp chộp, lớn lối, hơn phân nửa chuyện của phòng nhì phải cô nàng nói thì mới được, có đôi khi nóng nảy lên ngay cả cha mẹ cô nàng cũng mắng. Sau này có A Căn rồi, ngày nào Tư Đễ cũng cùng vú em dẫn em trai đi ăn đi chơi, nói A Căn là do Tư Đễ nuôi lớn cũng không quá đáng chút nào. Nhìn thì thấy ở Hạ gia, A Căn có tới sáu chị em nhưng có thể nói người thật lòng yêu thương cậu chẳng qua nói tới nói lui dám đánh cậu cũng chỉ có mình Tư Đễ.

“Đau đau đau đau đau, chị ơi nhẹ tay thôi, đau quá, mẹ ơi, mẹ xem chị kìa.” Hôm nay A Căn cưỡi ngựa đến trấn Tử Ngọ, dọc đường gió thổi làm rối cả tóc mai, vừa tới nhà chưa kịp rửa mặt chải đầu, Tư Đễ lại bất thình lình xông tới vừa khéo tóm trúng một nhúm tóc tơ bên tai A Căn làm cậu chàng đau đến hét khản cổ.

Mẹ A Căn cười nói: “Tư Đễ, bây giờ A Căn đã thành thân rồi, đã là người lớn. Bội Lan còn đang ở đây, sao có thể hở chút là động tay động chân với nó như hồi nhỏ chứ.”

Tư Đễ lại vặn mạnh thêm một cái mới thả tay ra, A Căn lập tức bụm tai chạy đến khuông cửa vừa nhìn Bội Lan vừa nói: “Nhìn đi, nói với nàng chị là quỷ dạ xoa mà nàng không tin!”

Bội Lan lấy khăn tay che miệng khẽ cười, trước đây nghe cô mẫu nói trên dưới cả nhà chỉ có mình Tư Đễ là trị được A Căn, sau khi thành thân lúc hai người tán gẫu với nhau A Căn cũng thường nói Tư Đễ ghê gớm nhưng chính mắt trông thấy thì nay mới lần đầu.

“Em trai của chị ơi, em mau tiêu chút được không, Bàng giáo tập nói Kim giáo tập là người chuyên dạy các kỹ nữ chuyện giường chiếu, vậy thì Chiêu Đễ dẫn Hà Diệp đến để làm gì? Còn không phải để quyến rũ thằng ngốc em à.” Vừa nói, mắt Tư Đễ vừa đỏ lên rồi đột nhiên giơ tay che mặt hu hu khóc. Ai nấy đều đứng cả hình, nhìn Tư Đễ với vẻ kinh ngạc. Bội Lan lặng lẽ bước lên nhét khăn tay vào lòng bàn tay Tư Đễ, nhẹ nhàng vỗ lên vai nàng.

“Khụ khụ khụ… Khụ khụ khụ…” Cha A Căn lại ho lên kịch liệt, vừa ho vừa nói: “Nhà lão tam… Khụ khụ khụ… làm gì đến nỗi… Khụ khụ khụ… Dùng thủ đoạn này… Khụ khụ…”

“Lão gia, ông vẫn nên vào nằm thôi.” Mẹ A Căn đỡ cha A Căn, vừa đi vào trong vừa nói, “Nhà lão tam cũng thật là, không ra người ra ngợm gì hết, lão thái thái mà biết chuyện là toi.”

Cha A Căn vẫn ho không ngừng, ông ngước mắt nhìn A Căn đang đứng bên bậu cửa, muốn nói lại thôi, cuối cùng đi vào nhà. Mẹ A Căn đỡ cha A Căn nằm xuống, lại đút cho ông mấy muỗng thuốc, đến khi ông hết ho mới đi ra. Lúc này Tư Đễ đã ngừng khóc, ngồi đó mà mắt đỏ hoe, Bội Lan đứng bên cạnh kéo tay nàng. A Căn dựa vào khung cửa, ngơ ngác nhìn chữ trên gian nhà chính đối diện.

“Con trai của mẹ, chính con vẫn chưa cảm thấy có vấn đề gì đúng không?” Mẹ A Căn ngồi đằng sau nói.

A Căn trầm mặc hồi lâu mới nói: “Này, nói sao nhỉ… Hà Diệp, lúc mới thành thân… rất là tẻ nhạt, không có cảm giác gì, lại còn thêm một đôi chân sen sắt nên con không thích đến.” Vừa nói, A Căn vừa nhìn về phía một tấc sen vàng ló ra khỏi váy của Bội Lan, Bội Lan đang nhìn A Căn cũng nương theo ánh mắt đó nhìn xuống váy mình, nhất thời đỏ mặt rồi vội giấu mũi chân nhỏ nhắn của mình vào trong. A Căn nhìn Bội Lan rồi nói: “Gần đây thì… lại cảm thấy Hà Diệp là lạ, như đổi thành người khác ấy, con còn tưởng đâu là hiểu chuyện ra rồi, cứ đến phòng ấy là lại cảm thấy như đất trời đảo lộn…”

Bội Lan vẫn còn đỏ mặt, đưa mắt nhìn xuống nền nhà. Nghe A Căn nhắc đến Hà Diệp, nàng liền nghĩ đến bản thân mình, lúc A Căn và nàng chung giường đã nói những gì những gì, muốn thế nào ra sao, cậu không muốn chuyện đó thì chính nàng dù có nhất thời xao động cũng không dám động tay động chân, lễ giáo đè nặng lên nàng từ nhỏ đòi nàng phải tuân phục vâng lời trượng phu, bao gồm cả lúc trên giường. Tính ra, A Căn ngủ ở phòng Bội Lan nhiều nhất, lần nào hai người thân mật da thịt, A Căn cũng thường ôm lấy đôi chân ba tấc sen vàng của nàng mà sờ tới sờ lui, cứ như không có khát vọng gì lớn với thân thể nàng vậy. Bội Lan thường thấy lạc lỏng, lúc nào cũng nghĩ có phải mình có chỗ nào không bằng Táo Hoa hay Hà Diệp không? Lúc A Căn và hai người họ chung giường, lẽ nào cũng chỉ ôm chân như vậy? Nhưng chuyện này nàng không dám hỏi A Căn cũng không dám hỏi Táo Hoa và Hà Diệp, chỉ là tự mình nhìn đèn móc hết tâm tư ra suy xét thôi.

Táo Hoa có một đôi chân sen sắt với kích thước to quá khổ hệt như từ hồi sinh ra chưa từng bó chân bao giờ, may mà nàng ta có khung xương lớn mới bù được đôi chân làm nó trông không lớn lắm. Bội Lan chỉ xem Táo Hoa như người thô lỗ, mà người khiến nàng ngạc nhiên lại chính là Hà Diệp. Hà Diệp gầy gò thanh mảnh vậy mà đừng nói là sen bạc bốn tấc, đôi chân đó hệt như năm tấc sen sắt khổng lồ của Táo Hoa. Vào một ngày sau khi thành thân chưa bao lâu, ba cô con dâu và A Căn cùng nhau ăn cơm với lão thái thái, Bội Lan tiện tay làm rớt cái khăn mình cầm xuống đất, lúc cúi đầu nhặt lên vô tình liếc thấy đôi chân to tướng lộ hoàn toàn ra khỏi váy của Hà Diệp dưới bàn, lúc đó suýt chút ói ra, sau khi ngồi về chỗ thì đờ đẫn đến một ngụm cơm cũng không nuốt nổi. Lúc A Căn và nàng chung giường lúc nào A Căn cũng ôm đôi sen vàng của nàng, nào sờ, nào hôn, nào ngửi. Bội Lan vừa thấy ngứa lại thấy xấu hổ vô cùng, ban đầu tưởng đâu A căn chỉ mê chơi làm loạn, sau này mới phát hiện ra vị đại gia này có cái đam mê ấy, lần nào cũng chơi một hồi rồi ôm chân nàng mà ngủ thẳng giấc, không hề chạm đến thân thể nàng. Nhẩm tính sơ sơ, hai người chung giường phải bảy tám đêm mới có một phen vui vầy cá nước. Có một lần nàng ở nhà cũ vô tình nghe tiểu lục nói A Căn uống rượu trong phòng Hà Diệp, nàng cũng chuẩn bị rượu thịt để đêm đến say sưa trong phòng với A Căn. Kết quả là A Căn chưa uống được hai ngụm rượu thì đã chui xuống bàn cởi một chiếc hài thêu của nàng ra nâng niu trong lòng bàn tay, còn đặt chén rượu vào lòng chiếc giày bảo Bội Lan rót rượu vào đó. Lần khác còn xảy ra một chuyện xấu hổ hơn, A Căn bảo Bội Lan cởi giày đi ngủ, giẫm chân trần lên mặt cậu chàng, báo hại nàng hết hồn một phen.

