HUỲNH SONG DỊ THẢO | LẬP LÒE ĐOM ĐÓM BÊN HÈ CỎ LAY
QUYỂN 1 – TẬP 4
TRUYỆN: MƠ BA KIẾP NGƯỜI
Dịch (láo): A Tĩnh
#huynhsongdithao #covan #mobakiepnguoi #laploedomdom #benhecolay
—
Phía bắc Kinh Thủy [1] có một dị nhân, qua lời truyền miệng đến nay đã không còn ai biết tên tuổi, nhà không có vật gì, chỉ đeo theo cái túi trống rỗng bên trong. Mỗi lần ngang qua một quán rượu treo cờ, ông xách túi bước vào, đã uống là phải say, say rồi lại mò túi lấy ra một vật đáng giá, chưa từng nợ ai bao giờ. Ai nấy đều lấy đó làm kỳ. Có hôm say quắc cần câu, đương say bí tỉ thì có người hành khất đến xin ăn. Kẻ kia tả tơi dơ bẩn, diện mạo khó ưa, tuổi độ tam tuần trở lên.
Người đó thình lình kinh ngạc hỏi: “Người ngọc sao lại tiều tụy như này? Lẽ nào nụ cười đáng giá nghìn vàng vẫn không đủ cho nàng cơm no áo ấm?”
Người ăn mày bỡ ngỡ. Phút chốc, những người ở bếp lò rửa bát ai nấy cũng bật cười. Người nọ ngó lơ, đem rượu ra uống với khất cái, lệnh người đó hát. Khất cái từ chối không ưng.
Người nọ cười: “Nàng vẫn e thẹn như xưa, chả trách ta vẫn cứ say lòng!”
Thay phiên cạn chén, có ý suồng sã, mãi đến giờ Thân mới từ biệt; người nọ lại nghiêng túi lấy ra một xâu tiền cho khất cái, nói: “Cầm tạm mà mua phấn son, chớ chối từ.”
Khất cái vui sướng, cúi đầu cảm ơn. Người nọ lộ vẻ bi thương không nỡ. Khất cái đi rồi, người nọ vẫn ở lại uống, cũng là chuyện thường khi say mà thôi.
Sáng sớm hôm sau, có người hiếu sự vặn hỏi lý do. Người ấy cười rằng: “Kiếp trước là một giai nhân. Được người người săn đón, cũng có qua lại với tôi.”
Mọi người phấn khích theo nhau. Ra đến nơi cách cửa tiệm nửa dặm đến được ổ ăn mày. Đó là một ngôi miếu hoang, nhà cửa đổ nát, thấy người ăn mày kia nằm co ro dưới ngôi nhà nhỏ, nom đang mượn cỏ gối đầu, bệnh tình nguy kịch, tất thảy đều sợ hãi. Còn chưa kịp lên tiếng, người ăn mày đã trố mắt nhìn, thấy người nọ đến bèn nói: “Tiên sư đến đó ư? Một mộng thấy đến ba đời, nhờ chút thần lực của thầy mà tôi vẫn còn mê man chưa tỉnh.”
Đám đông càng thêm hốt hoảng, cắn môi hỏi rõ. Người ấy bảo mọi người ngồi xếp hàng cho ăn mày tự thuật vì mình đã biết được đại khái.
Đại loại là sau khi kẻ ăn mày gặp được người đó trở về thì lấy làm kinh ngạc, nhưng vì đã say mèm, bèn ngủ say như chết. Trông mơ, ăn mày thấy mình vào một ngôi nhà, vàng ngọc vung đầy, gấm hoa chất đống, bụng thấy cực kỳ ưa thích; lại thấy không người canh giữ mà nổi lòng tham, chọn những món đồ quý nhất trong đó mà mặc sức cướp bóc. Rồi tự mình tỉnh ra rằng: “Ôi! Ta chẳng khác chi phường trộm cắp. Ai mà biết được, ắt khó thoát tội, cớ sao không về!”
