LẬP LÒE ĐOM ĐÓM BÊN HÈ CỎ LAY | HUỲNH SONG DỊ THẢO – KÍNH NHI

By

·

19–28 minutes

HUỲNH SONG DỊ THẢO | LẬP LÒE ĐOM ĐÓM BÊN HÈ CỎ LAY

TẬP 2 – QUYỂN 4

TRUYỆN: KÍNH NHI

Dịch (láo): A Tĩnh

#huynhsongdithao #covan #kinhnhi #laploedomdom #benhecolay

Cao tăng Thiệu Bản Nhất, trụ trì chùa Linh Ẩn, giới hạnh tinh tấn nghiêm cẩn, không ai biết sơ danh, là người Thiểm Tây. Thiếu thời học ở địa phương, hâm mộ tài văn nở rộ ở Ngô – Sở, thế nên du học ở Giang Tả [1] nhiều năm, song bất tình có sở ngộ bèn xuống tóc quy y, trôi dạt đến Việt [2], vào cửa đức Thích Ca. Người Hàng [3] nghe danh kéo nhau đến chùa, người mà ngày nay gọi là Định Tâm đại sư chính là người ấy. Ông có người con trai tên Tục, khi ông xuất gia thì mới biết bò, sau này lớn lên thường hận một nỗi không biết cha mình là ai. Lênh đênh lưỡng giang [4], hỏi han liên tục mà thường không gặp, nghe nói người ở Tiền Đường [5] bèn chèo thuyền xuôi nam. Chung thuyền còn có một thiếu niên, dáng người như con gái, tự xưng mình họ Cung từ kinh thành về lại Sơn Âm [5], nghe danh Tục có hiếu bèn kính cẩn hỏi chào, hai người Pha Tương [6] hợp ý.

Khi đến Hàng Châu, Tục biết được nơi cha ở bèn vội đến ngay. Cung cũng xin đi cùng, Tục bằng lòng rồi cùng đi. Vừa đến cổng chùa đã thấy ngay một nhà sư đợi nơi đó từ lâu cản lại, nói: “Đại sư xuất định [7], biết Pháp Tự [8] từ xa đến đây nhưng không tiện gặp Kính Nhi nên xin dừng.” Tục ngỡ ngàng còn Cung thì biến sắc. Tục cảm thấy lạ thường mà nhớ cha sâu sắc, cũng không rảnh gặn hỏi nên đành ngăn Cung ở ngoài, một mình vào thăm.

Vào đến sảnh pháp thấy sư đang ngồi xếp bằng, Tục vốn không biết mặt cha, hòa thượng lại rằng: “Vị này chính là cha ông.” Tục gào lên đau đớn, vừa khóc quỳ lạy dưới chân.

Nhà sư lệnh rằng: “Thôi, thôi, nghiệt chủng chớ làm vậy nữa! Cha ngươi vẫn còn an lạc, ngươi nên sinh lòng vui sướng, cớ sao lại có thái độ này?” Lại lệnh cho ngồi. Rồi hỏi sơ về các bậc trưởng gia thân tộc, các bạn học và cố nhân, Tục cung kính trả lời từng việc một. Sư đột nhiên chau mày nói: “Ngươi bôn ba vất vả, cũng tỏ rõ hiếu tâm. Cần đến ắt tự đến, còn loại như Kính Nhi, sao lại dắt theo rầy rà đến lão tăng?”

Tục vội thẳng mình rồi phủ phục quỳ bẩm không biết, đồng thời xin hỏi duyên cớ bên trong.

Sư nói: Cung tức là chồng của Kính Nhi, Kính Nhi vợ hắn đích thực là một con cáo hoang. Bị ái dục dẫn dắt, đôi bên không nỡ lìa nhau bèn mượn tấm lòng hiếu thảo của ngươi nhờ thế qua sông, lại có ý dòm ngó lão tăng, mong nhờ vài lời của lão tăng để được bên nhau mãi mãi. Kính Nhi quả thực ở bên cạnh hắn. Với xác phàm của ngươi, há trông thấy được?” Lát sau nói: “Con cáo kia phong nhã còn quen biết hiếu tử, cố nhiên ta không tiếc một tấc giấy này.” Rồi lệnh lấy một tờ giấy vàng ra, biên vài chữ rồi đưa cho nhà sư theo hầu, dặn: “Cầm thứ này ra đưa cho hắn, chớ để hắn ở lâu quấy rầy nơi thanh tịnh.” Nhà sư vâng lệnh mà đi. Cung có được vật ấy bèn lạy thêm một lạy mới ra về. Tục ở lại chùa tròn một tháng thì bị sư đuổi đi: “Về phụng dưỡng mẹ ngươi đi, xem như đã phụng dưỡng cha vậy, nơi này không phải cõi trần mà có thể chứa loại phàm tục được lâu.” Tục không muốn quay về song bị sư quở trách, đành đi. Về gặp mẹ mình thấy vẫn khỏe mạnh như xưa. Hầu hạ vài năm lại thấy nhớ cha bèn trở lại Chiết Giang, song sư đã dời bước xuôi nam, không biết nơi nào.

