DUY TRINH TRUYỀN KỲ
Chương 2: Lang bạt tha hương
Dịch (láo): A Tĩnh
#duytrinhtruyenky #hangiangtuyet
—
Khu chợ nhỏ ở biên cương nước Sở tấp nập người qua kẻ lại. Mặc dù chẳng ai biết tháng nào ngày nào quân đội nào sẽ đánh sang đây, nhưng bách tính tầm thường vẫn tới lui mua bán, trao đổi vật dụng ăn mặc như thường lệ. Dẫu sao, chỉ cần ngày nào không bị chiến tranh cướp đi tính mạng thì ngày đó vẫn phải tiếp tục sống.
“Tiểu huynh đệ, cá này bán sao?” Một người phụ nữ dừng chân trước một hàng cá, cúi đầu hỏi.
Kinh Nam tiện tay lựa ra con cá lớn nhất, nói: “Bán cho bà hai tiền một con.”
Người phụ nữ bất mãn bĩu môi: “Hai tiền một con, hơi bị đắt đó.”
Kinh Nam nghĩ ngợi, lại chọn thêm con nhỏ hơn, đưa hết qua: “Cho bà thêm con này nữa.”
Người phụ nữ đảo mắt quét qua những con cá khác trên quầy hàng, tiện tay chỉ: “Thêm con này cũng không khác mấy.”
Kinh Nam khẽ thở dài, bắt lấy con cá được người phụ nữ chọn, dùng thừng cỏ buộc chung với con cá lớn, đưa qua.
Người phụ nữ đưa tiền rồi xách cá hớn hở đi xa. Một ông chú bán cải kế bên lúc này mới thò người qua, nhỏ nhẹ khuyên nhủ: “A Nam, buôn bán thế này không được đâu. Bà ta tới mua cá hồi nào, rõ ràng là đang kiếm hời mà. Con cá cậu cho bà ta lớn gần bằng con cá cậu chọn cho bả lúc đầu ấy.”
Kinh Nam bình tĩnh trả lời: “Thôi kệ. Cháu chỉ muốn bán nhanh cho xong còn về.”
Ông chú truy hỏi: “Gấp gáp vậy, thôn của các cậu…”
Kinh Nam cúi đầu thu dọn cá trên sạp hàng, không đáp nữa. Ông chú nhún vai, cũng không nói thêm gì.
Phải rồi, đã không còn thôn nữa.
Nhưng nơi đó vẫn còn có người nó phải đợi.
Mặt trời sắp nhanh đứng bóng, cá trên quầy hàng chỉ còn thừa vài con nhỏ, Kinh Nam đăm chiêu nghĩ ngợi nếu lát nữa có người quen đến mua cá, nó cứ tặng hết mấy con này cho người đó là xong, cũng đỡ công nó phải mang về. Đang loay hoay với mấy con cá nhỏ nửa sống nửa chết này, chợt nó nghe thấy tiếng nén giọng ồn ào nghị luận của mấy cô gái xung quanh: “Mau xem đi, người này là đại nhân nhà nào mà trông tuấn tú thế! Sao trước đây mình chưa từng thấy qua?”
“Đúng rồi! Nhác trông đã thấy toàn thân quý phái, cũng không giống người sơn dã chúng ta.”
“Còn phải nói? Cái khác bỏ đi, chỉ nhìn miếng ngọc bội bên eo thôi đủ biết, miếng ngọc đó óng ánh trong suốt, há người nhà tầm thường nào lại có được ư?”
“Ngọc thì đẹp chỗ nào? Theo tôi thấy, người này đẹp còn hơn cả ngọc!”
“Cô đúng là không biết mắc cỡ!”
Tiếng bàn tán huyên huyên náo náo của các cô gái rất nhanh đã lan rộng khắp, người trong chợ cũng nháo nhào nhìn hết qua phía bên kia.
Đương nhiên Kinh Nam cũng nghe thấy những lời bàn tán đó, nhưng cả đầu nó cũng lười ngẩng lên. Xưa nay nó không phải phường nhiều chuyện, càng huống chi trong thời loạn thế, cuộc sống vốn đã bấp bênh mà còn có người đeo trang sức quý báu huênh hoang đi giữa chợ, tuy không dám nói chắc là phường ăn trên đầu bách tính nhưng ít nhất cũng là tử đệ nhà quan. Nghĩ đến đây, trong biển ký ức của Kinh Nam lại quét qua một hình bóng. Khoảnh khắc đầu tiên, là một người mặc áo gấm lộng lẫy, khoảnh khắc tiếp theo, chính là người đó toàn thân đẫm máu, chết sống soài ở cửa thôn. Kinh Nam khẽ hừ lạnh, dẫu sao cũng không đến nỗi một con sói đất vừa chết thì lại có thêm con mới ngay được chứ.
“Ai da, thật lòng xin lỗi tiểu huynh đệ nhé!”
Mấy con cá Kinh Nam mới vừa gom lại xong bị ai đó đá bay mất hai con. Cá rời nước đã lâu, sớm chỉ còn thoi thóp, bị đá một cú này làm trượt bay lê lết xa mấy bước chân, đến khi ngừng hẳn, cá đã không còn há mỏ mà triệt để tắt thở luôn rồi.
Bấy giờ Kinh Nam mới ngước mắt, chỉ thấy một người chạy bước nhỏ đuổi theo sau hai con cá đó, khom người xuống nhặt. Người này lạ mặt, trước nay chưa từng gặp qua, xem tuổi tác, hẳn chỉ lớn hơn Kinh Bắc vài tuổi.
Người này nhặt cá lên toan muốn trả về, nhưng trái phải hai tay cầm hai con cá, mặt lộ vẻ quẫn bách. Hiển nhiên là, tuy rằng y không biết hai con cá kia trước đó như nào, nhưng bây giờ, đích thực là đã chết ngắt rồi.
Kinh Nam bước lên, trực tiếp cầm lấy hai con cá chết đó, thản nhiên nói ‘không sao’, rồi tiện tay vứt ở góc tường.
Người đó còn mấy câu xin lỗi chưa kịp nói xong mà cứ thế bị thái độ hời hợt bất cần của Kinh Nam làm cho nghẹn lại. Hai khóe môi người đó co giật, nhưng một câu cũng không thốt thành lời. Nhìn dáng vẻ y, thực ra cũng không khác mấy với hai con cá nửa sống nửa chết còn thừa trên sạp hàng đó.
“Tiểu huynh đệ, hai con cá kia chết, ta mua nhé.” Có người đi ra khỏi đám đông, nói giọng dịu dàng, giọng điệu thân thiết. Kinh Nam nghe tiếng nhìn qua, thấy người này cũng rất trẻ, mình mặc y phục màu xanh xám, vốn chẳng có gì đáng ngạc nhiên, nhưng bên eo người này có treo một miếng ngọc, không phải ngọc bội cũng không phải ngọc bích, trông có vẻ như nửa miếng là ngọc bích. Kinh Nam trước nay chưa từng thấy qua, nhưng chất ngọc đích thực trơn bóng như nước, óng ánh hào quang.
Người mà mấy cô gái kia bàn tán vừa rồi, chính là y? Kinh Nam bất giác lưu tâm thêm mấy phần, thế nên mới dời mắt về phía người đó, nhìn kĩ một phen – Dáng vẻ tuấn tú, khóe mắt thấp thoáng ý cười, tràn đầy khí độ. Kinh Nam thoáng nghĩ, chẳng qua đẹp hơn những người mình gặp thường ngày có chút thôi, nào có phải chấn động quỷ thần như mấy cô gái kia nói chứ?