Bội Lan vừa nhìn nền gạch vừa nghĩ A Căn với người khác lẽ nào cũng thế ư? Rốt cuộc A Căn có ôm mấy đôi sen sắt đó không, có hôn không… Trong lúc nghĩ loạn linh tinh bỗng cảm thấy có ai đó đụng mình, ngước mắt nhìn mới biết là Tư Đễ. Tư Đễ vừa lấy tay đấm nàng vừa nói: “Bội Lan sao vậy? Vừa nãy gọi biết bao nhiêu lần mà không thấy em trả lời.”

“Ồ… Chị, em đang nghe mà…” Bội Lan vừa bình tĩnh lại lại bắt đầu xấu hổ đến đỏ cả mặt lên.

“Chị cảm thấy em nên để ý A Căn nhiều hơn, trông chừng nó nhiều hơn, chớ để nó ve vãn bậy bạ ban đêm rồi lại bị mấy thứ lẳng lơ kia làm cho lầm đường lạc lối.” Sau đó Tư Đễ chỉ vào A Căn mà nói, “Sau này mỗi mười ngày mới đến nhà bác cả và chú ba một lần, nghe rõ chưa? Còn đi bậy bạ coi chị làm gì em!”

“Chị… Chị nói hơi quá đáng rồi, làm gì đến nỗi…” A Căn còn chưa lải nhải xong đã bị Tư Đễ ngắt lời, chỉ mặt nói: “Vậy em nói thử coi Bội Lan có chỗ nào không bằng con hồ ly tinh đó? Em với Bội Lan lo sinh con sớm một chút để bọn chúng sốt ruột hết đi.”

Chủ đề bất thình lình nhảy sang đây khiến Bội Lan vốn đã đỏ mặt càng đỏ chín mặt hơn, hồi hộp nghĩ bụng “Người chị này cũng thật là, cái gì cũng nói ra ngoài được”.

“Đúng rồi Bội Lan, thành thân cũng được ba tháng rồi sao còn chưa có hỉ vậy.” Mẹ A Căn nói vào một câu.

Cả người Bội Lan nóng lên, hận không thể kiếm cái khe nào chui xuống. Nàng ấp úng như ăn phải hoàng liên đắng không nói nên lời. Sinh con gì chứ, vị đại gia nhà này lúc nào cũng chỉ ôm hai chân đi ngủ, chưa từng nghe nói chân biết sinh con bao giờ.

“Em ơi, đừng thấy người ta cứ một câu con trai ơi hai câu con trai hỡi gọi em, cha cả hết cách rồi mới lôi em ra, đằng chỗ cha ba nếu sau này Hà Diệp sinh được con trai thì cũng thôi, còn bằng như không phải trai mà lại là gái rồi em thử xem mấy năm nữa tiểu lục lấy chồng hay kén rể? Không phải ai cũng chỉ muốn chia thêm một phần gia sản chứ không thì cố ép sinh một đứa trưởng tôn làm gì, người ta bụng dạ toan tính thế nào tưởng đâu chị không biết chắc, trừ nhà mình ra chẳng có ai xem em là con thật đâu, chuyện ngay trước mắt sao em còn không hiểu chứ?” Đây là lần đầu tiên sau khi vào nhà Tư Đễ lại nói những lời ý vị sâu xa thế này. Mấy câu hết lòng hết dạ này khiến cả nhà rơi vào trầm tư, A Căn lặng lẽ nhìn ra vườn, trong lòng ngổn ngang trăm mối rối bời.

(6)

Sau khi xử lý xong việc ở tiệm thuốc về đến nhà thì đã sắp đến giờ dậu (5 giờ chiều), được Liên Kiều hầu rửa mặt rồi bưng một ấm trà hồ đào tùng tử lên, Hạ Tùng Tiết mới ngồi xuống từ từ nghỉ ngơi.

Mẹ Bảo Châu từ trong nhà bước ra nói: “Liên Kiều, ngươi đi vào hậu viện một chuyến mượn lão thái thái cây kéo gấp bằng sắt tinh luyện có hoa văn bằng vàng về đây. Cây kéo chỗ ta đâu mất rồi, đợi cắt vải xong ta trả lại cho lão thái thái.”

Liên Kiều vâng dạ rồi đi.

Hạ Tùng Tiết nhấp trà hỏi: “Cái của nhà mình hai ngày trước còn thấy trong cái két ở bàn bếp mà.”

“Tôi biết, kiếm chuyện đuổi Liên Kiều đi để nói chuyện với ông thôi.” Mẹ Bảo Châu ngồi bên cạnh bàn bát tiên, áp sát lại nói, “Con bé nhà mình lúc sắp đi có dặn tôi để ý nguyệt sự của Táo Hoa, tôi tính ngày thì hôm nay đến rồi, ông phải bắt A Căn tối nay qua đây đó.”

“Thằng nhỏ này… Bao lâu rồi không qua?”

“Hình như lần trước qua đây là hồi theo ông về từ trấn Tý Ngọ, sắp được nửa tháng rồi, lúc đó cũng không đến sương phòng, nói xong là đi luôn.”

“Vậy cũng không thể bảo tôi gọi qua chứ? Nói kiểu gì? Bảo nó qua ngủ với Táo Hoa à?” Hạ Tùng Tiết chau mày.

“Vậy cũng không thể bảo tôi đi gọi chứ?” Mẹ Bảo Châu ra chiều ghét bỏ nói, “Bảo Châu còn ở đây thì còn gọi được qua chứ tôi làm sao mở lời, tốt xấu gì cũng là dòng dõi Hạ gia nhà ông mà. Cũng tại tôi số khổ, ba đứa con trai miễn một đứa còn sống thôi thì không cần phải trông mong người khác rồi, haiz…”

Hạ Tùng Tiết gõ gõ ngón tay lên bàn: “Được rồi được rồi, có bảo bà đi đâu.”

“Vậy lão gia xem thế này nhé, sau khi lên đèn ông sai Liên Kiều qua đó tìm đại cái cớ nói là cửa hàng có chuyện bảo nó qua đây trước, tôi tính cách với Táo Hoa để con bé giữ người lại.”

“Vậy cũng được, để tôi nghĩ xem, cửa hàng đúng là có chuyện thật…”

Vừa mới lên đèn Liên Kiều liền đến xuyên viện của phòng nhì thăm hỏi mẹ A Căn rồi bảo đại lão gia đột nhiên nhớ ra ngày mai cửa hàng có chuyện quan trọng cần gọi A Căn qua dặn dò một chút. Mẹ A Căn đã không thấy con trai được một lúc rồi, cho rằng đang ở sương phòng bèn bảo Liên Kiều tự đi nói. Liên Kiều ở Sương Phòng chỉ thấy Bội Lan và nha hoàn Đinh Hương. Đinh Hương nói A Căn đã đến chỗ tam lão gia từ lúc chưa lên đèn rồi. Liên Kiều bèn ra viện sau, nửa đường Đinh Hương còn đuổi theo nhờ bảo A Căn nghe xong chuyện đại lão gia dặn thì về nhà nghỉ ngơi sớm một chút. Đinh Hương nói vậy là Bội Lan kêu nói, thật ra mấy ngày nay A Căn vẫn luôn ở chỗ Bội Lan nhưng hai người chưa có một lần nào vui vầy cá nước, hơn nữa từ tận đáy lòng Bội Lan cảm thấy chỗ mình mới là nhà của A Căn còn Táo Hoa với Hà Diệp cùng lắm chỉ coi như hai cô vợ lẽ nuôi ở bên ngoài.