Tục vì nhớ ơn trời bể mà tiếp tục về nam. Trên đường ở Sơn Âm chợt gặp một người mình khoác áo lông cưỡi ngựa băng băng, người theo vô số, trông thấy Tục là người năm xưa cùng thuyền với mình vậy. Cung thấy Tục bèn bỏ ngựa khom người ở ven đường, nói: “Quý tử [9] lâu nay vẫn khỏe?” Tục vội cúi xuống đỡ lên: “Cố nhân cần gì khiêm nhường đến thế!”

Cung đứng dậy nói: “Ơn cha con ông thực sánh bằng trời đất. Chỉ hận không chi báo đáp, sao dám ngạo mạn tự cao?”

Thế là mời đến chơi nhà. Tục vốn có lòng riêng muốn hiểu thêm chuyện lạ ấy nên vui sướng theo về. Thế là mượn ngựa mà cưỡi, cùng ra roi tiến bước, ôn kỉ niệm xưa, khi đến nơi thì đã mất nửa ngày đường. Đến nơi nghỉ chân, Tục hơi hỏi dò, Cung cũng không kiêng kị, bắt đầu kể từ việc Cung là người Chiết Giang, cha y làm quan ở kinh thành, dẫn y theo nhậm chức. Y học ở núi tây bắc, nhà tranh vách lá, nơi nấy tuyệt đối u nhã. Có một hôm đầu đông tuyết đóng, Cung vừa mới cầm sách ngồi bên lò lửa, ê a vất vả học hành, chợt có vật như một đóm lửa có màu đỏ son, bốc khói hơn thước rồi đáp đằng dưới y, khi chạm đất thì xoay tròn mãi không ngừng, cả căn nhà ấm lên, càng lúc càng nóng nực. Cung khiếp sợ nghi Chúc Dung [10] tàn sát bèn chạy trốn mau, rồi chợt ánh lửa kia gom lại, phút chốc hóa ra người là một bà lão tóc bạc, áo quần trắng tinh, chắp tay về phía trước. Cung càng thêm run sợ, biết là yêu dị trong núi, càng tránh mau thêm. Bà lão bước lên cản lại: “Lang quân chớ hoảng sợ, lão không gây hại cho người. Thấy lang quân cô đơn đọc sách, nhà có đứa con gái yếu đuối, tên Kính Nhi, hết sức say mê văn chương hội họa, muốn sai đến hầu quét tước để ít nhiều cũng được lĩnh giáo thêm, thế nên vội đến đây xin gặp, không biết có chịu thu nạp không?”

Cung càng lấy làm lạ, dạ càng sợ thêm, bèn từ chối: “Hạ sĩ bất tài, học chưa bằng ai, sợ làm lỡ con gái mụ; hơn nữa lai lịch bí hiểm, ôm lòng cảnh giác, những mong oanh yến càng không phải sở nguyện của tôi, xin mụ thương tình lượng thứ.”

Mụ già cáu gắt làm như không nghe thấy, tức thì phẫn nộ: “Con gái ta đẹp tựa thiên tiên lại sánh duyên với tiểu tử ngươi, tất không thể nào cự tuyệt. Nếu còn lải nhải lắm lời, với oai lực vừa rồi há không thể đốt ngươi cháy ra tro?” Nói rồi mụ đanh mắt lại, ánh mắt lấp lóe như trâu. Cung càng sợ hãi. Đương lúc không biết làm sao lại thấy một con hầu xinh đẹp tuyệt trần từ ngoài bước vào cười nói: “Cứ miễn cưỡng ép hôn như vậy ngược lại hại đến tình vợ chồng son sắt, không phải đường ngay. Xin hãy về cho, Kính cô tự đến.” Rồi nói: “Tôi biết ngọn gió của mụ già lợi hại, song không thể làm thế.” Rồi đỡ ra ngoài, mụ già hãy còn căm phẫn. Ra khỏi nhà mấy bước rồi chẳng thấy tăm hơi.