“Đại nhân.” Người đá trúng sạp cá thấy y bước qua thì nghiêng mình sang bên nhường chỗ.
Là quan thật à? Kinh Nam ngẩng đầu, không kiêu căng không nịnh hót, chỉ vào hai con cá sống trên sạp hàng, nói: “Bán cho ông hai con cá này, ông đến muộn quá, không còn tươi lắm, hai con đó, tổng cộng một tiền.”
Người đó không nhanh không chậm, đưa ngón trở chỉ vào hai con cá chết sau lưng: “Ta muốn mua hai con này.”
“Hai con đó? Không bán.”
“Tại sao?” Vị đại nhân kia không những không nổi giận mà càng thêm hứng thú, “Có tiền không kiếm, không phải đạo làm ăn.”
“Đạo làm ăn thì tôi không biết. Nhưng cha tôi từng nói, không bán cá chết.”
Người đá phải cá vội vàng bước lên giải thích: “Đại nhân nhà ta chỉ tốt bụng muốn bồi thường, cá đó là bị ta đá nên mới…”
Kinh Nam vẫn điềm nhiên như cũ: “Tôi không có cách chứng minh cho các ông thấy hai con cá kia trước đó còn sống hay đã chết, thế nên nếu đại nhân muốn đền thì không hề cần thiết.”
“Thằng bé này…” Người đó gãi đầu, không biết làm sao.
Vị đại nhân kia lại cười càng rõ nét hơn: “Được, cứ theo lời cậu nói, mua hai con cá sống này của cậu. Khổng Gia, đưa tiền đi.”
Kinh Nam buộc cá lại đàng hoàng rồi đưa cho vị được gọi là Khổng Gia ấy, nhận tiền, rồi bắt đầu cúi đầu dọn dẹp quầy hàng. Lúc vô ý ngẩng đầu lại trông thấy trước khi vị đại nhân kia xoay người, ánh mắt y dừng trên người nó, thoáng chốc ánh mắt hai người chạm nhau.
Quầy hàng của Kinh Nam còn chưa kịp dọn xong, đầu kia khu chợ đã có sáu bảy thiếu niên chạy tới, người nào người nấy đều mặc áo rách, đầu bù tóc rối, vừa chạy vừa cười, thở hổn ha hổn hển. Mấy đứa chạy hàng đầu còn chưa kịp rẽ thì trước sau đụng phải hai chủ tớ vừa rồi.
Khổng Gia vội đẩy bọn chúng ra, bảo vệ đại nhân nhà mình phía sau. Mấy đứa bé bị người ta đẩy thì tràn đầy bất mãn, đang muốn kiếm chuyện nhưng vừa ngẩng đầu liền thấy vị đại nhân kia trấn định tự nhiên, không giận mà uy; nhất thời, mấy đứa bẻ chẳng ai dám lên tiếng nữa.
Những tên ăn mày này nhất định lại vừa họp nhau làm chuyện xấu. Kinh Nam nhận ra bọn chúng, nhưng không có hứng hùa xem náo nhiệt, dọn hàng xong bèn muốn về nhà.
“Đừng chạy!” Một ông lão hét lên, đuổi theo đến đây cũng từ hướng vừa rồi. Tóc ông bạc trắng, người đeo cái tạp dề bằng vải thô, trên tạp dề lấp loáng mấy vết bẩn đen đúa.
Mấy tên ăn mày đều đồng loạt nhìn một đứa cao lớn trong số đó, hiển nhiên đứa đó mới là thủ lĩnh. Đứa cao lớn chần chờ quan sát, thấy có chạy nữa cũng không thú vị bèn ưỡn ngực thẳng lưng nói: “Ông già! Ông đuổi theo làm gì? Bọn tôi làm gì mà phải chạy?”
Ông lão đuổi theo đến trước mặt rồi dừng chân, thở hổn hển, mất rất nhiều hơi sức mới thở được cho đều: “Mấy tên khốn khiếp bọn bây, hở một chút là tới quầy của ông trộm bánh ăn, bánh thô thì cũng thôi, cả hai cái bánh trứng ông làm cho cháu ông ăn cũng bị chúng bây trộm mất!”
Người chung quanh càng lúc kéo đến càng đông, vây kín bọn chúng khiến chúng chạy cũng không có đường chạy. Nhưng đám người không chỉ vây quanh bọn chúng mà ngay cả Kinh Nam cũng bị nhốt bên trong. Sau một phen thử trái thử phải, nó biết là không thể đi được.
Đám ăn mày hai mắt lờ đờ, đồng loạt nhìn đứa cao to. Đứa cao to trợn mắt bĩu môi, quét mắt một vòng, trông thấy một thiếu niên muốn chen khỏi đám người bỏ đi. Thiếu niên đó cũng giống bọn chúng, mặc đồ rách rưới nát bươm, tuổi tác cũng xấp xỉ bọn chúng. Đứa con to đảo mắt một vòng, chuyện đến nước này, chi bằng vu khống cho thằng nhóc ấy. Nếu thằng nhóc này nói năng vụng về thì cho nó gánh thay cái tội danh trộm đồ. Còn nếu nó mồm mép, ắt cũng phải tranh luận một phen, đến lúc đó bọn chúng nhân lúc hỗn loạn mà thoát. Thế là, đứa cao to tiện tay chỉ, nói: “Bánh không phải bọn tôi trộm, mà là nó!”
Đứa cao to vừa chỉ, ánh mắt cả đám người đều đổ dồn lên mình Kinh Nam. Kinh Nam vác lưới cá trên lưng, ngoái đầu, đối mặt với lời vu khống từ trên trời rơi xuống, trong mắt không gợn chút ba đào, bình tĩnh trả lời: “Ta bán cá, không trộm đồ.”
Đứa cao to bước qua, vỗ lên vai nó: “Vừa rồi rõ ràng mày ở cùng bọn tao, lúc đi qua quầy hàng của ông lão đây thì trộm hai cái bánh, bây giờ thấy ông lão đuổi theo tới thì muốn nhân lúc hỗn loạn mà trốn. Nếu mày không trộm đồ, sao phải gấp đi thế làm gì?”
Kinh Nam phủi tay nó ra, phản vấn: “Tại sao ta muốn đi, sao phải nói cho ngươi biết?”
“Ngươi!” Đứa con to phẫn nộ nói, “Hay cho thằng nhãi này, dám làm không dám nhận!”
Đứa cao to nói chắc như đinh đóng cột, người vây quanh cũng càng lúc càng đông. Ông lão bán bánh ngờ vực quan sát Kinh Nam, lẩm bẩm: “Mấy thằng nhóc này thường đến quấy phá, nhưng lão thực sự không nhớ có đứa nào trông như cậu. Có thật là cậu trộm bánh của lão không?”
“Nói bậy, đứa trẻ này thường đến đây bán cá, sao có thể trộm đồ được?” Trong đám người đương nhiên có người nhận ra Kinh Nam, không biết là ai, hạ giọng nói một câu công đạo.
Khổng Gia bước lên một bước, toan giải thích vừa rồi bọn họ vẫn đang ở chỗ này, đứa bé bán cá này cũng chưa từng rời khỏi đây. Nhưng còn chưa lên tiếng, đại nhân nhà y đã giơ tay cản y lại, chỉ mỉm cười khe khẽ lắc đầu.
Kinh Nam hết sức bất đắc dĩ bước đến trước mặt ông lão, ngay thẳng chính trực trả lời: “Thưa ông, con là người bán cá, chỉ kiếm sống dựa vào chính đôi tay mình, con không giống chúng, xưa nay con không trộm thứ gì, càng chưa từng trộm bánh của ông.”