Lúc Liên Kiều đến nơi, A Căn đang uống rượu với Hà Diệp, bữa rượu này thực ra không phải Hà Diệp cố tình chuẩn bị mà là A Căn tự đòi uống.

Trưa nay ăn cơm với lão thái thái, lúc A Căn sắp đi đã thì thầm bên tai Hà Diệp một câu “tối nay chuẩn bị đồ nhắm”, Hà Diệp mới hiểu là A Căn lại thèm rượu rồi. Bởi thế bữa tối Hà Diệp không đến nhà bếp lớn mà gọi một cái đùi dê nướng và mấy phần đồ nhắm ở tửu lâu ven đường, lại lấy thêm chỗ cha chồng một vò rượu, bày rau quả ra chờ A Căn từ sớm.

Loại rượu này là Tây Phượng mười lăm năm, Hạ Tùng Thuần biết A Căn chủ động đòi uống rượu liền hào phóng cho Hà Diệp lấy đồ để dành riêng của mình. Tuy rằng Hạ Tùng Thuần xếp thứ ba nhưng từ khi con trai của đại phòng liên tục chết yểu, ông liền ấp ủ tâm tư muốn sinh trưởng tôn, bởi di ngôn khi ông cụ Nham Đà tạ thế không phải là để lại việc kinh doanh cho dòng trưởng mà là để cho người nhiều tuổi nhất trong mỗi thế hệ lo việc kinh doanh.

Trong ba em anh, Hạ Tùng Tiết lớn nhất nên chuyện kinh doanh mới thành do dòng trưởng quản lý nhưng chuyện này ai nấy đều biết cả, chỉ là không phải lúc thích hợp nên không ai nói thôi. Nếu thực sự có thể tiếp quản việc kinh doanh thì thuận lợi do nó đem lại sẽ được nhiều hơn lắm, vậy mà hai người vợ của mình lại chỉ sinh toàn con gái, ông cũng chỉ đành sốt ruột suông. Thế nên khi anh cả nhắc chuyện đồng thời cưới thêm một người vợ cho A Căn, ông liền lập tức hiểu ngay ý của anh cả, cũng khẩn thiết cưới thêm Hà Diệp cho A Căn.

Thực ra ngày thường A Căn không hay uống rượu, cũng không phải vì không nghĩ đến mà là vì không có người cùng tuổi uống chung, thường nói rượu một mình khó uống mà. Trong số những người vợ, Táo Hoa chưa từng lo liệu cho cậu, thêm nữa cho dù có lo cậu cũng không có tâm tình đó. Gần đây Bội Lan cũng bắt đầu thỉnh thoảng chuẩn bị chút rượu thịt nhưng không thoải mái bằng Hà Diệp bởi vì Bội Lan không dính một tí rượu nào. Mà bản lĩnh tiếp rượu của Hà Diệp càng ngày càng giỏi, A Căn càng lúc càng thấy thoải mái, thỉnh thoảng lại thấy thèm rượu. A Căn nào có biết Hà Diệp được Chiêu Đễ dẫn đến ngõ Phấn cho giáo tập chuyên dạy uống rượu hoa dạy dỗ đâu.

Buổi tối, A Căn không ăn ở nhà bếp lớn mà đi thẳng đến chỗ Hà Diệp, chuyện này đã xảy ra mấy lần rồi, lần nào Hà Diệp cũng chuẩn bị hết sức chu đáo. Hai người ngồi bên bàn ăn đùi dê nước, uống rượu Tây Phượng, sau khi uống được mấy chén, bụng dưới A Căn bắt đầu nhộn nhạo, bắt đầu nói mấy chuyện mới mẻ bên ngoài với Hà Diệp. Đến khi ăn uống đã hòm hòm, Hà Diệp mượn dịp châm rượu len lén thêm chút rượu thuốc vào bình, nửa bình rượu này đều để cho A Căn, uống xong đêm nay A Căn đừng hòng xuống giường Hà Diệp được.

Không biết trùng hợp thế nào mà vừa rót đầy một chén cuối cùng cho A Căn uống xong, Liên Kiều ở bên ngoài gọi A Căn, lại chưa đi ngủ nên Hà Diệp chỉ đành cho Liên Kiều vào phòng. A Căn nghe nói cha cả bảo chuyện liên quan đến cửa hàng liền uống cạn chén rượu rồi rửa mặt trước chậu đồng sau đó đi ra ngoài. Sau khi thành thân, A Căn mới theo cha cả lo chuyện buôn bán, bụng nghĩ muộn thế này còn gọi nhất định là có chuyện quan trọng rồi.

Hà Diệp cũng theo ra hành lang, hạ giọng nói: “Nghe đại lão gia dặn dò xong thì mau về đây nghỉ ngơi nhé, mới vừa uống rượu…” A Căn không kịp đáp lời thì đã đi rồi.

Đi qua vườn thì phải rẽ bảy tám khúc cua rất phiền, A Căn liền đi cửa hông, thế là men theo con hẻm mau chóng đến được tiền viện.

Sau khi lo hôn sự xong, Hạ gia đặt thêm một cái cổng tre lớn ở đầu hẻm, tương đương với việc bao quanh con hẻm chứa ngôi nhà lại, kế bên còn có người làm ở hiệu thuốc, bởi thế các viện trong hẻm bình thường đều đến khi đi ngủ mới đóng cổng lại.

Lúc A Căn vào gian nhà chính, Hạ Tùng Tiết đang ngồi ở ghế trên, mẹ Bảo Châu ngồi bên cạnh, kế bên bà còn có Táo Hoa.

“Cha cả, con trai đến rồi, mẹ cả còn chưa ngủ ạ?”

Mẹ Bảo Châu kéo tay A Căn, Hạ Tùng Tiết gật gật đầu, nhuận họng nói: “Có chuyện này ban ngày quên nói, ngày mai con theo cha vào thành một chuyến, viện Vĩnh Tế ở huyện Hàm Ninh muốn đặt một số dược liệu, cha dẫn con đi làm quen với một số người làm quan, toàn là khách hàng lớn của nhà ta cả, đợi quen đường rồi sau này con thường đi chào hỏi nhé, cha không đi nữa.”

“Vâng ạ, cha cả, ngày mai con sẽ chú ý hơn.”

“Ôi chao đã là giờ hợi rồi à (9 giờ tối), hai cha con mình ngày mai trời còn chưa sáng phải lên đường rồi đó.”

“Được ạ thưa cha, gà gáy tiếng đầu tiên là con dậy rồi.” A Căn thở hồng hộc.

“A Căn, con sao vậy? Không khỏe à? Xem đổ đầy mồ hôi kìa.” Mẹ Bảo Châu thấy A Căn mặt mày đỏ bừng, thở hồng hộc hết sức nặng nề thì hỏi.

“Ha, không sao đâu mẹ cả, trước khi qua đây có uống rượu, lại vừa đi qua hẻm, chắc là trong này có gió nên rượu bốc quá đầu rồi.” A Căn nhân lúc đỡ được tay đại nương thì giơ tay lau mồ hôi trán, mồ hôi đổ ra li ti, thế là hành lễ với vợ chồng Hạ Tùng Tiết, “Vậy cha mẹ cả nghỉ ngơi sớm nhé, con đi ạ.” Nói rồi liền xoay người ra ngoài.

“Đừng đi, uống rượu rồi còn đi làm sao được, trời tối té ngã bây giờ.” Mẹ Bảo Châu vừa nói vừa chọc vào người Táo Hoa đang cúi đầu đứng bên cạnh, Táo Hoa thấy mẹ chồng gắng sức đưa mắt ra hiệu cho mình nhưng chả hiểu chuyện gì.

