DUY TRINH TRUYỀN KỲ – CHƯƠNG MỞ ĐẦU

By

·

24–36 phút

DUY TRINH TRUYỀN KỲ

Chương mở đầu: Ngũ Tư [1] thoát Sở

Dịch (láo): A Tĩnh

#duytrinhtruyenky #hangiangtuyet

Vào thời Xuân Thu, thiên tử yếu đuối. Chư hầu nắm quyền không chịu về chầu.

Đông đánh ít, mạnh hiếp yếu.

Trên không có vương, dưới không có bá. Dùng vũ lực tranh quyền, kẻ thắng được tôn lên.

Sở Bình Vương, năm thứ bảy.

Ngoài kinh đô Sính [2].

Trăng non vừa mọc. Ánh trăng tăm tối, bóng núi lờ mờ, khu rừng rậm trong núi càng tối đến duỗi tay không thấy được năm ngón.

“Đứng lại!” Trong rừng, một đội quân Sở mặc giáp đeo đao, giơ cao bó lửa, vừa hét vừa đuổi trong rừng.

Không xa đằng trước có một thanh niên cao to anh tuấn, mặc áo dài bằng vải thô, trông chẳng khác gì thư sinh nhưng lưng khoác cung dài, eo đeo trường kiếm. Trên chuôi kiếm có mấy viên bảo thạch thi thoảng lại sáng lóe lên, lập lòe chớp tắt.

Thư sinh bước đi nhẹ nhàng, thấy sắp bị lính Sở đuổi kịp tới nơi bèn ngoặt qua mấy khúc quanh hòa lẫn vào màn đêm.

“Thị vệ trưởng! Mất dấu hắn rồi” Lính Sở dừng chân, sốt ruột bẩm báo.

Thị vệ trưởng bước lên, giơ tay ra hiệu cho xung quanh im lặng. Gã ngồi xuống bóc một nấm đất lên, miết nơi đầu ngón tay. Rừng sâu thăm thẳm, oi ả ẩm thấp không dấu chân người, lá rơi quanh năm biến thành bùn đất, lớp bùn tơi trơn trượt ẩm ướt. Gã cầm bó đuốc tỉ mỉ quan sát mặt đất, một hàng dài dấu chân hiện lên thấy được rõ ràng.

Thị vệ trưởng nhe răng cười, chỉ vào một hàng dấu chân này ra lệnh: “Tiếp tục đuổi theo!”

Lính Sở gấp gáp truy kích, còn chưa đi được bao xa thì đã nghe thấy hai tiếng trầm đục vang lên. Lính Sở cuống quít ngoái đầu, chỉ thấy hai người ở cuối đội hình bò toài ra đất. Bó đuốc rơi xuống, ánh lửa dần liệm đi. Trong ánh lửa yếu ớt, có thể thấy trên lưng mỗi người đều bị cắm một mũi tên.

Ai nấy hốt hoảng, lại nghe thêm hai tiếng gió nữa, rồi liền thấy hai người nằm sấp xuống đất.

Trong màn đêm đen kịt, mũi tên phá gió bắn ra. Tiếng gió vù vù tựa như một khúc ca đòi mạng, lính Sở liên tiếp kêu lên rồi ngã xuống. Trong một khoảnh khắc, lính Sở còn thừa không đến một nửa.

Một đoàn người vây bắt một người, lính Sở vốn là khí thế bừng bừng nhưng lúc này đã hoàn toàn hoảng loạn. Đã có kẻ bắt đầu vung đao tán loạn trên không, có kẻ bán mạng giơ cao bó đuốc trợn toét cả mắt, hòng xem rõ rốt cuộc đối phương lẩn trốn nơi nào. Dù sao thì nơi bập bùng ánh lửa chiếu tới được cũng chỉ có một tấc vuông trước mắt, bên ngoài ánh lửa vẫn là rừng rậm âm u bao la bất tận.

Thị vệ trưởng tập trung tinh thần trong chốc lát. Phóng mắt nhìn ra xa, chỉ thấy những tên lính Sở kia chẳng khác gì cái bóng của những con thú bị nhốt trong lồng, lập lòe chao đảo, hoảng loạn mông lung. Nghĩ đến đây, thị vệ trưởng bất giác giật mình, hét lớn: “Dập lửa đi! Nhanh lên” Gã vừa nói vừa vùi bó đuốc của mình xuống bùn đất trước.

Tất cả lính Sở làm theo y lời. Tiếng xì xào của than cháy từng đợt khẽ vang, sau đó cánh rừng lập tức tối hẳn đi. Không còn tiếng tên bay nào vang lên nữa, không có ai cất lời, thậm chí chẳng có ai thở mạnh. Khu rừng chìm vào mênh mông thinh lặng, làm người ta nghẹt thở.