Vừa ra khỏi đó mới biết tường cao tầm trượng, không thể vượt qua. Trong cơn hoảng loạn, chân kẻ ăn mày chợt rời đất, chẳng ngờ mình có thể không cánh mà bay, thế nên vô cùng vui vẻ. Ngoảnh lại thấy ngôi nhà ấy đã bị bao vây, ánh lửa sáng ngời, có người cầm đuốc nghiêm trang rượt đuổi, giọng nói dữ dằn vang lên không dứt, thế nên kẻ ăn mày lại chạy vượt khỏi ngôi nhà, tuy khoảng cách lên đến trượng tầm [2] nhưng trước mắt chẳng có vật gì cản lại. Lúc về đến nhà mình, gã đã có vợ có con. Vợ con đốt đuốc ngồi chờ, không phải côi cút một mình nữa. Thấy ăn mày về, vợ ra an ủi. Thịt chả rượu nồng, ân cần khoản đãi, gã ăn mày dần say mà chìm vào giấc ngủ. Sáng hôm sau, gã mang vàng ra phố, cưỡi ngựa dắt hầu, dân chúng đều chào hỏi. Tự nhìn lại y phục mình, thấy mũ cao áo đẹp, thực là phường đại đạo, không phải trộm vặt bình thường, cân đong lợi ích mà tự đắc. Mỗi buổi chiều gã đều sẽ ra ngoài, ra ngoài ắt phải vơ vét thật nhiều mới trở lại, vậy mà không bị ai làm khó dễ gì. Khi tuổi đến lục tuần, thê thiếp đông đảo, con trai con gái đều đã thành thân, sẵn có tài sản phong phú, tận hưởng niềm vui tuổi già, gã cũng bỏ nghề trộm cướp thôi không làm nữa. Một buổi chiều nhân lúc say rượu ra ngoài. Đến một nhà kia, phòng khuê sâu thẳm, duy chỉ có hai người thiếu phụ, ba bốn thị tỳ. Gã khinh thường người ta yếu đuối, bất chợt xông vào. Một thiếu phụ vừa gối đầu ngủ, thiếu phụ còn lại đã cởi áo, thấy gã khất cái vào đều im bặt không thốt nên lời. Gã nhìn thiếu phụ vẫn còn chưa ngủ, thấy nàng da vẻ mịn màng, không khỏi động lòng háo sắc; giở chiếc chăn trên người thiếu phụ đang ngủ ra, thấy nàng mình trắng như ngọc. Bần thần lá rụng còn hoa, đong đưa trong gió. Tứ chi gã bải oải, càng thêm sôi sục không kìm chế được, trèo thẳng lên giường, toan cận kề suồng sã. Thiếu phụ cũng không dám cự tuyệt mãnh liệt. Chợt ngoái đầu lờ mờ không thấy thiếu phụ còn lại đâu, sinh lòng nghi hoặc, toan đứng dậy tìm. Lát sau nghe tiếng huyên náo bên ngoài, tiếng ồn vang dội, có lẽ là người thiếu phụ kia gọi tới, gã ỷ mình có biết cách, thản nhiên không sợ. Lúc toan giằng cửa tháo chạy, chợt thấy một vật như sương giá dội thẳng vào đầu, thuận tay bổ tới. Bên tai gã vẫn nghe tiếng người nói: “Gã trộm đã chết, ai bảo kiếm ta không đủ bén đâu!”