“Không sao đâu mẹ cả, đi mấy bước thôi mà.” Một chân A Căn đã sắp bước ra khỏi cửa.

Mẹ Bảo Châu đẩy mạnh vào lưng Táo Hoa nói: “Táo Hoa mau dìu A Căn về phòng đi, ngày mai còn phải dậy sớm, cứ nghỉ ngơi bên này nhé.”

Bây giờ Táo Hoa mới hiểu ra, nàng đi lẹ làm nhanh, thừa thế bước lên tóm lấy cánh tay A Căn. A Căn hất ra nhưng không hất được: “Không sao đâu mẹ cả, đi vài bước là đến, Hà Diệp còn đợi con bên kia nữa.” Nói rồi lại hất tay ra nhưng Táo Hoa không chịu buông tay.

“Con yên tâm nghỉ ngơi ở đây đi, mẹ sai Liên Kiều nói một tiếng, đều là người một nhà, ngủ đâu chả được, ngày mai còn phải dậy sớm…” Mẹ Bảo Châu cười ha ha ra trước cửa.

Táo Hoa nghe thế càng thêm vận sức vừa lôi vừa kéo A Căn vào sương phòng, vào rồi liền vứt lên giường.

Lúc này, sự chú ý của A căn đều đặt cả vào cảm giác khô nóng toàn thân, vừa lên giường làm gì còn rảnh để ý gì khác nữa, liên tục kéo cởi quần áo, hơi thở càng lúc càng dồn dập. Trông thấy Táo Hoa ngồi bên giường giúp mình cởi giày, tay A Căn không tự chủ được vươn về phía trong y phục của Táo Hoa. Táo Hoa trước là kinh ngạc nhưng thấy A Căn làm vậy liền không nói thêm gì, thoát áo cởi đai đè A Căn xuống.

Mẹ Bảo Châu vẫn luôn đứng ngoài cửa để ý động tĩnh trong sương phòng, thấy giấy ở cửa phòng tối rồi mới nói với Hạ Tùng Tiết: “Không sao rồi.” Tiếp đó bà sang buồng phụ gọi Liên Kiều bảo cô sang chỗ Hà Diệp một chuyến nhắn rằng ngày mai A căn phải dậy sớm vào thành xử lý công việc với lão gia nên nghỉ ở bên này rồi. Thực ra bà dự định không nói cũng được nhưng lại lo bên ấy có người đến tìm A Căn quấy rầy chuyện tốt bên này, thế nên vẫn phải bảo Liên Kiều đi một chuyến.

Chỗ Hà Diệp vẫn còn đang đợi, nàng biết rõ A Căn đã uống rượu thuốc, rượu đó bốc lên nhanh, vừa nghe Liên Kiều nói vậy liền thút thít khóc cả nửa đêm. Trong ba người vợ, Hà Diệp là người gấp sinh con nhất, đều vì Hạ Tùng Thuần đã từng ba hoa hứa rằng một khi Hà Diệp sinh được trưởng tôn cho Hạ gia, ông ta sẽ lo cho nhà mẹ đẻ của Hà Diệp năm trăm mẩu ruộng, lại cho Hà Diệp năm trăm lượng bạc tiền dành dụm riêng, thế nên Hà Diệp càng để tâm chuyện này hơn cả Bội Lan hay Táo Hoa.

(7)

Cha A Căn ngày thường ngủ rất sớm, mẹ A Căn cũng nằm xuống theo. Tuy mới vừa qua giờ tuất (7 giờ tối) mà nhà chính của xuyên viện phòng nhì đã tối đen như mực, bà vú và Đinh Hương cũng trốn trong buồng phụ không ra ngoài nữa.

Trong sương phòng, Bội Lan ngồi trước đèn cắt tỉa gì đó, A Căn dịch dịch ghế bập bên về phía Bội Lan, nằm xuống lắc lư người hỏi: “Cắt gì vậy? Nhất định phải làm bây giờ à, đèn mờ quá đứt tay đó.”

Bội Lan giơ thứ đang làm trên tay lên cho A Căn xem: “Còn thừa một ít, sắp đoan ngọ rồi nên làm mấy cái hà bao, đến lúc đó các chị về nhà thì cho bọn nhỏ đeo.”

“Phí công làm để làm gì, nàng chỉ cần làm cho thằng Hổ là đủ, mấy đứa còn lại toàn lấy ra chùi nước mũi thôi.”

Bội Lan cười cười: “Thằng Hổ gọi chàng là cậu, mấy đứa khác cũng gọi cậu, đứa nào cũng chỉ có một người cậu là chàng, chàng làm cậu mà còn nói như vậy.”

“Toàn là Táo quân gõ mõ quậy banh bếp lò. Lần nào thấy tụi nó xáp lại với nhau nhảy nhót om sòm đều làm đầu ta muốn nổ tung.” Hạ Tùng Âm thường niên cần phải tĩnh dưỡng nên A Căn từ nhỏ đã quen yên tĩnh, bởi vậy tương đối sợ ồn.

“Được rồi, để thiếp dọn vào rồi đi lấy nước rửa chân cho chàng.” Nói rồi, Bội Lan đứng dậy bỏ hết đồ vào cái khay đựng kim chỉ.

“Đừng đừng, lát nữa tự ta đi, nàng ngồi đó, hai chúng ta nói chuyện lát.”

Bội Lan không ngồi mà nhìn A Căn, mỉm cười: “Hôm nay chăm chỉ thế, lại thiếu tiền chứ gì?”

“Nàng nói vậy thì thật là…” A Căn bắt chéo hai chân ngồi trên ghế bập bênh, dùng sức đong đưa hai cái mới nói, “Ta không tự mình lấy nước rửa chân được à?”

“Hễ chàng mà động tay vào giả vờ siêng năng thì có tám phần mười là tiền tiêu vặt tháng này hết rồi.” Nói xong, Bội Lan liền giơ ba ngón tay ra.

“Thật hả? Sao ta không nhớ vậy.” A Căn không lắc lư nữa mà ngồi thẳng dậy trên ghế bập bênh, giả vờ giả vịt nhìn Bội Lan.

“Chuyện của chàng thiếp nhớ kĩ lắm.” Bội Lan tách từng ngón tay ra, “Lần đầu tiên là chúc thọ Đoàn thiếu gia, lần thứ hai là góp tiền lộ phí cho bạn học ngày trước đi thi, lần thứ ba là tiên sinh từng dạy chàng ở trường tư tạ thế, sau đó mỗi lần cần đến tiền chàng liền cần mẫn cực kỳ. Không phải, là mượn, nhưng chàng không trả lần nào.” Nói rồi lại xòe tay ra, “Lấy ra đây nào ông chủ, cũng tới lúc trả tiền rồi.”

“Ta không trả nàng sao?” A Căn cũng xòe tay ra giống hệt Bội Lan.

Nhà họ Hạ không chia nhà, phí sinh hoạt do Hạ Tùng Thuần quản lý, hằng tháng tất cả mọi người đều được phát một khoảng tiền tiêu vặt nhiều ít khác nhau.

Tiền tiêu vặt của A Căn không bao giờ đủ tiêu cả, chưa chống đỡ được hai ngày thì đã nhẵn túi rồi mà chính bản thân mình cũng không rõ là đã tiêu đi đâu. Trước kia hết tiền thì xin mẹ, sau khi thành thân mẫu thân liền giao cả việc nhà lẫn kho vàng nhỏ cho Bội Lan, thế là A Căn đòi Bội Lan.

“Không có trả, không lần nào trả hết.” Bội Lan lắc lắc đầu, tay vẫn xòe về phía A Căn.

A Căn đứng dậy túm tay Bội Lan vừa vuốt ve vừa nói: “Ôi chao bà cô của tôi ơi, người một nhà với nhau tính toán làm gì, cả ta cũng là của nàng mà! Nàng cho ta mượn ngày mai có việc gấp cần xài, đợi tháng sau lãnh tiền tiêu vặt chắc chắn trả cho nàng mà.”

“Lần này lại là chuyện gì nữa?”