Thị vệ trưởng lòng như lửa đốt, tiếp tục giằng co thế này không phải cách. Gã phụng lệnh Sở vương tróc nả người này, nếu như chần chừ để người kia trốn mất, bọn họ về cung e cũng khó thoát được cái chết.

Đang nghĩ ngợi làm sao thoát được khốn cảnh, một giọng nam bất thình lình vang lên, dọa gã run lẩy bẩy. “Lính Sở nghe đây! Ngũ Xa cha ta, trên không thẹn với hoàng thiên xã tắc, dưới không thẹn với muôn dân nước Sở, nhưng lại gặp phải gian nịnh gièm pha, hàm oan vào ngục. Sở Vương vô đạo, nghe kẻ gian tà, không phân đen trắng, điên đảo thị phi, muốn đuổi tận giết tuyệt họ Ngũ. Thứ vua u mê bậc ấy, trời đất khó dung! Nay Ngũ Tư ta giữ mạng cho các ngươi, lệnh các ngươi về báo với Sở Vương, nếu muốn Sính đô không bị tiêu hủy thì hãy mau chóng thả cha anh ta ra. Bằng không, nước Sở hùng mạnh mênh mông, đều thành đất chết!”

Nước Sở hùng mạnh mênh mông, đều thành đất chết!

Nước Sở hùng mạnh mênh mông, đều thành đất chết~

Dư âm dội lại vang vọng núi rừng, liên miên không dứt. Lính Sở nghe âm thanh này tuy rằng oán hận trào dâng nhưng không có cách nào nhận ra âm thanh đó rốt cuộc là từ đâu truyền tới.

Thật lâu sau, ngọn núi đã yên tĩnh lại. Một tên lính Sở lần mò trong màn đêm bước tới, hạ giọng hỏi: “Đại nhân, bây giờ tính sao?”

Thị vệ trưởng dẫn lính Sở rời khỏi rừng rậm xong mới hừ nhẹ: “Ngũ Tư tính tình xảo quyệt ranh ma, lại thêm tối trời cây cối um tùm, có đuổi theo e rằng cũng khó đuổi kịp. Nhưng hắn đã nói vậy, ta cứ thế mà bẩm thật với đại vương. Đến lúc đó đại vương nổi trận lôi đình, nhất định giết chết cha anh Ngũ Tư rửa hận, đương nhiên không rảnh trị tội chúng ta, họa may chúng ta còn cơ may sống sót.” Nói rồi, gã nhíu mày cười nham hiểm, vết sẹo bên mặt trái ngoằn ngoèo chạy từ giữa trán tới sau tai càng thêm ghê rợn dưới màn trời mờ tối.

Bày ngày sau.

“Biết tin gì chưa? Cha con Ngũ thái phó Ngũ Xa và Ngũ đại phu Ngũ Thượng đã bị xử tử rồi!”

“Đương nhiên, không chỉ nghe nói, con trai tôi chở hàng về từ Sính đô, còn tận mắt thấy hành hình kìa! Hành hình giữa chợ Sính đô tấp nập, tình cảnh đó, đáng sợ lắm đấy!”

“Đại vương cũng tàn nhẫn quá độ.”

“Bà nhỏ tiếng giùm chút. Chẳng qua là tôi nghe nói, đại vương từng cho nhà họ Ngũ một cơ hội. Ngũ thái phó dù sao cũng là lão thần của tiên vương, dù có đắc tội với đại vương, đại vương cũng hạ lệnh nếu hai đứa con trai nhà họ Ngũ cùng tiến cung thỉnh tội, đại vương sẽ chừa cho họ một con đường sống, thả họ tự do.”

“Rồi kết quả sao?”

“Kết quả? Hừ, đứa lớn Ngũ Thượng nổi danh thành thật, đương nhiên lập tức vào cung xin tội cho cha. Nhưng đứa thứ hai là Ngũ Xa lại xảo quyệt ranh ma, thế mà chạy mất, vứt lại cha anh chẳng màng! Đại vương mới nổi trận lôi đình, giết liền một mạch Ngũ Xa với Ngũ Thượng!”

“Tạo nghiệt quá trời tạo nghiệt! Ai cũng nói hai đứa con trai của Ngũ thái phó được xưng là Sính đô song bích. Ngũ Thượng hòa nhã nhân từ, khá có danh vọng trong nước, nhưng Ngũ Xa mới càng thêm văn võ song toàn, văn có thể trị nước, võ đủ an thiên hạ. Nhưng bây giờ xem ra, nếu thật là một tên bất hiếu bất nghĩa, thì văn võ kiêm toàn còn có tác dụng gì.”

……

Mưa to như trút nước, tiếng mưa che lấp mọi âm thanh trong đất trời nhưng không che lấp được lời đồn truyền tai nhau khi đi qua xóm làng nào đó mấy hôm trước.