“Ngươi!” Đứa cao to giành bước lên nhìn chằm chằm Kinh Nam. Nó nói như vậy rõ ràng là có ý nói cả đám bọn nó đều là trộm. Ánh mắt chăm chú của đứa cao to kia chỉ đổi lại được cái nhìn hờ hững của Kinh Nam, ngay cả nhìn Kinh Nam cũng không thèm nhìn nó. Đứa cao to thẹn quá hóa giận, miễn cưỡng cười nói: “Hay lắm, nếu ngươi đã nói mình không trộm bánh, vậy ngươi lấy gì chứng minh là mình không trộm?”
Đám người vây quanh xì xầm bàn tán, nháo nhào gật đầu nói phải. “Nếu nói không trộm, vậy phải chứng minh mới đúng.” Tình thế lập tức nghiêng về phía của thằng nhóc dáng cao.
Khổng Gia nhìn trái ngó phải, lòng như lửa đốt. Một đứa bé thiện lương thế này, ngay cả tiền đền cá còn không muốn lấy, thoắt cái đã bị đám này vu oan, phải làm sao mới đúng? Nhưng ngoái đầu nhìn đại nhân nhà mình, thấy đại nhân vẫn mỉm cười nhìn thiếu niên bán cá, không chút sốt ruột.
Tiếp đó, một câu nói của Kinh Nam lập tức khiến những kẻ ồn ào vây quanh phải yên tĩnh lại.
Kinh Nam nghiêng đầu, đăm đăm nhìn gã cao to, lạnh lạnh lùng lùng hỏi: “Cớ gì ta phải chứng minh?”
Nhóc dáng cao nhất thời chưa kịp phản ứng, ấp úng nói: “Cái gì?”
Kinh Nam lại nói: “Là ngươi nói trước, nói ta trộm đồ, nếu phải chứng minh thì cũng phải là ngươi chứng minh ta trộm. Ta vốn vô tội, cớ gì ta phải chứng minh mình không trộm?”
Đứa cao to bị hỏi cho á khẩu cạn lời, người vây quanh hóng chuyện cũng thốt không thành tiếng.
Khổng Gia đang thầm tán thán đứa bé này thông minh can đảm thì cảm thấy ai đó chạm vào cánh tay mình. Nhìn theo ánh mắt của đại nhân nhà mình, y thấy đứa cao to kia rón ra rón rén lôi một đứa nhỏ con hơn phía sau ra, trong tay đứa nhỏ hơn đang cầm nửa cái bánh, toan lén lút nhét vào lưới cá của thiếu niên bán cá.
Khổng Gia bước lên hai bước, chộp lấy cổ tay của đứa bé kia, giơ lên thật cao, sang sảng nói: “Ha, đứa trộm bánh hóa ra thực sự là một đứa trong số các ngươi mà!”
Đám người xôn xao hẳn lên, đứa cao to xoay mình muốn chạy nhưng bị ai đó lật tay túm lấy cổ áo. Ngoái đầu xem, vị đại nhân kia vẫn đang mỉm cười nhìn nó nhưng lực tay chẳng có chút dịu dàng nào giống như nụ cười trên mặt. Mấy đứa trẻ khác thấy chuyện không hay bèn lập tức chen khỏi đám người lỉnh mất. Khổng Gia không kịp lên tiếng khống chế, đứa cao to đã quẫy tay đạp chân chửi cho đám kia một trận.
Một tay vị đại nhân kia bóp chặt vai thằng bé, nửa người nó tức thì tê liệt, luyên thuyên xin tha thứ: “Ai da da, đại nhân tha mạng, xin đại nhân tha mạng!”
“Còn không xin lỗi?”
Đứa cao to vội vàng chấp tay hành lễ với ông lão bán bánh: “Ông lão, á nhầm, lão gia gia, mong ông thương tình, là chúng tôi sai, bọn tôi không dám thế nữa.”
Cuối cùng ông lão cũng mềm lòng, nghĩ đến thời đại loạn lạc này ai cũng không dễ sống, bất đắc dĩ xua tay: “Sau này nếu các ngươi còn dám tới, ta sẽ mời vị đại nhân này bắt các ngươi đi gặp quan!”
Đứa cao to liên tục đáp: “Không dám nữa, không dám nữa, tuyệt đối không dám nữa!” Nó xin lỗi rồi, ông lão cũng tha thứ cho nó rồi, nó tưởng chuyện này đến đây là hết, mặt đầy vẻ xin tha nhìn người phía sau lưng, không ngờ rằng lực tay của đối phương không hề nhẹ bớt, ngược lại còn siết mạnh thêm mấy phần, đau đến mức nó muốn kêu rên thảm thiết.
“Còn nữa mà?”
Đứa cao to không hiểu: “Còn gì nữa?”
Khổng Gia chỉ vào Kinh Nam vẫn đang đứng một bên: “Ngươi vu khống thằng bé, lẽ nào không cần xin lỗi cậu ấy à?”
Đứa cao to đau đến ứa nước mắt, nào lo được tới cần hay không cần, vội nói: “Vị tiểu huynh đệ này, là tôi không đúng, là tôi không tốt, xin cậu tha thứ cho tôi nhé!”
Khổng Gia xách đứa nhỏ trong tay lên, quát: “Thêm ngươi nữa! Còn muốn vu oan giá họa, ngươi cũng quá xấu!”
Đứa nhỏ không bằng được đứa lớn, bị y dọa như thế thì lập tức khóc òa lên, thút tha thút thít nói xin lỗi theo đứa lớn.
Kinh Nam thản nhiên quét mắt nhìn hai người họ: “Cảm ơn hai vị đại nhân ra tay cứu giúp, nếu không còn chuyện khác, tôi phải về nhà đây.”
Đám người tản đi, một mình Kinh Nam đi về Bắc sơn. Sau lưng, vị đại nhân đó nói với Khổng Gia: “Đi theo thằng bé, xem xem thế nào.”
Sáng sớm hôm sau, sắc trời không đẹp lắm, tầng mây u ám nặng nề trùng điệp trên đỉnh đầu, tựa như có mưa chực chờ rơi xuống. Từ chân núi phía nam của Bắc sơn nhìn xuống sẽ thấy một vùng đất rộng lớn bên cạnh dòng sông cuồn cuộn nước, dấu vết cháy sém nặng nề tràn ra bốn phía, bị mây dày đè nặng, không còn chút sinh khí.
Đi qua thôn làng hoang vu rồi hướng đến phía đông, Kinh Nam bấy giờ đứng bên bờ sông, ra sức quăng lưới cá xuống nước.
Hồi lâu sau, nó kéo lưới lên. Không ngoài dự liệu, chỉ có vài con cá nhỏ. Kinh Nam bĩu môi, nó quăng lưới ở chỗ cách mép sông độ hai ba bước chân, mấy con cá con này mà bị mắc vào cho thấy chúng không đi nổi nữa rồi. Nó nhặt hai con tương đối lớn cho vào chiếc bình gốm đầy nước, con còn lại quả thực quá nhỏ, thế nên vứt nó về sông.
Kinh Nam thu lưới, xách bình gốm lên, về dưới gốc cây khế mà chúng thường đùa nghịch. Sau một trường biến cố, nơi đó đã có thêm một túp lều tranh, còn có thêm một phần mộ. Thôn bị hủy, túp lều xiêu xiêu vẹo vẹo kia đã trở thành nhà mới của nó. Nhưng mà, chưa đi được bao xa, Kinh Nam đã phải dừng bước.