“Sủng thiếp của Quách công tử mất rồi.”

“Điêu ngoa, thiếp không tin đâu.” Bội Lan đánh tay A Căn ra.

“Thật mà thật mà, sủng thiếp của Quách công tử mới mất mấy hôm trước, hôm nay tình cờ gặp Đoàn công tử, nghe nói Quách công tử định ngày mai làm pháp sự thất đầu cho người thiếp đó, hẹn mấy người bọn ta cùng đến chia buồn, dù sao cũng không đi tay không được đúng không. Trước kia ta có nói với nàng Quách công tử chỉ có một người con trai, chính là do sủng thiếp kia sinh đó.”

Bội Lan cười: “Trước kia chàng còn nói tiên sinh từng dạy chàng ở trường tư tạ thế, lần trước chị đến chơi thiếp có hỏi rồi, người ta còn sống sờ sờ dạy ở học đường kia, chàng gạt không của thiếp năm lượng bạc, không bằng trả thiếp năm lượng đó trước rồi thiếp cho chàng mượn cái mới sau.” Bội Lan lại duỗi tay về phía A Căn.

“Ây da, nàng đừng nghe Tư Đễ nói xàm, người lần trước qua đời không phải vị tiên sinh đó mà là vị tiên sinh khác…”

“Để mai thiếp đi hỏi cô mẫu, nếu thật thì cho chàng mượn còn nếu giả thì chàng đứng qua một bên.” Bội Lan giơ tay khác lên che miệng, bật cười thành tiếng.

“Mai là hết kịp rồi, sáng sớm phải dùng tới… Ta, ta lấy nước rửa chân cho nàng nhé!”

“Khỏi! Khỏi cần! Quý hóa quá!”

“Cần! Cần lắm! Nàng đợi đó!” Nói rồi A Căn liền bưng chậu nước rửa chân bên dưới giá rửa tay ra phòng bếp nhỏ.

Chuyện của Quách công tử, Bội Lan cũng biết. Hôm người sủng thiếp đó mất, Đoàn công tử có đến tìm A Căn đi chia buồn, tối đó A Căn kể cho nàng nghe rất nhiều chuyện riêng tư của nhà họ Quách. Đại khái là Quách công tử vừa mới thành thân đã bị quản gia kéo vào ngõ Phấn, kết quả là bị mấy cô kĩ nữ trông thấy đồng nam thì chơi đến nổi hư người, sau này không được thông thuận về đường con cái, chỉ có mỗi người thiếp yêu đó trăm đắng ngàn cay sinh cho một đứa con trai, kết quả chẳng bao lâu sau thì người thiếp này bệnh chết. Chẳng qua A Căn lại nói Quách viên ngoại không đứng đắn, đứa con người sủng thiếp đó sinh ra là con của Quách công tử hay là em trai của anh ta ai mà biết được, chỉ là kiểu gì cũng mang họ Quách, hai cha con chắc không tính toán với nhau đâu.

Thấy A Căn ra ngoài, Bội Lan liền quỳ xuống thảm trải giường lấy một cái tráp hoa lê vàng ra khỏi một cái ô ẩn dưới cây cột ở một góc giường, đây là loại giường sáu cột tứ hợp như ý bằng gỗ hoa lê già, vốn là đồ bồi giá của Bội Lan, A Căn hoàn toàn không biết cái ô bí mật trên giường này. Bội Lan lấy từ trong túi ra một đỉnh bạc tuyết hoa nhỏ trị giá hai lượng, do dự một lát rồi gói lại, móc ra thỏi bạc trị giá một lượng kiểu hải đường từ một cái túi khác, vừa mới bỏ hộp vào lại ô bí mật thì A Căn bưng chậu nước tung tung tóe tóe đi vào.

“Đây nương tử, để tướng công hầu hạ nàng.” A Căn bưng thẳng chậu nước đến bên giường.

“Đây.” Bội Lan đưa thỏi bạc cho A Căn, “Chỉ có một lượng thôi, nhiều hơn không có đâu.”

“Đủ rồi đủ rồi.” A Căn chà chà bàn tay còn chưa ướt nước lên áo sau đó nhét thỏi bạc vào người.

“Ngày mai chàng viết một tờ thiếp, cho bạc vào một cái túi niêm phong rồi cùng bỏ chung vào một hộp quà mà mang qua.”

“Khỏi đi, nhà lão Quách chữ một chữ bẻ đôi không biết, ai mà coi trọng cái này chứ.”

Bội Lan nhìn chậu nước dưới chân: “Chàng qua ngồi bên kia đi, thiếp bưng qua rửa chân cho chàng.”

“Nói là để ta hầu hạ nàng mà, đây, nương tử, “vớ thơm mềm mại giẫm thềm nhà, đôi hài lấp lánh treo tay ngà” [7], để tướng công cởi đôi hài thêu chỉ vàng của nàng ra trước.” Nói rồi A Căn nửa quỳ xuống bên chậu nước, nâng một bàn chân của Bội Lan lên mà cởi chiếc hài ra.

Sau bữa cơm tối, đèn còn chưa lên Bội Lan đã vào sương phòng, nàng nhớ đến mấy cái hà bao cần lập tức cắt ngay, cũng nghĩ lát phải ngủ rồi nên liền cởi cả chiếc hài thêu bên ngoài ra, chỉ mang đôi hài ngủ mới may mà lên giường cắt kiểu dáng túi. Không ngờ rằng trời tối rồi mà còn thừa một cái chưa xong nên liền dời chỗ lên bàn, thắp đèn cắt vội, lúc xuống giường bèn mang đại đôi hài bao bên ngoài đôi hài ngủ mà ngày thường chỉ dùng để đi lại trong phòng. A Căn vừa cởi đôi hài bao ra liền ngửi thấy hương sen thoang thoảng, cái này là do Bội Lan nhét lá lan hương khô vụn vào dưới lớp đáy hài mềm. Một tay nhấc chân Bội Lan lên, tay còn lại của A Căn nhẹ nhàng vuốt ve đôi hài với phần đế bằng phẳng bằng lụa trắng tơ thuần thêu hạt dẻ, mũi chân thêu hình anh vũ hái đào, cầm lòng không đặng hát một câu: “Đôi ta gặp gỡ yêu nhau / Như đôi hài ngủ mang vào mang ra / Đỡ đần chân bước là đà / Phí bao tâm sức để mà bền lâu [8].”

Hai người đang tình ý dạt dào thì trong sân thình lình vang lên tiếng gọi “A Căn, A Căn.”

Do A Căn cúi đầu xuống tà váy nên tưởng đâu là tiếng của Bội Lan nên không để ý tới, nào biết đột nhiên Bội Lan giật mình, vội vã lấy chân đẩy đầu A Căn ra ngoài, suýt chút đẩy luôn A Căn ngồi vào chậu nước.

Bội Lan vội vàng chỉnh lại tà váy, lúc này A Căn mới nghe rõ có tiếng người gọi trong sân, hết sức không hài lòng lớn tiếng hỏi “Ai đó”.

“Liên Kiều đây, đại lão gia gọi cậu qua một chuyến nói cửa hàng có việc quan trọng.”

A Căn mất kiên nhẫn nói: “Biết rồi, ngươi về trước đi.”

“Vậy để tôi về nói với đại lão gia trước.”

Đến khi tiếng bước chân khe khẽ của Liên Kiều im bặt, A Căn mới đứng dậy ngồi bên giường thuận tay đẩy Bội Lan nằm xuống.

“Chàng mau đi đi.” Hai má Bội Lan đỏ bừng, vừa toan ngồi dậy đã bị A Căn ấn xuống.

“Có việc gì gấp lắm đâu, toàn là chuyện mai nói cũng được, bây giờ ta chỉ muốn ở bên nàng.”

Đột nhiên lại có tiếng gõ cửa “cộc cộc cộc” vang lên. Bội Lan giật mình, vội vén chăn chui vào. A Căn cực kỳ mất kiên nhẫn rống lên: “Ai đó?”