Một mạch trốn từ Sính đô đến biên cương hai nước Ngô – Sở, thanh niên đã sức cùng lực kiệt từ lâu. Dõi mắt trông xa, mưa to mịt mù. Trên mảnh đất hoang vu không dấu chân người, cuối cùng y chống đỡ không nổi, hai chân mềm oặt, ngã quỵ vào bùn đất bên bờ sông.

Dưới cơn mưa xối xả, đầm lầy bị nước mưa trút xuống làm nổi lên bong bóng dày đặc phủ kín bùn lầy. Bong bóng cái lớn cái nhỏ, vội vã xuất hiện lại vội vã tan ra.

Y chính là Ngũ Xa mà các thôn phụ kia nhắc đến. Một tháng trước, y vẫn là kẻ văn võ song toàn được người người tán tụng trong biên cương nước Sở. Một tháng sau, y đã trở thành thần tử đại nghịch bất đạo, kẻ bất hiếu bất nghĩa rồi.

Quả thực y văn thao võ lược, lòng mang thiên hạ chẳng phải nghi ngờ. Thế nhưng sinh vào thời loạn, chư hầu hỗn chiến, nịnh thần nắm quyền, chỉ có bụng đầy thao lược thì có thể làm gì? Lớn không đủ giúp quốc gia giàu mạnh, nhỏ không đủ để bảo vệ gia đình. Hôm nay cha anh phải chết trở thành kết cục đã định, thậm chí y cũng không biết mình mai đây lưu lạc xứ nào. Ngước mắt nhìn đầm lầy rộng lớn vô biên dưới mây dầy cuồn cuộn, nhất thời không biết trời cao đất dày này chỗ nào mới là chốn cho mình dung thân.

Nhớ khi xưa, phụ thân Ngũ Xa làm quan đến chức Thái phó, mấy tháng trước bị gian thần Phí Vô Kỵ hãm hại. Chỉ vì một câu “Giang sơn nước Sở hiểm cảnh muôn vàn, không trừ loạn tặc rước họa vào thân” [3] của Phí Vô Kỵ mà bị Sở vương ném vào đại lao.

Ngày đó Ngũ Tư và anh trai Ngũ Thượng đang nghĩ cách cứu cha mà vắt cạn cả đầu óc, không ngờ chạng vạng tối hôm đó, Sở Vương sai sứ thần đến triệu gấp hai người họ vào cung: “Chúc mừng hai vị đại nhân. Truyền lệnh đại vương, giờ đã tra xét rõ, Ngũ thái phó Ngũ xa trung thành nhân hậu, không ôm lòng phản nghịch, mà đại vương tin lời sàm tấu, bắt nhốt trung thần trong cung, quả thực trong hổ thẹn với quốc gia, ngoài xấu mặt với chư hầu. Thế nên quyết định phong Ngũ Xa làm tướng quốc, đồng thời ban cho hai người con trai của Ngũ Xa tước Hầu. Phong Ngũ Thượng làm Hồng Đô Hầu, Ngũ Tư làm Cái Hầu, đất phong hai nơi cách nhau không quá trăm dặm, từ nay về sau có thể qua lại với nhau. Nay Ngũ thái phó vô cùng nhớ mong hai vị, nên thỉnh hai vị vào cung gặp mặt, sau đó cũng có thể gặp đại vương nhận ấn tín.”

Lời sứ thần nói rất rành mạch nhưng Ngũ Tư đã nhìn thấu âm mưu này từ lâu. Nếu đúng là nhập cung ban tước, tại sao Sở Vương không thả phụ thân hồi phủ trước để tắm rửa thay đồ nghỉ ngơi cho khỏe rồi ba cha con mới cùng nhập cung. Như vậy chẳng phải càng thêm phần trang nghiêm long trọng? Chắc chắn là tên Phí Vô Kỵ gièm pha hãm hại phụ thân nhưng lại sợ anh em hai người sau này báo thù mới bố trí cái bẫy này lừa hai người nhập cung, toan một lưới bắt gọn, diệt cỏ tận gốc.

Nhưng Ngũ Thượng chỉ biết đây là cơ hội gặp được phụ thân bèn hứa ngay tắp lự. Ngũ Tư vội vàng thoái thác mình còn phải thu xếp hành trang, mời sứ thần đợi cho giây lát rồi kéo Ngũ Thượng vào phòng.