Ăn mày biết đã chết, hồn phách phiêu đãng, muốn quay về nhà thăm thân quyến. Nhưng gã vừa đến gần cửa đã nghe có người vỗ tay cười nói: “Chết như một tên cướp, đầu thai thành con điếm mới vừa!” Gã ăn mày chẳng hiểu vì sao, đau buồn cực độ. Lại có âm thanh huyên náo vang lên trong phòng: “Đứa bé ra rồi, con gái.” Gã bàng hoàng nhìn khắp chung quanh, đã thấy mình ở một căn phòng khác, người nói là một thiếu phụ mới vừa sinh con. Bụng biết mình đã tái sinh, không dám tự liệu, nhưng lúc còn quấn tã đã hiểu rõ chuyện nhà. Nghe nói con cả, con thứ đều bị bọn trộm vu cáo, quan lén bức ép, cả nhà trơ trọi, hai con trai đều bị tra tấn dã man chết trong tù tội. Sau đó, thiếu phụ dẫn theo con gái về nhà mẹ đẻ, chẳng bao lâu người mẹ tái giá, bỏ lại con gái lẻ loi. Gã ăn mày ở lại nhà cậu hơn mười năm. Đến lúc trưởng thành, dung mạo tươi xinh, phải tội cậu mợ hà khắc, sai bảo như nô tỳ. Một hôm, có bà lão gõ cửa vào nhà, bảo mợ: “Ông nhà nói nơi này có một cây liễu, sai đến dời đi. Có thể chỉ tôi được chứ?” Người mợ hiểu ý, gọi cháu ra gặp. Bà lão hớn hở nói: “Cậu mày nói không sai, già đây mà trồng, dư sức nửa đời sau hóng mát.” Lời đã nói xong, mợ dặn: “Không phải giống nhà tôi mà là con cháu phường trộm cướp. Bà nên cân nhắc, chớ để người đời gièm pha.” Bà lão vâng dạ đáp lời. Hai ngày sau, có kiệu hoa đến rước. Ăn mày biết sắp phải vào nhà chứa, kiên quyết không tuân, cậu mợ cầm roi rượt đuổi, đau quá đành vâng. Đến nơi phải tô son điểm phấn, tựa cửa tươi cười, không muốn bán thân mà thân bất do kỷ. Mấy tuần sau, danh tiếng lẫy lừng. Tỳ bà, tranh, sáo, vốn chẳng biết món nào mà nay mọi bề thông thạo, tự mình cũng chẳng rõ nguyên do. Mà sắc nghệ đều tinh, thế nên hàn vi chớ mong dòm ngó, chỉ có nhà giàu phú hộ mới được vịn cành ghẹo hoa. Chỉ là những ân cần dịu dàng ấy, tuy hơn phường trộm cướp đào tường nhưng đớn hèn ti tiện, còn tệ hơn cả chuột chó ăn hôi. Sáng anh Trương chiều gã Lý, sống làm vợ khắp người ta; sao trời lặn mọc mấy hồi, mà khách còn chưa say giấc. Mày than sớm vẽ, mặt như tấm lụa chợ Yên [2]; chăn gấm đêm nồng, thân như tấm bia tập bắn. Xưa kia, nghiêng túi trộm gương, chỉ tham bạc vàng trong tráp; bây giờ, giẫm xanh đạp đỏ, ai tiếc mảnh ngọc đầu giường? Tuy gã xưa kia làm trộm, cũng tự thẹn với lòng. Đến giờ đã qua được mười năm, u buồn sinh bệnh mà mất.
Lúc vừa chết, lập tức có mấy tốp đầu sừng răng nhọn không phải người chẳng phải thú bắt trói gã lại dắt đi, chẳng mấy chốc đã đến một nha phủ, bụng biết nơi này chính là Minh Ti mà người đời thường gọi. Vào gặp Minh Vương, thấy ông đen mặt mà tỏa hào quang, mắt đen sáng chói, tướng mạo oai nghiêm thần thái lẫm liệt. Dáng dấp như Bao Long Đồ [4], cổn miện trang nghiêm, khoanh tay ngồi trên ngai cao trong đại diện, có phần lơ đãng, nói ngay: “Đã biết xấu hổ, đáng tha, cứ cho làm khất cái.” Sau đó lệnh cho quan lại giải thích rõ ràng. Vị quan dẫn ăn mày đi và nói: “Ba kiếp trước ngươi cũng là ăn mày, qua lại phố thị, thấy đồ của người khác không phải không nổi lòng tham nhưng cuối cùng không thó được, thế nên ưu sầu mà chết. Vì chấp niệm ấy, sa đọa thành trộm cướp, mà vì cái nhân này, càng thêm khó cứu. Nay biết lấy lại bản tính, thực nhờ đại đức của Minh Vương, sao ngươi không cảm tạ”. Khất cái gật đầu mới đến quỳ lạy. Chợt có tiếng quỷ gào, lấy cái vồ từ sau đâm tới, gã đau đớn hét thất thanh, giật mình tỉnh giấc. Lúc tỉnh dậy đã thấu triệt mọi điều, chỉ là đầu đau như búa bổ, không thể dậy nổi.