Ngoài cửa không có tiếng trả lời, tiếp đó lại ba tiếp “cốc cốc cốc” vang lên.

~ Báo tang mới gõ kiểu này!

A Căn giận điên cả người, cởi trần nhảy xuống giường, giày không thèm xỏ, rảo bước đập sầm cửa ra. Bên ngoài là Táo Hoa, lúc A Căn ra tới, Táo Hoa đã lùi đến hành lang rồi.

“Bộ ai chết hay gì? Nhất định cứ nhè ngay lúc này mà báo tang!” Đây là lần đầu tiên A Căn ăn nói kiểu này.

Táo Hoa không hề toát ra chút nào giận dữ hay sợ hãi nào, chỉ không nói không rằng nhìn chằm chằm A Căn.

A Căn dùng tay không chém một đao vào không khí, lửa giận đầy một bụng mà không có chỗ phát ra, lại mình trần chân trần, cảm thấy hơi lạnh liền vung tay nói: “Nàng về đi, bảo cha cả là ta đi ngủ rồi, sáng sớm ngày mai sẽ qua.” Rồi xoay người toan vào phòng, kết quả là bị Táo Hoa túm lấy cổ tay kéo ra ngoài, tiếp đó nghiêng người vác A Căn lên vai mà đi.

“Ấy ấy ấy, nàng làm gì đó, mau bỏ ta xuống!” A Căn quờ quạng làm ầm ĩ lên còn Táo Hoa thì túm chặt lấy sau cẳng chân A Căn, cũng không nói câu nào mặc A Căn giãy giụa.

“Ấy ấy, mau bỏ xuống.. .Táo Hoa… Nàng quá đáng lắm…”

Bội Lan nghe thấy chuyện không đúng lắm bèn vội mặc áo vào nhưng đến khi nàng ôm theo áo ngoài và giày của A Căn chạy ra thì trong vườn đã không một bóng người.

Lúc này, nha hoàn Đinh Hương ở buồng phụ bước ra, Bội Lan hỏi: “Đinh Hương, A Căn đâu rồi?”

“Thưa mợ, em không thấy, vừa nghe thấy tiếng đập cửa bước ra xem là ai thì hình như nghe thấy A Căn gọi Táo Hoa…” Đinh Hương bước đến bên cạnh Bội Lan.

Bội Lan sốt ruột nói: “Em mau ra tiền viện xem xem, đưa áo ngoài và giày cho A Căn, xem bên ấy có chuyện gì, đợi xong việc em theo A Căn về luôn một thể.”

Đinh Hương vâng dạ rồi ôm lấy quần áo và giày đi.

Hóa ra vừa nãy Liên Kiều về nói với đại lão gia là A Căn lát nữa qua sau nhưng vợ chồng Hạ Tùng Tiết đợi một lúc không thấy bóng dáng A Căn đâu, mẹ Bảo Châu nói: “Đợi nữa là ngủ bên đó mất, chi bằng ông đi gọi đi.”

Bởi tính ngày thì hôm nay lại đến ngày của Táo Hoa, chuyện này đến nay người làm mẹ chồng còn gấp hơn cả con dâu, thật đúng là người hát không mệt mà khán giả đau lưng.

“Chả phải công toi còn gì? Liên Kiều nói cửa hàng có chuyện, tôi qua đó chẳng phải dặn nó là xong sao, nó còn tới làm gì?” Hạ Tùng Tiết trợn mắt nhìn mẹ Bội Châu, “Hơn nữa, chả có cái lý gì mà cha đi tìm con nói chuyện cả.”

Mẹ Bảo Châu gấp đến mức đứng dậy: “Ông làm gì có cửa làm cha, cái người cả ngày nằm trên giường kéo dài mạng sống đó mới là cha người ta đó.”

“Bà…” Hạ Tùng Tiết bị làm cho nghẹn họng không thốt nên lời.

Mẹ Bảo Châu lại nói: “Được rồi được rồi, để tôi nói với Táo Hoa một tiếng bảo nó qua gọi Hạ đại gia, còn đợi nữa là nó ngủ thật đó.”

Táo Hoa ở sương phòng vừa nghe mẹ chồng căn dặn liền nhấc chân đi, nàng đã quen với chuyện của Hạ gia, chẳng có gì mà mất mặt hay không mất mặt.

Đến khi mẹ Bảo Châu bước ra khỏi sương phòng thì không thấy bóng dáng Táo Hoa đâu nữa, bà bèn bảo Liên Kiều khêu đèn đuổi theo, trời tối khó đi, đừng để mỡ dâng miệng mèo còn vuột mất.

Mẹ Bảo Hoa cũng không nghĩ được Liên Kiều chân nhỏ thế này làm sao đuổi kịp.

Hai vợ chồng già đều ngồi im bên bàn nhìn ra ngoài cửa, cũng không dám thổi đèn nghỉ ngơi, một tháng chỉ có một hai ngày này.

Không bao lâu sau, hai vợ chồng già nghe thấy tiếng bước chân nặng nề và tiếng mắng chửi lộn xộn không đầu không đuôi. Một bóng người nhe nanh múa vuốt bước vào vườn rồi đi thẳng vào sương phòng, lúc mẹ Bảo Châu chạy bước nhỏ đến cửa phòng thì trông thấy Liên Kiều thắp đèn vào sân.

“Liên Kiều.” Mẹ Bảo Châu gọi.

Liên Kiều vào đến nhà chính liền thở hồng hộc.

“Sao vậy?”

“Là mợ, con đuổi theo được nửa đường, thì thấy, thấy mợ…” Liên Kiều ấp a ấp úng.

“Thế nào?” Hạ Tùng Tiết truy hỏi.

“Thấy mợ vác A Căn, A Căn mình trần…”

“…”

“…”

“Ngươi… Mau đi ngủ đi, chuyện này về sau không được nói ai nghe hết.” Hạ Tùng Tiết chỉ vào Liên Kiều, Liên Kiều gật đầu rồi đi.

Hai vợ chồng lê bước từ khung cửa sang đến bên bàn, nhìn nhau không nói, không biết chỗ Táo Hoa đã ầm ĩ thế nào rồi nhưng biết ít nhất người cũng đã sang đây. Tiếp theo đó là tiếng đóng cửa truyền ra, lờ mờ vẫn nghe thấy tiếng mắng chửi, sau đó là đèn tắt tối thui. Mẹ Bảo Châu trợn mắt, bưng đèn lên ra hiệu cho Hạ Tùng Tiết vào trong, lúc này ngoài sân lại có ánh sáng đèn lồng bước vào, là Đinh Hương.

“Đại lão gia, đại thái thái.” Đinh Hương ôm theo quần áo, “A Căn… đi gấp quá, mợ chúng con bảo con qua đợi sẵn đưa đèn lồng.”

“Ờ…” Mẹ Bảo Châu nhìn quần áo với giày Đinh Hương mang theo, nhất thời cũng luống cuống, không biết nên nói cái gì.

Hạ Tùng Tiết ho một tiếng: “Ngươi bỏ quần áo xuống, khỏi đợi, về đi, nói với đằng ấy hôm nay A Căn nghỉ ở chỗ Táo Hoa, đèn cũng thổi tắt rồi.”

Đinh Hương còn chưa đáp lời, mẹ Bảo Châu đã nhận lấy quần áo và giày trên tay Đinh Hương, Đinh Hương đành phải lui ra.

Đêm đó, Bội Lan mất ngủ cả đêm.

(8)

Chớp mắt đã đến mùng năm tháng năm, trời còn chưa vào tháng năm thì nhà họ Hạ đã chuẩn bị trứng gà, bánh ú, bánh dầu, bánh quẩy, rượu vàng và các thứ đồ ăn dịp lễ cùng với các loại đồ dùng như hà bao, quạt, nón đi nắng.

Theo tập tục của Quan Trung, con gái gả đi phải về nhà ngoại, trước tết đoan ngọ về nhà mẹ đẻ, mừng tết đoan ngọ xong lại được trượng phu đích thân đón về mới tỏ rõ thể diện hiếu thuận, rất được các nàng dâu coi trọng.