Có hai người đứng cạnh túp lều tranh. Một người, chính là thanh niên tên Khổng Gia, người còn lại, là vị đại nhân kia của họ.
“Ây! Tiểu huynh đệ! Đây nè!” Nhác thấy Kinh Nam quay về, Khổng Gia kích động vẫy tay, “Đờ người gì vậy, bị sự xuất hiện bất thình lình của chúng tôi dọa sợ à?”
Khổng Gia nói vậy, giọng điệu rõ ràng là xem nó như trẻ con, vừa dỗ vừa ghẹo. Nhưng Kinh Nam quét mắt nhìn y rồi tiếp tục đi về phía trước, lạnh lùng nói: “Sợ chứ. Dù sao chỗ này người chết cả đống, người sống mỗi mình tôi.”
“Ấy.” Sự nhiệt tình của Khổng Gia thoắt chốc tiêu tan hết nửa.
Kinh Nam lười để mắt tới y, thế nhưng lúc đi ngang trước mặt vị đại nhân kia thì dừng một lát, ngẩng đầu hỏi: “Ông theo dõi tôi à?”
“Theo dõi?” Đối phương còn chưa đáp, Khổng Gia đã bước lên cười ha hả, ho khan hai tiếng, “Thằng nhóc này, tuổi tác chưa lớn mà khẩu khí chững chạc, nói chuyện cứ như ông cụ non.”
Kinh Nam dừng chân trước mặt vị đại nhân kia cũng chỉ một lát rồi lướt qua hai người, đi đến bên kia túp lều tranh, đặt bình gốm xuống, mắc lưới cá lên hong khô, nói như thể chẳng liên quan mình: “Từ chợ đến đây phải băng đèo vượt núi. Nếu đại nhân không theo dõi, lẽ nào còn có thể thuận đường?”
“Này…” Khổng Gia không biết đáp sao, đành hướng mắt nhìn đại nhân nhà mình cầu cứu.
Vị đại nhân kia bất đắc dĩ cười, bước lên hỏi: “Cậu tên gì?”
“Kinh Nam.”
Khổng Gia lẩm bẩm: “Phía nam Kinh Sở [1] được gọi là Kinh Nam. Tên này đặt đúng là tùy tiện.”’
Kinh Nam vờ như không nghe thấy, tiếp tục công việc đang làm.
Vị đại nhân kia lại nói: “Cậu không hỏi ta tên gì à?”
“Can gì tới tôi?”
“Ây, thằng nhóc này…” Khổng Gia bước lên toan nói chuyện với thằng nhóc vô lễ này một chút nhưng đại nhân nhà y đã bước lên trước một bước, ôn hòa nói: “Chẳng liên can gì, ngày sau còn gặp lại. Nhưng cậu phải nhớ, ta tên Phạm Lãi.”
Kinh Nam chỉ ‘ừ’ một tiếng. Là phản ứng hờ hững, mà không cần nói tới nó nhớ hay không nhớ, e là ngay cả nghe vào tai không cũng khó nói nữa là.
Phạm Lãi chẳng bận tâm, tiếp tục nói: “Thôn làng cách đây không xa xảy ra chuyện gì vậy?”
Khổng Gia cũng hiếu kỳ, tiếp tục bổ sung: “Vừa rồi bọn tôi đi qua, thấy thôn kia đã bị thiêu trụi, nhà cửa cháy đến nỗi chỉ còn thừa mỗi tro than không nói mà bốn bề đều có xác người chết thiêu. Quả thực đâu đâu cũng cháy trụi hoang tàn, trông thấy mà rợn tóc gáy.”
Phạm Lãi nghe thế lắc đầu cảm khái: “Thiên hạ hữu đạo, dân không oán thán; thiên hạ vô đạo, tội lây người hiền.” Phạm Lãi vốn chỉ than thở một mình, nhưng khiến Kinh Nam phải dời mắt nhìn mình.
Khổng Gia đã quá quen với kiểu đại nhân nhà mình thỉnh thoảng lại nói mấy câu mà y nghe không hiểu, bèn truy hỏi: “Lính Sở diệt thôn à? Sao lính Sở có thể tìm đến cái thôn hẻo lánh này chứ? Tại sao phải làm khó những thôn dân bình thường ở nơi này? Mà sao cậu lại trốn thoát mà tiếp tục sống được?
Kinh Nam ngồi xuống bên cạnh gốc cây đại thụ, trả lời: “Hôm đó tôi ra chợ bán cá, về muộn.”
Đứa bé này không nói thật. Hoặc dã, là không nói hết toàn bộ sự thật ra. Phạm Lãi im lặng lắng nghe, im lặng nhìn nó. Khổng Gia hỏi liền một mạch ba câu, mà nó chỉ chọn trả lời mỗi câu cuối cùng, hơn nữa còn tránh nhắc đến hai câu trước đó. Từ đó có thể thấy, đáp án cho câu cuối cùng của nó cũng chưa chắc hoàn toàn là thật.
Thằng nhóc này, trong sự thông minh toát lên vẻ ranh mãnh. Phạm Lãi càng thấy hứng thú, mỉm cười nhàn nhạt. Không nói thật cũng không cần gấp, ngày tháng còn dài.
Khổng Gia thò đầu nhìn mấy con cá trong bình gốm kia, lại hỏi: “Mấy con cá này sao đem đi bán được?”
“Ba ngày nữa là đủ bán được rồi.”
Khổng Gia lại hỏi: “Nhưng nếu như cậu đã bán cá, sao lại vừa không xuống nước bắt cá vừa không ngồi thuyền giăng lưới mà cứ đứng trên bờ mà bắt vậy? Ngay cả lưới còn không giăng, vậy thì bắt được bao nhiêu con cá chứ?”
“Mấy ông là người ngoài tới đây đúng không?” Lần này, Kinh Nam không đáp mà hỏi ngược.
Khổng Gia ngờ vực ‘ờ’ một tiếng. Kinh Nam lại nói: “Nơi này có một truyền thuyết, kể rằng trong mấy con sông này có một nơi được gọi là hang thủy quái, trong đó có một con thủy yêu, phàm bị nước cuốn vào đó, tuyệt đối không có mạng mà về. Vị đại ca này, nếu ông không tin, đừng ngại thử xem?”
Đây là câu trả lời dài nhất của Kinh Nam từ khi gặp họ đến nay. Nó vẫn giữ nguyên ngữ khí lạnh lạnh lùng lùng, chọn chữ đơn đơn giản giản nhưng lúc nhắc đến truyền thuyết này lại khiến người ta không khỏi toát hết mồ hôi lạnh sau lưng. Khổng Gia hậm hực sờ gáy, bước qua một bên, tìm một chỗ cách Kinh Nam khá xa mà ngồi xuống.
“Truyền thuyết cố nhiên đáng sợ, nhưng là thật hay giả cũng khó chắc lắm.” Phạm Lãi ngồi xuống đối diện Kinh Nam, nhìn thẳng vào mắt nó: “Nhưng trước mắt thôn này đã xác chất đầy đồng, một mình cậu ở đây, không sợ sao?”
“Bọn họ đều là hương thân nhìn tôi lớn lên từ bé, có gì phải sợ?”
“Tôi nói sợ, không phải nói quỷ thần.” Phạm Lãi giải thích, “Xác chết khắp nơi, may mà lúc này là mùa rét đậm, nhưng nếu thời tiết nóng lên, e rằng dịch bệnh hoành hành.”