Ngũ Tư khép chặt cửa phòng, hạ giọng khuyên nhủ: “Đại ca chớ vội mà nghe em nói kĩ đây. Sáng nay em từng bói một quẻ, hôm nay ngày Giáp Tý, khi ấy giờ Tỵ, chi thượng thần và ngày tương khắc, khí không tương hợp. Việc này không ngoài vua lừa thần tử, cha dối gạt con [4]. Lời đại vương nói, tuyệt không tin được! Hôm nay hai ta tiến cung, cầm chắc cái chết mà thôi, nói gì đến phong hầu tấn tước?”

Ngũ Thượng tính tình cương trực trung hậu, nghe em ruột mình nói vậy bèn tức thì phẫn nộ: “Anh chịu vào cung, há lại vì ham mê tước vị? Cha mình bị nhốt mấy tháng có dư, sống chết chưa hay, bất luận thế nào anh cũng phải vào gặp cha một lần, lòng mới yên ổn được!”

Ngũ Tư liều mạng ngăn Ngũ Thượng lại, khuyên can: “Đại ca! Anh nghe em nói, nếu hai ta không xuất hiện, đại vương e ngại trí dũng của hai anh em mình, đương nhiên không dám giết chết phụ thân, gây thù chuốc oán bừa bãi với anh em mình. Bọn họ nhất định còn chừa chiêu khác phía sau, anh em mình cũng tìm cách hay hơn rồi hãng đi cứu viện. Nhưng nếu anh em mình vào cung thật, ba cha con chúng ta mới thật là cầm chắc cái chết!”

Ngũ Thượng đẩy Ngũ Tư ra, quả quyết nối: “Thế nhân đều biết phụ thân sinh ra hai người con trai, cùng được xưng là Sính đô song bích gì đó. Hôm nay cha mình gặp nạn nhưng chẳng có đứa con nào vào cứu, há chẳng phải khiến cha bị người trong thiên hạ chê cười? Trước nay anh không sợ sống chết, chuyến này nhất định phải đi, về phần em, em tự quyết định lấy!”

Ngũ Tư hiểu con người Ngũ Thượng, biết chuyện này đến đây, có khuyên nữa cũng hoài công.

“Phụ thân bị Phí Vô Kỵ gièm pha mắc đọa, lòng trung trọn đời có nhật nguyệt chứng minh, vậy mà lại bị vu hại thành loạn thần tặc tử. Hôm nay nếu chúng ta nhập cung, anh em mình và phụ thân đều bị xử chết, thế nhân làm sao biết được phụ thân mình một đời anh minh? Nếu cả ba cha con ta đều bị diệt khẩu, mối thù sâu nặng với án oan này biết báo thế nào? Thế nhân không biết được chân tướng, ba đời họ Ngũ trung liệt, há chẳng phải bị mối nhục này vùi lấp, tiếng tăm nhơ nhuốc đến vạn năm?” Ngũ Tư vừa nói vừa lùi lại hai bước, rầu rĩ nói, “Phụ thân sinh ra em, nuôi dưỡng em, dạy dỗ em, tấm lòng yêu thương kính trọng em dành cho cha không ít hơn đại ca là mấy. Chỉ là, ngày em trưởng thành, phụ thân từng bắt em hứa rằng, chẳng lo mỗi tấm thân mình, chỉ nguyện thiên hạ hưởng thái bình. Lời hứa này phải thực hiện trọn đời, thế nên không dám xem nhẹ chuyện sống chết. Hôm nay bất luận đại ca lựa chọn thế nào, tiểu đệ quyết ý không theo!”

Đêm đó, Ngũ Tư vội vã thu dọn hành trang, mang theo bội kiếm với cung tên, ra khỏi cửa sau đào thoát trong đêm.

Chỉ là, một lần đi này, chính là từ đó dấn thân trên con đường lưu vong biệt xứ.

Một lần đi, đã khiến mình với cha anh từ đây người trên trần thế, kẻ nơi thiên đường.


“Đằng kia! Bắt lấy cho ta! Đại vương trọng thưởng hậu đấy!”

Có tiếng hiệu lệnh truyền đến từ xa, Ngũ Tư ngoái đầu, thấy mé tây đầm lớn có một đội quân Sở chạy đến, nhân số đông hơn cả trước đây, ước chừng đến một hai trăm người. Nhìn từ xa, đầu người dày đặc ken nhau nhô ra giữa màn mưa. Nghĩ ắt số lính Sở đêm đó y thả đi trong rừng lại mang thêm người đến. Nếu Ngũ Xa và Ngũ Thượng đã bị giết chết, đương nhiên Sở vương càng không thể giữ mạng lại cho y.

Ngũ Tư dùng cả tay chân đứng dậy, nhìn khắp tứ bề, nhìn thấy phía bắc như lấp ló một đầm lau sậy trắng phau, y không dám dừng lâu, cất bước chạy về phía ấy. Muốn trốn thoát trong vùng đầm lầy rộng lớn, khó càng thêm khó, tìm một chỗ ẩn thân mới là đại sự hàng đầu.