Do Hạ gia biết bao nhiêu năm mới có một lần có con dâu về nhà mẹ đẻ, lão thái thái sớm đã kiểm tra các loại vật dụng mà ba cô cháu dâu mang về nhà mẹ như vải bông, điểm tâm, bao thuốc. Sáng mùng bốn đích thân sai Liên Kiều đi theo Táo Hoa, Đinh Hương đi cùng Bội Lan, Tiểu Hồi đi với Hà Diệp, mạnh ai nấy ngồi xe ngựa về.

Tiệm thuốc nào của Hạ gia cũng bận trước bận sau, ngải cứu là mặt hàng nóng bỏng tay dịp tết đoan ngọ, năm nào cũng phải mua một lượng rất lớn, sơ chế thành ngải cứu thượng đẳng rồi cất giữ trong kho. Không ai cần ngải mới mà coi trọng loại ngải cũ năm mười năm, hơn nữa những cành ngải cứu này của Hạ gia đều đã được các bạn hàng thường làm ăn chung đặt sớm, năm nào đoan ngọ cũng phải đưa đến tận nhà cho người ta. Lão bá tánh thật thà, thường không mua ngải cứu mà thường tiện thể ngắt một nhúm trên đồng khi làm viện, bện thành bím treo ở dưới hiên nhà là xong.

Hôm đoan ngọ, chỗ lão thái thái náo nhiệt phi thường, năm cô con gái đã đi lấy chồng của Hạ gia đều về nhà ngoại, khắp nơi toàn là tiếng trẻ con ầm ĩ và tiếng càm ràm của cánh đàn bà. A Căn chê ồn, lại thấy phiền lòng bèn chuồn ra khỏi vườn sau khi hành lễ với lão thái thái và các cha các mẹ.

Mấy chị em Hạ gia trước mặt người thì tỏ ra thân thiết chứ sau lưng thì chia bè kéo cánh. Bảo Châu của nhà lớn hầu mẹ trốn dưới giàn nho nói chuyện thầm kín, hai ba câu là lại nhắc đến Táo Hoa. Tư Đễ của phòng nhì gặp lão thái thái xong liền theo mẹ về xuyên viện nhà mình, hôm nay Hạ Tùng Âm bước ra khỏi nhà, nằm trên chiếc ghế trong sân nghe hai mẹ con Tư Đễ dán dóc, đề tài trọng điểm vẫn là Bội Lan với A Căn. Bởi phòng ba thường ngày lo liệu việc nhà, thê tử và di nương của Hạ Tùng Thuần liền ở phòng bếp lớn giúp lo liệu thức ăn cho cả nhà, Chiêu Đễ, Dẫn Đễ, Phán Đề vừa về nhà liền châu đầu xì xầm nói chuyện, tiểu lục dẫn theo mấy đứa cháu trai cháu gái đùa giỡn nhảy nhót tưng bừng.

Chiêu Đễ hỏi Phán Đễ: “Phán Đễ, lần này về có mang theo rượu thuốc về không?”

“Không có đâu nhị tỷ, còn hơn nửa hồ lô mà.” Phán Đễ nói.

“Vậy là uống không nhiều rồi.”

“Cũng không uống hoài được, trước đây nghe Hà Diệp nói A Căn đã phát hiện ra rồi, bảo cứ uống vào là hừng hực, chê tác dụng mạnh quá, mấy lần con bé bày ra cũng không uống, dẫu sao cũng không thể bóp mũi đổ vô được chứ.” Phán Đễ hậm hực nói, nhìn khắp bốn bề, thấy ai nấy đều đang cách rất xa mới nén giọng nói: “Em nghe má nói chị dẫn Hà Diệp đến ngõ Phấn, sao nào, có tác dụng không?”

Chiêu Đễ lại hạ giọng nói: “Dạy thì dạy rồi, còn có tác dụng không thì phải hỏi Hà Diệp, chị nào biết chứ. Chẳng qua Kim giáo tập có nói riêng với chị là, vợ người bình thường có học thì tác dụng cũng chẳng bao nhiêu, cùng lắm là cho cảm giác mới lạ, dù sao các nàng dâu cũng ngượng chết đi được mà. Hơn nữa, cái này dùng được cho kỹ nữ là bởi vì người đến mỗi lần là một người đàn ông khác nhau chứ cùng một người đàn ông thì cũng hết tác dụng thôi à.”

“Nói vậy cũng phải…” Phán Đễ hùa theo.

Chiêu Đễ nói: “Vào cửa nửa năm rồi còn chưa thấy có hỉ, xem ra phải nghĩ cách khác thôi.”

“Sao nhanh vậy được chứ…” Phán Đễ nói.

Chiêu Đễ cười nói: “Không phải em nhanh lắm kia à, về nhà lão Lưu chưa được hai tháng đã có thai rồi.”

“Chị ~ can gì tới em chứ… Tứ tỷ có cách gì không?” Phán Đễ nhìn Dẫn Đễ vẫn một mực im lặng đến giờ.

Dẫn Đễ tính nết rụt rè, chỉ thẹn thùng nói: “Chị thì có cách gì… Không có cách…”

“Không có cách mà có thể bốn năm sinh ba đứa cho con mọt sách kia hả, trong chúng ta chỉ có em biết đẻ con, vậy mà còn không có cách.” Chiêu Đễ mỉa mai nói.

Dẫn Đễ thoắt chốc đỏ mặt lên, chồng nàng là một tú tài, thi hương hai lần đều không trúng, cả ngày chỉ biết ghì đầu đọc sách bị sách đè đầu, thuộc về loại trời sập cũng không biết. Dẫn Đễ nói giọng như muỗi kêu: “Trong mắt tú tài chỉ có sách, tối đến cũng nhoài người dưới đèn, gọi cũng không nghe, em chỉ thỉnh thoảng… đốt chút hương…”

“Hương?” Chiêu Đễ và Phán Đễ gần như hỏi cùng một lúc.

“Hương gì?” Chiêu Đễ vừa nói ra liền “Ồ…” thành tiếng, kinh ngạc đến mức lấy khăn tay che miệng, “Em lấy cái đó ở đâu ra?”

Dẫn Đễ không nói, mặt lại đỏ lên.

Phán Đễ hỏi: “Gì vậy nhị tỷ?”

“Thì là…” Chiêu Đễ nhìn xung quanh rồi ghé sát tai Phán Đễ nói, “Noãn Tình Hương đó.”

“Á…” Phán Đễ cũng kinh ngạc, sững người một lúc mới thì thầm nói, “Tứ tỷ lấy đâu ra vậy? Em từng nghe lão Lưu nói thứ đồ chơi này nhà quan cũng không được dùng, không hề dễ kiếm.”

Dẫn Đễ thỏ thẻ nói: “Năm mới vừa gả đi, tú tài dẫn chị đến một một thư viện ở Quan Trung mua sách, chàng chui vào quầy sách không ra, lúc rảnh rỗi ngồi chờ thì có một người phụ nữ Ba Tư nhét vào tay chị… Chẳng biết thế nào lại mua một ít…”

“Còn không?” Chiêu Đễ hỏi.

“Ừ…”

“Vậy em chia cho Hà Diệp một ít đi, em đã có ba đứa con rồi, cha mình có người kế tục thì mấy chị em ta mới có thể hưởng ké được chút ít.” Chiêu Đễ nói.

Phán Đễ nói theo: “Đúng đúng, tứ tỷ chia cho Hà Diệp một ít đi, em về lại trộm cho chị một hồ lô rượu của lão Lưu là được.”

“Không cần đâu…” Dẫn Đễ nói, “Thế… Để về chị lấy cho Hà Diệp…”

Cơm tối là một bàn rượu thịt phong phú, tất cả mọi người đều vây quanh lão thái thái, lão thái thái tinh thần sung mãn, có ba đứa cháu dâu, hương hỏa cũng có hi vọng rồi.