Cung khiếp sợ tim như muốn vỡ, toan xuống núi mà tuyết phủ đường đi, ngựa phi không nổi, mà tôi tớ của trưởng bối đã phụng lệnh vào kinh vận chuyển củi gạo, trong nhà ngoài Cung ra chỉ còn mỗi thằng bé mới mười hai tuổi đầu, làm sao được nữa, bất đắc dĩ mới lẳng lặng mà chờ, sống chết nhờ trời mà thôi. Tối đó tuyết vơi, Cung khép cửa nằm cao, tạm qua đêm này, định mai sẽ bỏ đi. Song trống ngực dập dồn không sao vào giấc, lát sau bỗng nghe tiếng búng tay, có người vén rèm xướng hát, rằng: “Ôi, buồng khuê vắng, nến con đã tắt. Giấu tâm tư, mòn mỏi trông chờ. Tranh tranh cây đổ bên bờ. Chàng cho sửa túi, trọn đời bên nhau.”

Giọng hát vô cùng êm dịu mà dư âm du dương, lại ngân nga không dứt. Cung biết đây là Kính Nhi. Dưới trời trăng tuyết giao hòa, thiếu nữ tóc mây bồng bềnh, duyên dáng đứng tựa lan can, áo xanh lạnh lẽo canh tàn rét, mảnh mai dáng trúc giữa chiều buông, trông mà chẳng khác lời thơ bày tỏ [11]. Cung thấy dạ luyến thương nhưng vì chuyện trước đây là kinh sợ, khó tránh ngần ngừ, cuối cùng không dám lên tiếng. Lại nghe thiếu nữ ấy ca: “Tuyết sắp tàn, mây đã tan; chim không bến đỗ bay ngang lưng trời. Sao người muốn trướng đơn côi, em không thấy mặt lẻ loi đường về.”

Hát xong, lùi bước muốn đi mà ý còn ngơ ngẩn. Cung dần không kìm chế được, hét to: “Nàng ở nơi nào, về có an toàn không?”

Cô gái dừng lại, cách cửa sổ nói: “Cự tuyệt không ngừng, thiếp thực xấu hổ, thế nên không thể không về, chứ há lại thực dạ muốn về ư?”

Cung tức thì khoác áo rời giường, mở cửa cho mời, nắm tay cùng vào. Bấy giờ đèn tàn chưa tắt, đùa giỡn dưới đèn, thấy da nàng không những đầy đặn mà còn trơn mướt, khi nhăn mặt lúc mỉm cười đều kiều diễm tha thướt động lòng người, thực là một nhan sắc hiếm có chốn buồng khuê. Nhân đó mà hỏi: “Rồi thì, Kính Nhi ngại nói chuyện chăng? Nếu không sai người ác đến làm mai, chuyện tốt đã thành lâu rồi vậy.”

Kính Nhi cười rằng: “Chàng nông cạn háo sắc, thiếp mà không tới, chuyện tốt không trông mong được gì.”

Cung liền kéo đi nằm, nàng cự: “Thiếp còn đợi năm, tạm thời chàng đừng gấp.” Nhân đó lấy ra một quyển sách rằng: “Thứ này là thiếp viết bừa mà ra, thẹn không thầy chỉ dạy, xin chàng sửa lại giúp cho. Ba ngày sau thiếp đến bái lĩnh, mong không nhận lại những lời a dua tâng bốc.” Nói rồi lại lạy mà ra, biến mất tức thời.

Cung đọc câu từ, thấy phong lưu diễm tuyệt, chữ chữ say lòng. Bình minh ló dạng, mực son trên giấy, nhận xét tinh tường, không có gì để cải thiện thêm. Đến ngày thứ hai, quả nhiên Kính Nhi đêm đến. Cung đưa sách cho, rằng: “Mừng không phụ sứ mệnh. Nhưng lời châu ngọc của nàng khiến người ta không thể không khen.” Kính Nhi lật xem đến trang thứ tư, cười lớn: “Quả nhiên không phải hư danh.” Nói rồi định đi. Cung liền giữ lại, cởi đai áo ra. Kính Nhi đỏ mặt cười rằng: “Tròn mười lăm tuổi lấy Vương Xương [12]. Há có thể xem là chuyện khổ?” Thế rồi, hải đường vừa hé trên cành, người đưa tay hái một tràng mộng xuân. Tuy Kính Nhi nũng nịu thút thít đẩy đưa, vẻ như không chịu nổi, song đã là cực lạc nhân gian vậy.