Mưa tuôn xối xả chẳng vơi, hai chân Ngũ Tư dính đầy bùn đất, chẳng chạy được mấy bước. Bùn chưa tới gối mà nước bùn quanh chân càng lúc càng nhiều, hai chân càng chạy càng nặng trịch. Đến khi lảo đảo hai chân bước vào đầm lau sậy, trốn được vào một khóm lau sậy cao ngang người, cuối cùng y mới thở phào, luống cuống chân tay phủi đi nước bùn trên chân một chập.

Cơ mà, đối phương đông người, nếu thực sự chia nhau ra tìm, cho dù đầm lau này có lớn, thế nào cũng bị chúng tìm cho bằng được. Đến nơi này chưa được bao lâu, Ngũ Tư đã biết rõ điều đó, sau khi thở dốc mấy hồi, y hít sâu một hơi, tiếp tục chạy về phía trước. Chẳng bao lâu sau, toán người bên kia đầm lau đã kịp đuổi tới.

Vốn tường cùng đường mạt lộ thấy sinh cơ, ai ngờ trước mắt vắt ngang một con sông lớn, mặt sông mênh mông, có thể thấy bờ kia lờ mờ ẩn hiện. Mấy ngày nay mưa lớn triền miên, nước sông chảy xiết cuốn theo con sóng ầm ầm đánh cuồn cuộn vào bờ.

Ngũ Tư thẩn thờ hồi lâu mới cười khổ sở: “Trước mặt là nước xiết, sau lưng có truy binh. Tiến cũng chết, lùi cũng chết. Lẽ nào là trời muốn diệt ta?” Xưa nay y không phải người nói bừa chuyện sống chết, chỉ là tình cảnh trước mắt đây, làm sao không khiến y ai oán được?

“Chàng thanh niên, muốn qua sông à?”

Từ xa truyền đến tiếng một cụ già, giọng nói tuy khàn nhưng hơi thở tròn đầy.

Ngũ Tư duỗi tay quẹt đi nước mưa trên mặt, định thần nhìn kỹ, bên bờ sông có một chiếc thuyền con đậu lại. Một ông già đánh cá đứng trên thuyền, người khoác áo tơi, đầu đội nón lá, đang thu lưới cá một cách tề chỉnh gọn ghẽ.

Ngũ Tư vui mừng khôn xiết, rảo bước nhanh đến, chân thành cầu xin: “Cụ ơi, có thể nhờ ông cho cháu quá giang không?”

Ngư ông làm việc luôn tay không ngừng, ngước mắt đánh giá y từ đầu đến đuôi một lượt, rồi mỉm cười không nói, lắc lắc đầu.

Ngũ Tư túm lấy tay áo ông lão, hỏi: “Cụ ơi, nhà cháu trung thần gặp phải biến cố, lâm nạn đến nay, nguy trong sớm chiều, cụ có thể thấy chết mà không cứu ư?”

Ông lão đánh cá hất hất cầm, Ngũ Tư thuận theo cử chỉ của ông ngoái đầu lại trông, bấy giờ lính Sở đã tiến vào đầm lau sậy này, bắt đầu lùng sục.

Ông lão đánh cá nói: “Qua sông lúc này, há chẳng phải bị loạn tiễn bắn chết trong chút chốc ư?”

“Nhưng…”

“Cậu trốn bên kia trước, đợi tôi gọi hẵng ra.”

Ngũ Tư bụng đầy nghi hoặc, nếu ông lão này có bụng bắt mình, hoặc nửa chừng hối hận, y há chẳng phải thành cá nằm trên lưới của ông ta, chẳng còn chỗ đâu mà trốn ư? Nhưng trước mắt quả thật không còn con đường nào khác, giữa lằn ranh sống chết, vật lộn một phen có xá gì?

Ngũ Tư ẩn mình trong một khóm lau sậy rậm rạp mé đông. Chẳng bao lâu sau có một toán lính tìm tới, vung thanh đao dài, to tiếng hỏi ngư ông: “Ê! Ông đánh cá, có trông thấy một người trẻ tuổi đi qua đây không?”

Qua khe hở của đám lau sậy, Ngũ Tư nhìn chằm chằm hai người ấy, thấy ông lão đánh cá cúi đầu trầm tư, nhưng không đáp lời. Ngũ Tư âm thầm chuẩn bị cho tình huống xấu nhất, nếu thật sự bị ông lão này bán đứng, vậy cứ dứt khoát giết tướng chạy ra. Cho dù chỉ có mình y, nhưng chỉ cần trong tay còn có thanh bảo kiếm này, vậy cũng đủ để liều mạng người sống ta chết với đám lính Sở kia. Nếu như mệnh mình đáng thế, vậy cũng không oán trách ai được, dẫu sao cũng chỉ là giết một người chẳng thiệt, giết hai người càng lợi hơn thôi.