“Vậy thì đợi trời nóng lên rồi nói.” Kinh Nam vừa nói vừa nhắm mắt lại, dựa người lên gốc cây, hiển nhiên là chuẩn bị nghỉ ngơi, không muốn nói nữa.
Phạm Lãi hỏi: “Thế ta đưa cậu đi, cho cậu sống những ngày phú quý, cậu bằng lòng không?”
“Tôi không đi đâu.”
“Bởi vì cậu đang chờ ai đó.” Phạm Lãi nói chắc nịch. Không ngoài dự đoán, Kinh Nam mở to mắt nhìn y, vẻ mặt rõ rằng đang viết – làm sao ông biết. Phạm Lãi nói: “Nếu không phải chờ người, khả năng cao là hôm qua cậu sẽ tìm một nơi nào đó trong chợ mà nghỉ lại một đêm. Trơ trọi một mình, chỉ cần có mái che đầu là đủ, dẫu sao vẫn tốt hơn ngủ ngoài trời như này. Nếu không phải đợi người, hôm qua cậu không cần phải gấp gáp dọn hàng về nhà, còn để mấy tên ăn mày kia tóm được cơ hội đó vu oan cho cậu.”
“Ông…”
Trong lòng Phạm Lãi đã rõ, tâm sự của thằng nhóc này cần phải được tháo gỡ từ đây, bèn hỏi: “Cậu đợi người thân à?”
“Người quan trọng nhất với tôi.”
Lại là một đáp án tránh nặng tìm nhẹ. Nghe thì tưởng nói đến một tin vô cùng quan trọng, nhưng thực tế nào có khác chi chẳng nói câu nào.
Khổng Gia ghé đầu qua, hỏi dò: “Cậu chắc chắn người đó còn sống chứ?”
“Chắc chắn!” Cuối cùng, Kinh Nam đã thôi bày ra dáng vẻ chuyện chả liên quan đến mình mà nhíu chặt mày nhấn mạnh, “Chắc chắn!”
Tuy rằng Khổng Gia lớn tuổi hơn nó nhưng bị nó trợn mắt nhìn như vậy, ngược lại thực sự cảm thấy có mấy phần khiếp đảm. Khổng Gia lại vừa bĩu bĩu môi, vừa lết ra xa hơn một chút. Ánh mắt thằng nhóc này lạnh như băng, toàn thân gai góc, chọc không nổi lẽ nào trốn cũng chẳng xong? Nhưng không ngờ rằng Kinh Nam nhìn y một cái, lạnh lùng nói: “Ông ngồi qua bên kia đi, đừng ngồi lên mộ phụ thân tôi.”
Khổng Gia chỉ muốn được thoải mái mới thuận tay chống tạm lên một gò đất cao; nghe nó nói vậy bèn lê ra hai bước ngoái nhìn. Cho dù gò đất này không ngay ngắn nhưng đằng trước có cắm nửa tấm ván gỗ, quả đúng là mộ phần. “Xin lỗi, xin lỗi, xin lỗi.” Khổng Gia nói luyên thuyên. Y quả tình là không chú ý. Thôn này la liệt ngổn ngang biết bao nhiêu xác cháy, vậy mà ở đây cũng có người đã nhập thổ vi an.
Phạm Lãi bèn hỏi Kinh Nam: “Phụ thân cậu danh tính là gì?”
“Kinh Vấn.” Tuy rằng Kinh Nam đã mất kiên nhẫn nhưng vẫn trả lời.
Phạm Lãi gật đầu, đứng dậy bước qua, rút thanh chủy thủ bên eo ra, cắm xuyên lên tấm gỗ trên mộ, nắn nót từng nét khắc lên mấy chữ.
Kinh Nam lập tức đứng dậy bước qua, căm phẫn nói: “Ông làm gì vậy?!”
Phạm Lãi nhặt lấy một miếng than trong đống lửa, đồ lên những chữ mình mới khắc, sau đó chỉ lên từng chữ từng chữ trên tấm gỗ mà đọc: “Kinh Vấn chi mộ.”
Kinh Nam ngẩn người tại chỗ, không nói nên lời.
Khổng Gia ở bên cạnh nói: “Chỉ bằng một tấm gỗ, làm sao xem là bia mộ được? Nếu không có bia mộ, gò đất vô chủ sao có thể xem là nhập thổ vi an?”
Kinh Nam cúi đầu mím môi, siết chặt đầu ngón tay phải trong vạt áo.
Phạm Lãi vỗ vỗ bụi than trên tay, nói: “Cậu không biết chữ nên mới không thể lập bài vị an táng phụ thân.”
Kinh Nam lẩm bẩm: “Chẳng ai dạy tôi cả.”
“Ta dạy cậu.” Phạm Lãi cười, “Cậu muốn học không?”
Kinh Nam ngước mắt nhìn y, muốn nói lại thôi.
Phạm Lãi lại nói: “Cậu có biết, muốn sống trong loạn thế, quan trọng nhất phải có gì không?”
Kinh Nam không đáp, nhưng nhìn y một cách rất chân thành, tựa như đang đợi y nói tiếp.
Phạm Lãi nói: “Là bản lĩnh. Sinh tồn trong loạn thế, mỗi bước đều gian nan, nếu cậu không có bản lĩnh, không chỉ không thể an thân lập mệnh, càng mặc cho người đời hà hiếp, sống hôm nay không biết ngày mai. Chỉ khi nào có bản lĩnh, cậu mới có thể tự vệ, mới có thể bảo vệ người mình yêu thương.”
Kinh Nam vẫn giữ vẻ vô cảm, nhưng rèm mi đã khe khẽ run lên. Phạm Lãi nhìn rõ phản ứng của nó, tiếp tục nói: “Đi theo ta, ta sẽ đưa cậu chu du bốn bể, hơn nữa còn dạy cậu bản lĩnh, dạy cậu phải làm sao mới sinh tồn được giữa loạn thế này.”
Khổng Gia mau chóng bước qua, vỗ vỗ vai Kinh Nam, nhắc nhở nó: “Còn không mau đồng ý? Đại nhân nhà tôi văn thao võ lược, mưu trí hơn người. Ngài nhất định có thể dạy cậu, này là phúc khí cậu có cầu cũng không được đó!”
Khổng Gia hãy còn kích động, không ngờ rằng lại bị Kinh Nam phản vấn: “Đại nhân nói muốn dạy tôi bản lĩnh, nhưng dám hỏi đại nhân có bản lĩnh gì?”
Phạm Lãi bật cười ha ha hai tiếng. “Thú vị, hết sức thú vị. Nếu cậu đã hỏi thế, vậy để ta ngẫm nghĩ kĩ xem.” Một tay Phạm Lãi chống nạnh, nghiêm túc suy tư, “Cuộc đời ta làm người, tin vào một chữ ‘dịch’”
“Nghĩa [2]?” Kinh Nam khó hiểu, “Nghĩa trong tình nghĩa à?”
“Dịch trong giao dịch.”
Kinh Nam không biết chữ, đương nhiên không hiểu ‘nghĩa’ này ‘dịch’ nọ, chỉ đành hỏi: “Nghĩa là sao?”
Phạm Lãi nghĩ ngợi, giải thích: “Vạn vật trên đời, đều có thể đem ra giao dịch. Bởi vì, vạn vật trên đời đều có giá của nó.”
“Giá?”
“Đúng vậy.” Phạm Lãi gật đầu, hỏi, “Ta hỏi cậu, cậu cho rằng mình vất vả đánh cá, lại đi một lần hai canh giờ đem bán, là vì cái gì?”