Giữa buổi giao hoan, Cung nhân đó hỏi mụ già là ai, nàng cười đáp: “Ấy là mẹ nuôi của thiếp, người ấy họ Cổ, là người thôn dã.”

Cung rằng: “Oai thế làm người khiếp sợ, giờ nhắc đến đùi vẫn còn cảm giác đây.”

Kính Nhi mỉm cười nói: “Đụng độ với chàng đêm ấy, e rằng phải chạy đi rất xa rồi.” Nói rồi, cả hai cùng cười lớn, mãn nguyện tựa đầu ngủ say.

Rạng sáng, cô hầu gõ cửa mà vào, Cung nhân đó cảm tạ cái ơn đã giải vây cho. Cô hầu cười nói: “Mụ khờ đó vốn không hiểu việc này, tôi dám chắc Kính cô mà không tự đến là toi.” Chờ Kính Nhi chỉnh lại áo xống rồi dìu đỡ nàng đi.

Từ đó không đêm nào không đến, quyến luyến đêm ngày. Kính Nhi vốn đã yêu thích thơ văn lại thêm phong nhã, chỗ đang ở thì nhỏ hẹp lại thêm có cả người hầu, không thỏa lòng mong ước, thường đêm nằm tựa gối suy tư, đầu giường tranh luận, hoặc chọn nhã ngôn mà đùa cợt, hoặc lấy diệu cú mà ngâm nga; nói cười thành tiếng, thâu đêm không ngừng nghỉ trong phòng.

Một thời gian sau người tôi tớ lớn tuổi trở về, nghe mà kinh ngạc. Tờ mờ sáng người này canh ở ngoài phòng, đương lúc chủ nhân nằm nghỉ mà chợt cửa tự mở còn người ấy bước chân duyên dáng, tà váy gió bay, trộm nhìn không biết từ đâu ra thế nên cả sợ, cho rằng ở cái đất không người này ắt chỉ có dòng giống quỷ hồ bèn gắng sức khuyên Cung quay về. Cung không nghe, tôi tớ lại về kinh bẩm với chú út của Cung, biết Cung bị yêu ma mê hoặc bèn sai người đến triệu về.

Người chưa đến mà Kinh Nhi đã biết, đêm đó nàng khóc bảo Cung rằng: “Vui chưa kịp tận, phải làm sao đây?” Cung giật mình truy hỏi, nàng đáp: “Tên hầu đã tiết lộ chuyện đôi mình với chủ, sẽ có sứ giả triệu chàng về. Chàng về, sẽ không quay lại nữa, thiếp phải tính sao?”

Cung cũng buồn rầu, bởi thế muốn cùng đi với Kính Nhi. Nàng từ tạ: “Thiếp thật không dám. Thân là cáo, loài chúng ta đều tự có giới hạn của mình, huống chi nơi ấy là kinh đô của bậc thiên tử thánh minh, không thể tự tiện lai vãng. Chàng không bỏ thiếp, ắt chỉ có thể quanh quẩn ở phương nam.”

Cung đã chìm đắm trong hương lửa, cũng khó xa lìa, chỉ hỏi đi cách nào cho yên. Kính Nhi nói: “Thiếp có để dành chút bạc vụn, đủ cho xe ngựa thuyền bè. Nếu chàng làm theo lời thiếp, ắt về lại được cố hương, hà tất lưu luyến đất này?” Cung dứt khoát nghe theo. Thế là bàn mưu với Kính Nhi, không mang theo vật gì, thầm đi lặng lẽ trong đêm. Tôi tớ vốn ở lâu nơi kinh thành, thằng nhỏ lại gục đầu mà ngủ, thế nên không có ai giữ lại. Đi được chừng hơn một dặm, bụi cỏ như có ánh đèn, chập chờn bó đuốc khi mờ khi tỏ. Cung trỏ vào, tưởng đâu là người ta. Kính Nhi cười rằng: “Kẻ chàng sợ đến rồi. Cũng chỉ lột một lớp da người, cần gì la hét vậy!” Cung còn chưa hiểu. Lát sau nghe thấy tiếng hổ gầm, chấn động sơn cốc, Cung cả kinh, suýt rơi xuống vách núi. Kính Nhi đỡ dậy nói: “Có thiếp ở đây, sao nó dọa được chàng.” Thế rồi hô to: “Con cùng chồng sắp đi nơi khác, mong mẹ ưng thuận, ngày sau quay về ắt dốc lòng phụng dưỡng.” Lời chưa dứt, hổ chợt biến đi. Lòng Cung còn sợ, trêu ngược rằng: “Xưa mượn oai hùm, nay oai có thể phục hùm.”