Chỉ thấy ngư ông trầm ngâm một hồi mới nói: “Vừa rồi đích thực có một chàng thanh niên chạy qua, bảo tôi đưa y qua sông.”

Ngũ Tư nắm chặt chuôi kiếm, gom sức chờ vung.

Lính Sở truy hỏi: “Sau đó thì sao?”

Ngư ông mất kiên nhẫn xua tay: “Còn sao được nữa? Mưa như trút nước, gió giật sóng dồn, thuyền này đương nhiên chứa không nổi rồi.”

“Người đó chạy đâu rồi?”

Ngư ông tiện tay chỉ về hướng tây: “Chạy về hướng đó, cách đây mấy dặm có một biến đò. Đương nhiên có thể tìm đò qua sông ở đó.”

Ngũ Tư thở phào nhẹ nhõm, buông lỏng chuôi kiếm trong tay.

Lính Sở nghe thấy đằng trước còn có bến đò, sợ Ngũ Tư có thể qua sông từ đó, vội vàng kêu thủ hạ chạy về hướng tây. Rất nhanh, tiếng người huyên náo đã chìm trong trận mưa xối xả, không còn nghe thấy nữa.

Ngư ông thu gọn lưới rồi đặt lên thuyền, khẽ khàng hát lên một bài dân ca nước Sở: “Rực rỡ nắng vàng, ơn đức lan tràn, người trong bụi lau, qua sông thôi nào.”

Ngũ Tư nghe tiếng đứng dậy, ngư ông đã đẩy thuyền vào nước. Ngũ Tư không dám chậm trễ, sải bước nhảy lên thuyền. Ông lão đánh cá tuổi đời không nhỏ nhưng động tác lại lưu loát vững vàng, một tay ông vận lực vào gậy trúc, chiếc thuyền con mau chóng trôi xa bờ.

Lúc này gió to sóng lớn, một chiếc thuyền con đơn bạc lắc lư từng nhịp từng nhịp trong lòng sông. Hai tay Ngũ Tư giữ chặt mạn thuyền, đến khi ngoái đầu nhìn lại mới thấy thuyền con đã đến giữa lòng sông.

Bấy giờ Ngũ Tư mới thấy an tâm, đang muốn nói lời cảm ơn ông lão, nhưng bên bờ lại truyền đến tiếng kêu la chém giết của lính Sở – nghĩ ắt bọn chúng đuổi tới đằng tây mà chẳng tìm thấy cái gọi là bến đò nào mà quay trở lại đây.

Ngũ Tư vội nói: “Cụ ơi! bọn chúng lại đuổi tới rồi!”

Ông lão trầm tĩnh lắc mái chèo, không vội vã cũng chẳng rối loạn: “Đừng lo, bọn chúng đông nhưng không có thuyền. Với thế nước hôm nay, cho dù bọn chúng có thạo nước hơn cũng không dám bơi theo đâu. Ngược lại là hai người chúng ta, nếu như tâm thần hoảng loạn làm lật cả thuyền, thế thì đúng là vong mạng thật.”

Ngũ Tư nghe ông nói thế, tâm tình dần thả lỏng ra, hơi ngẩng đầu lên tỉ mỉ đánh giá ông cụ này. Người ông gầy gò thấp bé, tóc mai điểm bạc, ánh mắt sáng rực, thần thái xen lẫn sự tinh minh bình thản thấu suốt chuyện đời. Hồi tưởng lại một màn tao ngộ, vốn tưởng rằng đã đến đường cùng nhưng hôm nay gặp được ngư ông này, phải chăng cho thấy Ngũ Tư y tuyệt xứ phùng sinh, định sẵn mệnh y chưa đáng chết?

Nghĩ thế, Ngũ Tư chỉ cảm thấy toàn bộ thù oán phẫn nộ nhất tề dâng lên, khí tụ đan điền, hét lớn về phía lính Sở bên bờ đối diện: “Bị giết theo cha, sao tỏ với đời! Thù oan không báo, thẹn với đất trời! Đợi ta quay về, tơi bời miếu Sở!”

Ngư ông khua động mái chèo vẻ như không nhanh không chậm, nhưng chiếc thuyền con cấp tốc chạy đi theo dòng nước xiết, chẳng bao lâu sau đã đến bờ bên kia. Lờ mờ trông thấy lính Sở bên bờ đối diện vung tên, ngẫu nhiên bắn ra mấy mũi tên vun vút, nhưng thảy đều rơi xuống lòng sông cuồn cuộn nước cả.