“Tiền.” Kinh Nam thản nhiên cười đáp, “Không có tiền, khó mà tiếp tục có cái ăn cái mặc.”
“Vậy mỗi lần ra chợ bán cá, tối đa cậu có thể bán mấy con? Kiếm được bao tiền?”
“Mỗi ba ngày ra chợ một lần, mỗi lần nhiều nhất có thể bán được hai mươi con, một con cá tối đa có thể bán được hai tiền.”
“Có thể được bốn mươi tiền?”
Kinh Nam lắc đầu: “Lúc thuận lợi cũng chỉ kiếm được hai mươi tiền.”
Phạm Lãi cúi đầu cười. Thằng bé này thiện lương đôn hậu, hôm qua Khổng Gia đá trúng sạp hàng của nó mà nó còn không chịu bán cá chết, ngày thường chẳng biết có bao nhiêu người kiếm hời trên người nó nữa.
“Ông cười cái gì?” Giọng điệu Kinh Nam bất thiện, “Ông xem thường mấy đồng bạc lẻ đó ư?”
Phạm Lãi bất đắc dĩ: “Tiền trong mắt ta, chỉ phân thành muốn kiếm hay không muốn kiếm, chứ không chia tiền ít tiền nhiều. Nếu cậu đã hỏi ta có bản lĩnh gì, vậy ta dạy cậu một cách giúp cậu nội trong một ngày bán được trăm tiền, thế nào?”
“Không được. Sức tôi yếu ớt, một lần chỉ có thể cõng được hai mươi con cá ra chợ, thêm mấy chục con cá nữa tôi vác không nổi đâu.”
“Không cần nhiều, vẫn là hai mươi con cá, sau khi bán hết ắt lấy được trăm tiền, cậu bằng lòng không?”
Trước đó Kinh Nam tức giận cũng được, cảnh giác cũng được, ít nhất còn nghiêm túc lắng nghe, nhưng nghe đến đây, nó lộ ra một nụ cười trào phúng có mà như không: “Đại nhân chớ thấy tuổi tôi còn nhỏ mà đem tôi ra đùa như thế. Từ khi chưa đến năm tuổi tôi đã theo phụ thân đi bán cá, xưa nay chưa từng có khi trong một ngày mà bán được trăm tiền.”
“Cậu không tin đúng không? Vậy tốt lắm.” Phạm Lãi hết sức hài lòng với sự chất vấn của Kinh Nam, “Nếu đã nói là có bản lĩnh mà người nào cũng biết thì còn gì hay ho nữa? Ta với cậu cược nhé – cược một trăm tiền này rốt cuộc có kiếm được không. Chúng ta lấy ba ngày làm hạn định, ba ngày sau, cậu đến căn nhà tận cùng phía tây chợ tìm ta, cho ta biết kết quả. Nếu cậu không thể kiếm được một trăm tiền, đến lúc ấy ta đền cậu trăm tiền, xem như bù đắp. Nếu như cậu bán được trăm tiền, điều đó chứng minh ta đích thực có bản lĩnh dạy cậu, ta sẽ mang cậu ra đi, vân du, học nghệ. Thế nào?”
Kinh Nam chần chờ giây lát, gật đầu.
Phạm Lãi nói: “Vậy tốt, cậu cứ việc chiếu theo cách ta dạy mà làm.”
Ba ngày sau, Kinh Nam xách theo lưới cá vào chợ. Hôm nay nó đến sớm hơn mọi ngày một chút, trời còn tối mịt nó đã ra ngoài, lúc đến chợ thì trời mới vừa hửng sáng, người vào chợ chưa được mấy ai.
Kinh Nam trải lưới cá ra ở góc chợ ngày thường vẫn hay bán cá, trên lưới có tổng cộng chẵn hai mươi con, con nào con nấy đều được nó lựa chọn kỹ càng, không chỉ tươi ngon mà kích thước cũng to hơn nhiều so với cá ngày thường. Đương nhiên, cũng nặng hơn nhiều. Quãng đường mang cá đến đây đủ làm nó mệt bở hơi tai.
Trước đó, nó cũng từng mang theo hai mươi con cá đi bán nhưng cho dù có vừa bán vừa cho cũng rất ít khi bán hết. Thế nên, vừa bày hàng xong, Kinh Nam ngồi một bên mà thấp thỏm không yên. Không biết những lời Phạm Lãi nói hôm đó là thật hay giả, nhưng chẳng qua chỉ ngẫu nhiên gặp mặt, rốt cuộc tại sao Phạm Lãi phải vượt núi băng đèo tìm đến nó, còn đòi dạy cho nó bản lĩnh? Nhưng mà, Phạm Lãi kia trông đoan trang tuấn tú vậy, nhìn kiểu gì cũng không giống người xấu, càng không giống người rảnh rỗi thiếu chuyện làm mà mang nó ra đùa giỡn. Huống chi, nếu thực muốn đem nó ra làm trò thì cũng không đến nỗi phải băng đèo vượt núi theo nó về tận thôn Vĩnh An mà giỡn chứ, làm vậy thì ở không rảnh rỗi quá mức rồi.
Bình tâm mà nghĩ, phụ thân mất rồi, đại ca không biết đi đâu, ranh con cũng không biết chạy tới phương nào. Hôm nay chỉ còn mỗi mình nó sống, hi vọng duy nhất là ranh con còn sống rồi ắt có ngày nó với ranh con còn có thể gặp lại nhau. Còn về tiền bạc, với nó mà nói chẳng qua chỉ là vật ngoài thân. Chỉ cần bụng đủ no ăn, áo đủ che người, còn tiền dư ra, có cũng chẳng biết làm gì.
Nhưng nó lại muốn chiếu theo cách của Phạm Lãi mà thử một phen xem, bởi ngày đó Phạm Lãi nói nhiều như thế nhưng có một câu trong đó cứ như một gậy giáng xuống đầu nó, khiến nó thình lình cảm thấy vừa đau vừa tỉnh- sống trong loạn thế, chỉ có bản lĩnh mới có thể giúp an thân lập mệnh, mới có thể bảo vệ được người mình yêu quý. Nếu nó có thể theo Phạm Lãi chu du tứ hải thì có thể đi khắp núi non sông biển mà tìm được ranh con. Nếu nó có thể thực sự học được bản lĩnh, nó có thể bảo vệ được ranh con.
Nghĩ đến đây, Kinh Nam không khỏi nhếch môi. Nhưng mà nhìn mấy con cá trước mặt đây, nó lại ủ rũ cúi gằm mặt. Nếu cách thức của Phạm Lãi không hiệu quả, kiếm được trăm tiền không cũng không quan trọng nữa, bởi vì đắc tội với những hương thân trong thôn này thì bảo nó phải sống sao đây? Cảm giác thấp thỏm không yên vừa mới biến mất lại trào lên lần nữa.
Kinh Nam đang dằn vặt năm hồi bảy lượt, chợt một cô gái trẻ đến trước sạp hàng, cười rạng rỡ hỏi: “Hôm nay lại đến bán cá à? Bán tôi một con đi.”
Kinh Nam nhận ra cô gái này, cứ dăm bữa mười ngày cô ta lại ra chợ mua cá, đương nhiên, lần nào cũng kì kèo mặc cả một phen. Kinh Nam cắn môi lúng túng nghĩ, sao người đến đầy tiên lại là người tuyệt đối không chịu thua thiệt thế này. Kinh Nam do do dự dự không rục rịch gì, cô gái kia lại sốt ruột thúc giục, cuối cùng nó mới hạ quyết tâm nói: “Vị tỷ tỷ này, cá hôm nay, một con năm tiền nhé.”