Xuống đến chân núi, có thôn làng, hai người tạm tìm chỗ ăn sáng và xưng nhau là vợ chồng, cũng chẳng ai vặn hỏi. Kính Nhi lại đem vàng trắng ra tìm phương tiện, xếp quần áo, quanh co khúc khuỷu xuôi nam xa thành, thẳng đến Đông Quận. Không ngày nào không ngồi thuyền thả neo, căng buồm xuôi nam, đến khi lời triệu của người chú ít đến thì Cung đã ra khỏi núi được ba ngày rồi. Trên thuyền, Cung và Kính Nhi cuối cùng cũng được thỏa chí, hoặc rửa ấm đấu trà, hoặc cắt nến cờ thí, hoặc cầm sách lấy thi thư chơi tửu lệnh, hoặc lấy phong cảnh chia thành các đề tài thơ văn âm điệu, cùng xướng khúc hòa âm, càng phóng khoáng hơn xưa. Ban đầu Cung hãy còn do dự nhưng sau lại bằng lòng, tiếp tục vui chơi không biết mệt, dẫu gì cũng có bạn hiền đêm ngày kề cận, ngày tháng không có dị thường gì.

Thuyền đến hạ lưu sông sắp vào biên giới Chiết Giang, chợt Kính Nhi buồn bã nói: “Thủy Thần nơi này cực kỳ khó khăn, thiếp không qua được, cần đợi một người phúc lớn sắp xếp chiếc thuyền mới được bình yên.” Cung hỏi kĩ nguyên do, mới biết: “Ngũ Tướng Phạm Bá [13] oai linh chấn động, các thần khác không thể sánh bằng, thiếp thực e sợ.” Cung không tin lời nhưng còn chưa kịp giương buồm thì sóng dữ trào lên, sương mù giăng khắp, chẳng thấy bóng người. Cung cả sợ bèn ở lại năm ngày. Đúng lúc gặp một chiếc thuyền nhỏ đến gần, Kính Nhi tức thì vui sướng: “Người đại đức đã đến! Cũng là người phúc trạch còn dày. Nếu chàng có thể cùng người ấy qua sông thì dẫu có là thần của trăm sông thiếp cũng không sợ.” Cung theo lời nàng. Đúng lúc Tục sắp đổi thuyền Cung bèn buông lời xúi giục, bảo người chèo đò đón mình. Song từ đó Kính Nhi không xuất hiện ban ngày nữa, nàng bảo Cung: “Người này là hiếu tử, có chư thiên phù hộ, nếu thiếp phóng túng không kiêng kỵ e gặp chuyện bất ngờ, nên cẩn trọng tránh đi.” Vì thế Tục và Cung đi chung một thuyền mà rốt cục chẳng biết người này có dẫn thân quyến cùng đi. Đến khi sắp vào sông lớn, trời yên biển lặng như giẫm trên đất bằng, qua thêm mấy ngày đến được Hàng Châu. Khi Tục sắp lên núi, Kính Nhi nói trước với Cung rằng: “Cha của người này là một cao tăng. Thiếp đến Quý ấp vẫn e Thổ Thần không chứa, nếu được lời sư xin tha giúp mình, ắt về sau mình có thể răng long đầu bạc.” Cung lại nghe theo, vì thế gắng sức nhờ Tục xin cho cùng đi yết kiến sư. Kính Nhi lại dặn: “Cái quạt của chàng là do thiếp hóa ra, hãy để nó trong tay áo, đến khi gặp sư thiếp tự thiếp biết nói gì, nhớ kĩ không được sàm ngôn.” Cung cũng y lời. Ai ngờ còn chưa vào chùa, sư đã sớm biết. Cung vì thế sợ hãi vô cùng. May có thị giả đưa cho mảnh giấy, liếc thấy mười chữ rằng “Tất cả thủy thổ chư thần không được cản trở”. Hệt như khám hợp [14] của quan phủ, Cung cả mừng, lập tức rời đi với Kính Nhi. Quả nhiên thuyền đi không gặp cản trở. Về đến nhà, nói thác rằng chú út cưới vợ cho ở kinh thành, thân thích chẳng ai ngờ vực. Cung đã không chốn nương tựa từ lâu, bởi thế đành nhờ Kính Nhi chủ nội chính, nàng lại rất biết chăm lo việc nhà hơn nữa bỏ ra kim tiền muôn vạn mua bán ruộng đất, Cung nhờ thế mà giàu. Xưa chưa gặp thì không xu dính túi, nay tiền rút liên hồi, cũng là một sự lạ.