Ngũ Tư bụng biết chuyến này an toàn bèn khom mình hành lễ lớn với ngư ông, chân thành nói: “Ơn cứu mạng cả đời chẳng quên, dám hỏi danh tính cụ ông, ngày sau nhất định quay về báo đáp thâm ơn hậu đức.”

Ngư ông cười lắc đầu: “Thả quốc tặc của nước Sở đi chính là lão phu đây. Dám diệt Sở báo thù cho thân phụ, chính là đại nhân ông. Trong mắt thế nhân, hai ta đều là kẻ bất nhân bất nghĩa, hà tất phải hỏi danh tính nhau làm gì?”

Ngũ Tư lấy làm kinh ngạc. Hóa ra ông lão đánh cá đã nhìn thấu thân phận mình từ sớm nhưng ông chẳng những chẳng vạch trần mà còn tận lực giúp đỡ. Ngũ Tư cảm thấy ấm áp, tháo bội kiếm ở thắt lưng ra, hết mực cung kính nâng lên trước ngực, nói: “Cụ đây nếu có tuệ nhãn nhìn thấu thân phận tại hạ, hẳn biết tại hạ là phường lưu vong, bây giờ trên người chẳng mang vật gì thừa, không thể báo đáp, duy chỉ có thanh bảo kiếm này xin dâng tặng cụ. Kiếm này tên là Thất Tinh Long Uyên, tuy chẳng thể xem như thần binh tuyệt thế gì nhưng ít nhất cũng đáng giá trăm lượng hoàng kim, xin cụ hãy thu nhận lấy.”

Ngư ông đẩy hai tay y về, cười ha ha nói: “Đại nhân chắc biết, Sở vương có lệnh ‘Người nào bắt được Ngũ Tư, thưởng nam vạn thạch kê, phong hàm chấp khuê [5]’. Nếu lão phu thực sự vì tiền, có thể bắt ông đi báo quan, vinh hóa phú quý ắt hưởng không hết được. Lão phu chẳng màng những thứ cao quang hậu lộc, há lại có thể nhận thanh Thất Tinh Long Uyên này của ông? Đại nhân nếu thật sự có lòng báo đáp, chi bằng hứa với lão phu chuyện này, được chứ?”

Ngũ Tư vội vàng cung kính rướn người: “Xin cụ cứ nói.”

“Cả đời này của lão phu, bình thường thô thiển, chưa làm nên đại sự gì, xưa nay chỉ làm chuyện mình cho là đúng đắn. Đương kim Sở vương vô đạo ngu si, nịnh thần chấp chính, dân chúng lầm than, cha mẹ vợ và con gái lão phu đều chết trong loạn thế, lão phu không có khả năng xoay chuyển thế cục đã đành. Người đời nói đại nhân văn võ song toàn, vậy lão phu bèn xin đại nhân hứa cho, nếu có ngày nào đại nhân về Sở báo thù cho cha anh, chớ quên diệt trừ gian nịnh, cứu vớt vạn dân khỏi cảnh dầu sôi.”

Một tràng thoại của ngư ông, khiến Ngũ Tư rưng rưng nước mắt. Tương lai tựa bèo trôi, mạng mình như cỏ rác, còn nói chi đến đắc chí phục thù? Nhưng ông cụ lại tin tưởng có ngày y báo được đại thù, hơn nữa còn phó thác vạn dân vào tay y, làm sao không khiến người ta trào dâng nước mắt?

Ngũ Tư lạy thêm một cái, kiên định trả lời: “Lão nhân gia yên tâm, tại hạ bỏ mặc cha anh, sống tạm qua ngày, không ngoài lý do từng hứa với gia phụ sẽ làm một vị quan tốt, phò tá minh quân, tạo phúc cho vạn dân. Hôm nay ở thế lưu vong, không dám khoe khoang lập chí, nhưng nếu thực sự nhờ lời chúc của cụ mà giữ được mạng này, nhất định sẽ tìm ra minh chủ, phò thiện trừ ác, giúp bách tính một phương được thái bình an lạc!”

“Được, được!” Ngư ông liên tục cười khen, tháo chiếc mũ xuống, đưa y đội lên, nói, “Một lời hứa này của đại nhân, so với thanh kiếm trị giá trăm vàng, phong thưởng giá trị ngàn vàng gì đó càng quý giá hơn rất nhiều. Chi bằng lão phu hứa với đại nhân một lời rằng đại nhân chuyến này an tâm, tuyệt không có ai tiết lộ hành tung của đại nhân đâu.”

Ngũ Tư không biết ông có ý gì, ngư ông ngoái đầu nhìn bờ sông đối diện, tiu nghỉu nói: “Nhà lão phu ở bờ kia, chuyến này, đã thành có nhà khó về, chỉ nguyện đại nhân có thể thực hiện chí nguyện lớn lao trong lòng, không quên ước định ngày này của hai ta.” Ông lão nói xong thì lùi lại mấy bước, tung mình vọt lên, nhảy xuống lòng sông.