Cô gái kinh ngạc, hết sức hoài nghi hai lỗ tai mình. “Năm tiền? Tôi thường mua cá của cậu, lần nào cũng chỉ có hai tiền.” Cô vừa nói vừa không quên bổ sung, “Lúc bán hai tiền cậu còn tặng thêm cho con khác nữa mà!”
“Hôm nay khác.”
“Khác chỗ nào?” Cô gái chỉ vào mấy con cá đó, “Không phải vẫn như ngày thường sao?”
Kinh Nam chiếu theo cách Phạm Lãi dạy mà nói: “Bởi vì sau này tôi không đến đây bán cá nữa, nên cố tình bắt thêm nhiều con vừa lớn vừa tươi đến đây bán. Chị xem đi, mấy con cái này đích thực lớn hơn trước đây khá nhiều.”
Hiển nhiên cô gái đã không còn quan tâm tới cá mà hỏi: “Cậu không đến bán cá nữa à? Cậu bán cá ở đây cũng mấy năm rồi mà, tôi nhớ từ hồi còn nhỏ cậu đã bán cá ở đây rồi. Tại sao không bán nữa?”
Phản ứng của cô gái cũng nằm trong dự đoán của Phạm Lãi. Kinh Nam đáp: “Có một vị đại nhân bằng lòng làm sư phụ của tôi, hết hôm nay, tôi sẽ theo vị đại nhân đó rời khỏi nơi này.”
Cô gái nhíu mày, đang thở dài chưa quyết thì lại nghe Kinh Nam nói: “Hôm nay nếu tỷ tỷ muốn mua cá, tối đa chỉ mua được hai con thôi. Bởi vì còn kha khá khách lâu năm cũng muốn mua cá, chị thấy đó, chỗ cá này cũng không phải nhiều. Ồ, đúng rồi, cá hôm nay tôi cũng bán cho nữ thôi, các chị các thím ngày thường bận rộn việc nhà, không rảnh ra sông bắt cá, gần đây sắc trời cũng xấu, sóng gió lại lớn, các chị các thím dù có đi bắt cũng khó mà bắt được lắm. Bởi vậy nếu có anh có chú nào tới mua, tôi cũng không bán cho đâu.”
Cô gái trẻ nghe nó nói thế thì chỉ do dự một thoáng, sau đó móc ra mười tiền trong túi tiền ra đưa cho Kinh Nam, nói: “Vậy tôi mua hai con.”
Kinh Nam nhận tiền, chọn ra hai con lớn nhất trên sạp hàng rồi dùng thừng đay cột lại rồi đưa cho cô gái ấy. “Tỷ tỷ đến sớm, đương nhiên có thể chọn lấy con lớn nhất. Đến muộn hơn chỉ có thể mua được con nhỏ hơn thôi.”
Cô gái trẻ tuổi mỉm cười, xách hai con cá lên, hả dạ rời đi.
Sau khi cô gái đó đi, trên chợ bắt đầu truyền ra tin đồn, hôm nay là ngày cuối cùng thằng bé đến đây bán cá, bán xong sẽ không đến nữa. Còn nói chỉ bán cho nữ, mỗi người chỉ mua được hai con.
Nghe thấy cả thôn đều đang xì xầm bàn tán về mình, Kinh Nam càng thấy bất an, hương thân đều đang nói xấu nó, chẳng ai muốn đến ủng hộ nó cả sao? Thế nên, Phạm Lãi kia quả thực đem nó ra làm trò đùa bỡn à? Việc kinh doanh gốc rễ chỉ cần bán với giá thấp hơn một chút, tất nhiên người đến mua sẽ càng đông hơn. Làm gì có kiểu không ngừng tăng giá bán hàng, còn ràng buộc thêm bao nhiêu điều kiện? Kinh Nam bĩu môi nhìn cá trên sạp hàng, rầu hết cả ruột, năm tiền một con đã là cao giá rồi, còn không cho nam mua, đâu ra nhiều nữ vậy đến mua sạch chỗ cá này?
Kinh Nam ôm gối ngồi trên mặt đất, chán nản nắm lấy một góc lưới cá, nghĩ rồi lại nghĩ, quả nhiên vẫn không nên nghe lời cái tên Phạm Lãi đó. Nếu như bán không hết chỗ cá này, nó thắng được thì đã sao? Hôm nay nó đã nói cho mọi người biết rằng nó sắp ra đi, không còn tới bán cá nữa rồi, nếu như nó không đi theo Phạm Lãi, vậy nó phải làm sao mới đúng đây? Lẽ nào nói rồi nuốt lời, tiếp tục về đây mở hàng bán cá? Vậy Phạm Lãi kia đúng là người xấu, làm như này không phải triệt để cắt đứt đường bán cá sau này của nó luôn rồi à?
Đằng này Kinh Nam đang hối hận muộn màng, đằng kia đã có mấy người phụ nữ lập nhóm bước qua đây hỏi cá hôm nay bán như nào, sau đó chen lấn xô đẩy đưa tiền, còn đòi Kinh Nam cố gắng chọn cho mình hai con to nhất. Kinh Nam bận rộn thu tiền, rồi buộc cá lại cho họ, lúc đó nghe một người phụ nữ nói: “Nhà tôi nhiều người, muốn mua thêm hai con nữa, được không?”
Kinh Nam trả lời y như Phạm Lãi dạy nó: “Vị thẩm thẩm này, hôm nay tôi chỉ mang có bao nhiêu cá đến thôi, mỗi người chỉ mua được hai con, thím xem cũng chỉ còn thừa lại mấy con này, còn mấy hương thân chưa đến nữa.”
Người phụ nữ đó nhận cá rồi rời đi chung với mấy người còn lại, Kinh Nam nghe người đó hết sức không vui nói với người bên cạnh: “Thằng nhóc này cứng nhắc quá, đợi tôi về gọi mấy đứa em gái ra mua thêm hai con nữa không phải xong rồi à?”
Cứ thế, còn chưa đến giữa trưa, hai con cá cuối cùng cũng bán sạch rồi, Kinh Nam nhìn túi tiền dày cộm, lại nhìn lưới cá không còn một móng trên mặt đất, nhất thời chỉ cảm thấy siêu việt lạ kỳ, giống hệt như vừa mơ một giấc mơ.
Kinh Nam cất túi tiền nặng trình trịch đi, thu lưới cá lại vác ra sau lưng, vừa đi vừa hỏi đường, tìm đến trước gian nhà nông mà Phạm Lãi nói. Dù sao đây cũng là trận đánh cược giữa nó với Phạm Lãi, đích thực Phạm Lãi cược thắng rồi, làm gì cũng phải giữ cho được chữ tín, đến đây nói cho Phạm Lãi biết tin tức này. Về việc có thực sự ra đi với Phạm Lãi không, nó còn chưa ra quyết định.
Hít sâu một hơi để lấy dũng khí, Kinh Nam bước lên gõ cửa.
“Ai đó?” Cánh cửa cọt kẹt một tiếng mở ra, một ông lão râu tóc bạc phơ đứng sau cánh cửa.
Kinh Nam đoán ông lão hẳn là chủ của ngôi nhà này, bèn nói rõ ý mình: “Cháu chào ông, cháu đến tìm Phạm Lãi Phạm đại nhân.”
Ông lão híp mắt, nghĩ ngợi rồi mới nói: “Phạm đại nhân… À, trước đây chủ tớ hai người họ quả thực từng ở chỗ tôi mấy ngày, chẳng qua là đã đi mất rồi.”