Hôm nay, Cung nói Tục nghe cực kỳ tường tận. Hoàng hôn bắt đầu buông xuống nơi Cung ở, mé sân trước đình lộng lẫy, bề thế trang nghiêm. Cung vái chào mời Tục vào, tổ chức tiệc khoản đãi. Kính Nhi sinh được đứa con trai, vừa tròn ba tuổi cũng được dắt ra gặp khách. Diện mạo nó tú lệ, khác hẳn bọn trẻ cùng lứa, từ đó đủ biết tướng mạo người mẹ thế nào. Uống đến nửa đêm, Cung bắt đầu từ biệt. Chăn đệm cung ứng đủ đầy, càng khỏi phải nói. Hôm sau ra đi, Cung cũng không níu giữ nữa, chỉ nói: “Đường đạo bao la, e rằng không thể gặp lại tôn ông, lúc ấy vẫn xin ghé qua chỗ tôi thêm một lần.” Tục bằng lòng. Cung tiễn đến ngoại ô, tặng cho trăm vàng. Tục không từ chối được bèn lạy nhận. Xuôi nam đến biển, Tục không gặp được phụ thân, rầu rĩ vòng về. Lại đến nhà Cung, đúng lúc Cung ra ngoài, nô bộc vâng lệnh bà chủ dâng lên một bộ xiêm y. Mở ra, trông thấy một vật trắng muốt óng ánh, ra là một mảnh ngọc như ý. Nô bộc lại chuyển lời rằng: “Mượn vật mọn này đền ơn sâu nặng đáp nghĩa “bạch hoa” [15]. Ông hãy về nhanh, bằng không chưa gặp được thái ông mà ngược lại mất đi thái mẫu rồi ôm hận về sau.” Tục nghe xong lấy làm kinh hoảng, không kịp đợi Cung mà chạy về không kịp nghỉ. Về đến nhà, quả nhiên mẹ đang nằm trên đệm cỏ, bệnh tình nguy ngập. Thấy Tục về, bà cười rồi đi. Tục bắt đầu khâm phục tài tiên đoán của Kính Nhi, mỗi lần kể lại chuyện lạ này với người khác, người nghe đều cảm thấy dị thường.

Sau Cung có thư đến nói vì Kính Nhi sợ cái họa bắt cầu mà không mong thăng quan tiến chức, nhàn nhã ruộng đồng cho đến hết tuổi trời. Có độc một bức thư xa xăm mơ hồ cho biết, xem chừng người ta thành đạo ở tuyết sơn mà quay về trời Đao Lợi [16] mất rồi. Tuy Tục là con chí hiếu nhưng không có cách gì cùng theo, song cũng không phải chuyện gì đáng tiếc lắm của đời người!

Người bên lề viết: Rảnh thường xem kịch, nghe vở “Truyền kỳ tháp Lôi Phong”, tuy không trải qua nhưng lần nào cũng hận lão trọc đầu Pháp Hải làm hỏng hứng thú của người ta. Về phần truyện này, lão hòa thượng thực hiểu nhân tình, đáng gọi là Phật sống xuất thế, mà truy về nguyên gốc, thực phải xuất phát từ Nho gia mới có tấm lòng trắc ẩn nhân ái bậc này. Bằng không, nếu lòng đã tĩnh lặng, sao biết Kính Nhi là Kính Nhi mà tác thành đoạn kỳ duyên này, giúp nó truyền ra thiên cổ?