Gã ăn mày kể lại tường tận cho đám đông nghe, không ai không sợ đổ mồ hôi thay gã. Nhân đó kể: Trong huyện có kẻ thường trộm cướp, được gọi là Phi Thủ Trương, chết đã được mấy chục năm, trộm đồ như chỗ không người, không ai cản được, sau này bị một nhà hoạn quan nào đó dùng kỹ nữ gài bẫy, chết ngay trong phòng. Lại có người tên Tô Ngũ Kim, là danh kỹ, mười năm phong nguyệt, khuynh đảo nhiều quận, là dư nghiệt của giặc cướp. So lại với lời kể của gã ăn mày, không hề sai khác, liền cùng nhau than thở không thôi. Nhân đó có người nói với gã rằng: “Hai kiếp hưởng thụ, một kiếp bần cùng, may mà có được cái danh thanh bạch, hơn xa thực tế lấm lem. Ăn mày vốn không có tội, tội cũng không phải nơi ăn mày.” Rồi cười to, dẫn thao hết mọi người đi. Ăn mày cũng thình lình hết bệnh.
Về sau có người gặp gã trên phố chợ, thấy gã rất biết kiềm chế bản thân, thế nên vô cùng cảm động. Ngẫu nhiên gặp người qua kẻ lại để tiền ở ven đường, gã chỉ gọi người đó lại. Người khác vì không biết, ngoảnh lại cười rằng: “Nếu là ăn mày, cớ gì không lấy mà còn gọi ta?” Gã im lặng, bỏ lại số tiền mà đi thẳng, người biết chuyện cho rằng gã đã đắc đạo rồi.
Không bao lâu sau, người nọ mang chiếc túi đến cửa tiệm, nói sắp phải đi xa, nói xong liền đi mất. Chưa được mấy ngày sau, chẳng ai biết gã ăn mày đã đi đâu rồi. Trần Ngưỡng Cử ở Hàm Ninh, Hứa Phụ Nhân ở Tam Nguyên, đều từng nghe nói việc này.
—
Người ngoài cuộc aka Ngoại Sử Thị viết: Cướp đã là cướp, tất không sợ làm kỹ, vì làm cướp nguy hiểm hơn làm kỹ; cướp nếu muốn làm cướp, tất không thích làm ăn mày, vì ăn mày còn lâu mới (giàu) sánh bằng được cướp. Không biết rằng, ăn mày đã không trộm cắp mà còn có hành vi trong sạch, lại càng kiêu hãnh hơn cả má đỏ khăn vàng [5]. Minh Vương thích người có đức, nên mới thưởng phạt như vậy.
Tùy Viên lão nhân viết: Mộng lồng trong mộng, báo trước tương lai, lấy hiện tại soi rọi quá khứ, gương ác treo cao, ngày sau không đi lại vết xe đổ ấy, gặp người như thế gọi họ là dị nhân, cũng không có gì xấu hổ.
A Tĩnh viết: Cái truyện trừng phạt đàn bà ghen tuông thì cụ nào cũng bảo cần lan truyền cho người người đều biết, cái truyện đề cao gần lành lánh dữ, sống nghèo khó mà trong sạch còn hơn là giàu sang mà cướp của giết người, hai cụ lại bình luận ngắn gọn vậy thôi :))). Ban đầu tôi nghĩ mãi không biết cái thưởng phạt như thế mà cụ “bên lề” khen là có ý gì. Làm kỹ nữ là phạt thì đã hiểu, nhưng làm ăn mày mà là thưởng là thưởng như nào? Ngẫm một hồi mới biết, ồ, hóa ra, ý của cụ chính là ‘được sống trong sạch’ là một phần thưởng; làm kỹ nữ có cơm ăn áo mặc nhưng vẫn là ti tiện, còn làm ăn mày dù có nghèo đói nhưng có thể thanh bần. Thì ra, được sống trong sạch trong mắt các cụ là một đặc ân, không phải một lựa chọn. Thế này khó tránh có phần quá bi quan về thế thái nhân tình.
—
[1] Thuộc tỉnh An Huy. Kinh Thủy là một nhánh của sông Dương Tử.
[2] Khoảng 8 xích đến 1 trượng.
[3] Ý chỉ kinh đô của nước Yên thời chiến quốc, từng là một thành phố phồn hoa. Là Bắc Kinh ngày nay.
[4] Tức Bao Chửng.
[5] Có lẽ khăn vàng ở đây là nhắc đến khởi nghĩa Khăn Vàng cho Trương Giác khởi xướng trong thời chiến quốc. Mặc dù thất bại nhưng cũng có thể coi là một phong trào lớn lúc bấy giờ. Bình luận về loạn khăn vàng thì thực không dám khen.