Cú nhảy này không thể xem thường, Ngũ Tư lập tức bước lên tóm lấy ông nhưng không kịp nữa. Trong màn mưa, một vòng hoa sóng lớn bắn tung tóe trên mặt sông rồi tức thì bị nước sông dập dềnh vùi chôn mất dấu, không còn thấy đâu. Y không sao ngờ được rằng, ông lão vì muốn giữ bí mật hành tung của mình mà lại chọn nhảy sông tự tận.

“Cha! ~”

Bên bờ có một thiếu niên chạy đến, mình mặc áo vải thô, đi chân trần, đạp lên sóng nước chạy đến bờ sông, trông thấy nước sông cuồn cuộn, kêu khóc liên hồi: “Cha! Cha ơi cha!”

Ngũ Tư đỡ lấy vai thiếu niên, hỏi: “Cậu con trai của ông lão à?”

Thiếu niên khóc lóc không ngừng, gật đầu: “Sớm nay em đến bờ đông bán cá, cha bảo em đợi ông ở đây, cha sẽ đón em về nhà!”

Ngũ Tư thương xót vạn phần: “Cậu bé à, cha cậu vì cứu tôi mà chết, ân tình này không có cách gì để báo. Hiềm nỗi bây giờ thân mình khó giữ, không sao mang cậu cùng đi. Thanh kiếm này cậu hãy cầm lấy, nếu cậu không thể sống tiếp thì cứ bán nó đi, có thể đổi được trăm vàng, giúp cậu nửa đời không lo cơm áo. Nếu cậu có thể sống tiếp mà tôi lại có thể gặp được minh chủ, cậu cứ đem kiếm này đến tìm tôi, tôi nhất định giúp cậu vinh hoa cả đời. Cậu nghe kỹ, càng phải nhớ kỹ, tôi tên Ngũ Tư.”

Ngũ Tư đưa Thất Tinh Long Uyên đến trước mặt thiếu niên, thiếu niên thút thít cúi đầu quan sát thanh bảo kiếm này, nó không biết quý giá hay không quý giá gì, chỉ là một chuỗi đá quý khảm trên chuôi kiếm vẫn tỏa sáng bốn bề trong màn mưa nặng hạt.

Thiếu niên duỗi ngón tay ra, đờ đẫn sờ lên một viên đá quý màu lam trong số đó, sau đó bèn đẩy thanh kiếm về: “Vừa rồi em thấy anh muốn đưa thanh kiếm này cho cha mà cha em từ chối không nhận. Vật cha em không muốn nhận, em cũng không cần.”

“Cậu bé.” Ngũ Tư đang muốn khuyên thêm, nhưng nhác thấy bên bờ bên kia, toán lính sở không biết từ đâu tìm được mấy chiếc thuyền nhỏ, đưa xuống nước qua sông. Ngũ Tư không kịp nói thêm, tay trái cầm lấy bảo kiếm, tay phải kéo theo thiêu niên, chạy trên đất liền.

Chúng nhân trên sông trông thấy Ngũ Tư ở bờ kia lại mất tăm mất tích, tay lính Sở đi đầu hét to: “Chèo mạnh tay lên cho ta! Có thấy thanh kiếm hắn đưa thằng nhóc đó không? Thất Tinh Long Uyên đó! Đuổi theo mau, người và kiếm, ta đều phải có!” Vừa nói vừa nhấc tay lau nước mưa trên mặt, nước mưa lập tức men theo vết sẹo ngoằn ngoèo trên má trái mà trôi…

[1] Tức Ngũ Tử Tư,

[2] Sính là kinh đô nước Sở thời Xuân Thu.

[3] Chuyện này có ghi chép lại, nên chú.

[4] Nguyên đoạn về quẻ bói này và ý nghĩa của nó gần như tham khảo nguyên xi nội dung quyển Đông Chu Liệt Quốc Chí của Phùng Mộng Long thời Minh mạt. Tôi chưa đối chiếu chính sử để xem có ghi chép về quẻ này hay Ngũ Tử Tư có nói vậy không để biết là tác giả chép lại sử hay chép lại nguyên văn sách cổ, tạm chú đó.

Về quẻ bói của Ngũ Tư: T có lên một bài khác giải thích ở đây

[5] Chấp khuê: Khuê là một thanh bằng ngọc mà các quan lại thời đó hay dùng khi đi chầu vua, bước lên tâu cái gì thì nâng thanh đó lên. Ở nước Sở và Tần, phải có địa vị nhất định mới cầm khuê vào chầu, nên ở đây nghĩa đại khái là phong quan tấn tước, hơn nữa chức vị cũng hơi cao.

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x