Tùy Viên lão nhân viết: Hai chuyện cực kỳ khác nhau mà hợp thành một bản, cứ như áo trời không thấy đường may. Trong các câu chuyện về cao tăng, hiếu tử mà có câu chữ diễm lệ bậc này, đủ gọi là kỳ quan chứ không chỉ là kỳ sự.

A Tĩnh viết: Hai cụ đều khen đoạn “kỳ duyên” này, thậm chí cụ “bên lề” còn so sánh nó với Bạch Xà – Hứa Tiên, đủ thấy cụ xúc động vô cùng. Cơ mà thư sinh vì gái, hơn nữa còn là yêu quái, mà bỏ dở học hành công danh, lại sống giàu sang trong nhung lụa tiền của không phải do mình làm ra, con cứ tưởng các cụ sẽ lắc đầu bảo thế sự suy đồi chớ các cụ ơi =))))))))). Sao cụ nào cũng tấm tắc khen thế này =))))). Ra không cần học hành vẫn có vợ đẹp sang giàu là mong ước từ cổ chí kim, chưa hề thay đổi =)))

[1] Chỉ vùng phía đông hạ lưu sông Trường Giang.

[2] Có khả năng chỉ nước Việt thời Xuân Thu, Chiến Quốc

[3] Tức Hàng Châu. Chùa Linh Ẩn cũng ở nơi này.

[4] Tức Giang Nam, Giang Tây.

[5] Tiền Đường, Sơn Âm cũng thuộc Hàng Châu. P/s: Sông Tiền Đường chính là con sông Thúy Kiều tự tận đóa.

[6] Ý nhắc đến câu chuyện về tình bạn giữa Liêm Pha và Lận Tương Như nước Triệu. Ban đầu Liêm Pha không phục Tương Như nhưng cuối cùng lại bị sự khiêm nhường của Tương Như cảm hóa, hóa giải mâu thuẫn, trở thành bạn thân.

[7] Thoát khỏi trạng thái thiền định, từ chữ này và chữ Pháp Tự đằng sau có thể thấy vị này tu theo thiền tông.

[8] Pháp Tự: Là người thừa kế y bát của tổ sư trong Thiền tông của Phật giáo. Ở đây gọi người con tên Tục là Pháp Tự chắc chỉ đơn thuần là vì Tục là con trai của vị hòa thượng chứ đoạn sau không thấy có manh mối nào Tục sẽ kế thừa y bát của cụ ông.

[9] Từ để chỉ con trai út trong nhà.

[10] Chúc Dung là thần lửa.

[11] Hai câu gần cuối đoạn này là hai câu thơ “Thiên hàn thúy tụ bạc, nhật mộ ỷ tu trúc” (nghĩa là giữa trời rét buốt, (giai nhân) với tay áo màu xanh biếc; chiều chiều nàng đứng dựa khóm trúc dài) trong bài Giai nhân của Đỗ Phủ, vì ghép chung với những câu trần thuật trước nên buộc phải đi theo vần nhịp của cả câu nên tôi đã thêm thắt chút xíu.

[12] Xuất xứ từ bài thơ Cổ Ý của Thôi Hiệu, trong đó câu đầu tiên là “Thập ngũ giá Vương Xương”, nghĩa là đến năm mười lăm tuổi lấy chàng Vương Xương. Trong bối cảnh truyện, Vương Xương được đem ra ám chỉ người tình trong mộng.

[13] Ngũ Tướng: Tức Ngũ Tử Tư. Phạm Bá: tức Phạm Lãi.

[14] Khám hợp: Một loại văn thư xác minh danh tính và quyền hạn thời xưa.

[15] Không tìm ra điển tích của cái “nghĩa Bạch Hoa” này, liên quan nhất là thấy trong Kinh Thi, phần Tiểu Nhã có bài Bạch Hoa, thuộc về loại để biểu diễn trong các buổi yến tiệc nên ngờ rằng chỗ này ý chỉ để đền lại việc không thể bày tiệc chiêu đãi Tục. Ngoài ra còn có 1 cụm “oán Bạch Hoa” cũng trong Kinh thi thì lại phiếm chỉ nỗi oán hận của một người vợ khi bị chồng xa lánh mà sủng ái người thiếp khác thì thiết nghĩ không hợp ngữ cảnh này.

[16] Tuyết Sơn thành đạo (hay đạt đạo ở núi tuyết) là một cụm ý chỉ người đã tu hành đắc đạo. Trời Đao Lợi: Là một cõi trời trong vũ trụ quan của Phật giáo.

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x