Trên bàn ăn, bà đích thân dặn dò A Căn, sáng sớm ngày mai đi đón Hà Diệp trước, nhà Hà Diệp xa. Về rồi lại đón Táo Hoa, không thể thất lễ để bà con cười nhạo nhà ta biết sinh không biết dạy. Đến khi mặt trời xuống núi thì đến nhà cậu nữa là được, Bội Lan nhà gần, nhạc phụ cũng là cậu mình, không so đo sớm muộn, ở đó ăn bữa cơm tối rồi về cùng Bội Lan.

(9)

Ngày tháng bận tới bận lui tiếp nối không ngừng, ba mươi tháng chạp năm nay, Hạ Tùng Tiết đã mở thêm một xuyên viện nhỏ sau lưng nhà cũ, giữa mấy cây tùng già thẳng tắp xanh biếc ở hai bên sân là hành lang bằng đá, trên bức hoành phi treo trên cửa lớn trong hàng rào sơn đen ở đầu hành lang viết “Từ đường Hạ thị”, hai bên là đôi câu đối: Bào chế không ai thấy, tấc lòng có trời hay.

Quản gia sắp xếp tôi tớ quét sạch đình viện, nha đầu lau chùi mấy cái bàn trong chính điện. Hạ Tùng Tiết đích thân cầm lò hương đài nến, thỉnh bài vị, chuẩn bị tế tổ đêm giao thừa. Các viện khác cũng bận thay môn thần, dán câu liễn, treo biển, quét đào phù, trong trong ngoài ngoài vô cùng náo nhiệt. Quá giờ trưa, tất thảy nhân đinh Hạ gia đều tụ tập ở từ đường, chính điện trướng gấm rèm thêu, dâng nến thơm huy hoàng cúng các vị thần chủ. Trên tường có treo bức tranh của tiên tổ Hạ gia, do lão thái thái vẫn còn tại thế nên di ảnh của ông cụ Nham Đà được treo đơn độc một bên, các vị tổ tiên khác đều được treo thành cặp.

Trong chính điện người đứng thành hàng, Hạ Tùng Tiết chủ tế, Hạ Tùng Âm cúng rượu, Hạ Tùng Thuần dâng lụa, A Căn dâng hương. Sau khi tấu nhạc là ba lần cúng rượu, lễ bái xong sẽ đốt giấy lụa trong lò hương và tế rượu, lễ xong thì tấu nhạc cũng dừng. Bốn người đàn ông hai thế hệ Hạ gia lùi khỏi chính điện, Hạ Tùng Tiết đợi ở bậu cửa ngoài điện, Hạ Tùng Âm đợi ở trên hành lang ngoài cửa, Hạ Tùng Thuần đợi ở dưới hành lang ngoài cửa, lão thái thái dẫn theo bốn người con dâu và ba đứa cháu dâu lần lượt vào chính điện, A Căn đứng bên bậu cửa trong điện. Quản gia dẫn theo một đàn tôi tớ nha hoàn xếp hàng trong sân, mỗi món ăn do nhà bếp lớn nấu được chuyển tới xuyên viện đều do quản gia chuyển cho Hạ Tùng Thuần, rồi thông qua Hạ Tùng Âm chuyển cho Hạ Tùng Tiết ở ngoài bậc cửa. A Căn ở trong điện cùng với nữ quyến, lấy thức ăn cha cả chuyền cho chuyền đến Hà Diệp đang ưỡn cái bụng to, Hà Diệp chuyển cho Bội Lan, Bội Lan lại chuyển cho Táo Hoa đang mang bầu, Táo Hoa chuyển cho tam đi nương. Qua tay tam di nương chuyển cho tam thái thái, khi đến tay nhị thái thái thì đồ ăn đã đến trước bàn thờ. Lão thái thái bưng lên đích thân đặt lên bàn thờ, đại thái thái đứng ở phía tây bàn thờ hướng mặt về phía đông, tiến đến bày thức ăn ngay ngắn, như vậy cho đến khi cơm canh rượu toàn bộ đều được chuyển xong. Ba anh em Hạ gia lại bước vào chính điện, nam đông nữ tây, lão thái thái đứng giữa nhón hương hạ bái, mọi người đồng loạt quỳ xuống. Bốn người đàn ông ở phía đông lạc lỏng quạnh hiu, bảy người đàn bà phái tây, đặc biệt là còn phải bảo vệ Táo Hoa, Hà Diệp đang mang thai mà trông đông đông đúc đúc. Quản gia quỳ ở hành lang ngoài cửa, nhân đinh khác đều quỳ trong sân lặng phắc như tờ, bái lạy theo chính điện cho đến khi hết lễ.

Hạ Tùng Tiết và Hạ Tùng Thuần gấp rút lùi ra, đến nhà cũ đợi các thái thái đỡ lão thái thái ra rồi mới hành lễ với mẫu thân. A Căn ở lại sau cùng chờ phụ thân, Hạ Tùng Âm cử động chậm chạp, không sánh bằng người khác.

Sau khi ai nấy đều ra ngoài, A căn muốn đỡ phụ thân đi nhưng Hạ Tùng Âm vẫn đứng trước bàn thờ như cũ, hít sâu một hơi thở dài nói: “A Căn ơi, bây giờ phòng lớn phòng ba đều đã mang thai rồi mà nhà mình không có động tĩnh gì cả… Cha với mẹ con bàn bạc với nhau rồi, cũng đã bẩm với lão thái thái… Tháng giêng, chọn ngày lành, khiêng Đinh Hương đến tây sương phòng làm di nương cho con, bên cạnh có thêm một người dễ sinh đẻ… Người làm cha đây… Vẫn muốn nhân lúc còn một hơi thở… Trông thấy cháu ruột của mình…”

Nhìn di ảnh tổ tiên treo trên tường, A Căn hai mất đờ đẫn vô hồn, không nói câu gì nữa.

[1] Nhà này neo người nên A Căn được coi là con của cả 3 người gồm cả cha và chú bác mình. Âm Hán Việt ở đây để đại đa và tam đa. Tôi thấy để nguyên âm Hán Việt hay cha cả cha ba đều khó nghe như nhau nên chọn quách luôn cách sau =)), khi nào nghĩ ra cách dịch khác xuôi tai hơn thì tôi sửa.

[2] Tùng, âm Hán Việt của cây “thông”.

[3] “Tuổi không còn nghi hoặc” (tứ thập nhi bất hoặc) là bốn mươi tuổi, “Tuổi tự lập” (tam thập nhi lập) là ba mươi tuổi. Tuổi biết được mệnh trời (tri thiên mệnh) là năm mươi. Đây là các cách nói tuổi được đề cập trong Luận Ngữ.

[4] Ngày tam cửu: Ngày thứ chín lần thứ ba sau tiết đông chí.

[5] Đuôi khổng tước này là tên một vị thuốc họ Dương Xỉ, không phải đuôi khổng tước thật.

[6] Đang nhắc đến Tây Sương Ký, khi Thôi phu nhân tra hỏi Hồng Nương về chuyện tình lén lút của Trương Sinh và Thôi Oanh Oanh. Chồng Tư Đễ lại họ Thôi nữa nên cô nàng tự ví mình như Thôi phu nhân còn A Căn là Hồng Nương.

[7] Nguyên là câu “Sản miệt bộ hương giai, thủ đề kim lũ hài” trong bài Bồ Tát Man Kỳ 1 của Lý Dục.

[8] Nguyên là hai câu “Kết thức tư tình hảo tượng hài tử năng, bang bang sấn sấn phí tử hứa đa tâm” trong loạt bài Sơn ca của Phùng Mộng Long, vốn được viết như kiểu ca dao ví von. Nước mình dùng ca dao ví von là chơi lục bát nên tôi quất cho 2 câu lục bát luôn, dù chém cũng hơi quá tay =)). Anw, nghĩa của nó chỉ đơn giản là ví von hai người quen biết yêu nhau cũng giống như công năng của chiếc hài vậy, tốn nhiều tâm sức để nâng đỡ hỗ trợ nhau.

ĐĂNG KÝ RÌNH MÒ

Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
1
0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x