“Đi mất rồi?” Kinh Nam kinh ngạc mở to mắt, “Đi lúc nào? Đi đâu? Rõ ràng ông ta bảo cháu đến đây tìm ông ấy mà!”
“Đi đâu thì lão không biết. Hôm qua bọn họ đã đi ngay trong đêm, thần sắc trông có vẻ gấp gáp lắm, có lẽ có chuyện gì quan trọng phải làm rồi.”
“Bọn họ còn quay lại không? Bao giờ quay lại?”
“Quay lại?” Ông lão gãi đầu, “Không quay lại đâu. Trước lúc sắp đi đã thanh toán sạch chi phí thuê trọ rồi.”
“Không quay lại nữa à…” Kinh Nam đờ đẫn cắm rễ ngay chỗ đó.
Ông lão đầy vẻ ưu tư hỏi nó mấy lần “Nhóc con, không sao chứ”, nó mới miễn cưỡng tỉnh người, nói câu cảm ơn ông lão rồi xoay người chạy đi.
Cầu sinh trong loạn thế, bước nào đi cũng gian nan, nếu cậu không có bản lĩnh, chỉ có thể mặc người ta hà hiếp, sống hôm nay không biết đến ngày mai.
Đi với ta, ta dẫn cậu đi chu du bốn biển, dạy cậu bản lĩnh.
Ba ngày sau, cậu đến căn nhà ở tận cùng phía tây chợ tìm ta.
Lời Phạm Lãi nói ngày đó, từng câu từng chữ còn văng vẳng bên tai.
Hai mươi con cá, chẵn một trăm tiền, toàn bộ đều như Phạm Lãi dự liệu, không dư không thiếu.
Chỉ là, ván cược đã xong, mà người đánh cược chẳng còn tăm tích. Kinh Nam càng thêm tức giận, cuối cùng cũng chỉ có thể tuyệt vọng bật cười. Nó, Kinh Nam, chẳng qua chỉ là một đứa trẻ quê mùa, đúng vậy, nó nghèo mạt rệp, cửa nát nhà tan, cũng rất đáng thương; nhưng thiên hạ này nhiều kẻ đáng thương vậy, nó dựa vào cái gì mà dám trông mong ở nơi biên cương hẻo lánh đương không xuất hiện một người khí độ bất phàm, tự tin tiêu sái như Phạm Lãi thình lình xông vào đời nó, nói với nó: “Đi theo ta, ta dạy cậu bản lĩnh.” Lại dựa vào cái gì mà chỉ bằng câu nói của một người xa lạ, nó đã bắt đầu vạch ra kế hoạch cuộc đời, vẽ ra viễn cảnh chu du bốn biển, tìm được ranh con, vạch kế hoạch học được bản lĩnh có thể bảo vệ ranh con đàng hoàng?
Buồn cười thay, hoang đường thay.
Hoang đường thay, đáng thương thay.
“Á~~~!”
Kinh Nam nhăn mày. Nó đang đi về phía núi Bắc thì chợt có một tiếng hét thê lương thảm thiết vang dội không trung, dù đang ban ngày ban mặt nhưng nó vẫn bị dọa cho giật mình. Lần theo âm thanh đó nhìn xem, trước nhà một hộ gia đình có rất đông người tập trung đen kịt.
“Tiểu Hổ! ~ Con chết thảm quá, Tiểu Hổ ơi! ~~~”
Lại một tiếng kêu khóc vang lên, âm thanh này…
Kinh Nam chuyển hướng chạy qua, cố gắng hết sức dạt đám đông ra. Quả nhiên, một người phụ nữ đầu tóc rối bù, toàn thân đẫm máu đang quỳ dưới đất đau khổ gào khóc. Bà đang ôm ai đó trong lòng, từ đầu đến mặt toàn là máu, máu tí tách nhỏ xuống đất, vô cùng đáng sợ.
Kinh Nam không khỏi lui về sau nửa bước.
Là thím Trịnh.
Ranh con, lại theo ca ca đến đây bán cá à? Chỗ thím đây còn có hai cái cơm nắm, cháu cầm lấy ăn đi.
Ranh con xấu xa, thím Trịnh lại lén nhét đồ ngon cho em nữa chứ gì! Năm tháng đói kém, chỉ có mỗi em càng lúc càng tròn thôi!
Em không xuống! Em phải hái quả to nhất mang tặng cho thím Trịnh!
Kinh Nam ngơ ngác nhìn, hầu như không còn nghe thấy tiếng kêu khóc nữa, bên tai chỉ liên tục vang lên những lời đối thoại tầm thường như thế. Đó chính là người thường lén nhét đồ ăn ngon cho bé con, đây là…
“Thím Trịnh…”
Kinh Nam bước lên, nhưng bị một đại thúc cản lại: “Nhóc này, đừng qua đó, thím Trịnh không còn nhận ra nhóc nữa đâu.”
“Không phải, thím Trịnh nhận ra cháu mà, thím…”
“Bà ấy không nhận ra được ai nữa rồi.” Một đại thẩm khác thở dài não ruột, “Bà ấy điên rồi, điên đã mấy ngày nay rồi.”
“Điên rồi?” Một người đang yên đang lành sao mà điên được? Kinh Nam không dám tin, nhưng bên cạnh không ai ngó ngàng nó nữa mà chỉ thở dài nhắc lại chuyện thím Trịnh gặp phải.
Đứa con gái mười hai tuổi của thím Trịnh bị quan binh cướp đi rồi.
Thím Trịnh ngày khóc đêm kêu, lẩm ba lẩm bẩm, cuối cùng, chẳng còn nhận ra được ai nữa.
Đứa con trai còn lại tên là A Hổ, vừa tài giỏi vừa hiếu thuận, nhưng lại bị quan binh nhắm đến toan bắt nó tòng quân.
A Hổ nói cần phải ở nhà chăm sóc người mẹ bị điên, không thể theo được, quan binh kia liền lấy chuôi đao nện lên đầu nó. Không biết là vô tình hay cố ý, nện một cái, nện xuyên qua cả não.
Đáng thương thay một đôi trai gái, thế này thím Trịnh làm sao sống nổi nữa đây?
Mỗi người mỗi câu bàn luận rót vào tai Kinh Nam. Kinh Nam nhìn thím Trịnh suy sụp khóc thất thanh, chỉ cảm thấy sởn tóc gáy.
“Thiên hạ hữu đạo, dân không oán thán; thiên hạ vô đạo, tội lây người hiền.”
Lời Phạm Lãi nói ngày hôm đó, vang vọng trong tim.
Ngày đó nó nghe không hiểu được, mơ mơ hồ hồ. Nhưng giờ này phút này, nó như chợt hiểu ra.
“Ha, còn chưa khóc xong à? Phiền chết đi được!”
Có một toán lính từ trong nhà bước ra, người dẫn đầu tay cầm hai cái cơm nắm, quét mắt qua thím Trịnh, buông lời cười nhạo. Kinh Nam nhìn thấy rất rõ, thanh trường đao vắt trên eo người đó còn dính vệt máu đỏ thẳm chưa khô ở chuôi đao.
Người này chẳng qua chỉ nói một tiếng bằng giọng chán ghét mà một tên thủ hạ sau lưng hắn lập tức bước lên. Khi tất cả mọi người đều không kịp phản ứng, tên đó đã giơ đao chém xuống, tiếng khóc la của thím Trịnh bỗng nhiên ngưng bặt.
Lớp lớp người, nhất thời im lặng đến ngột ngạt.
“Giết…giết người rồi!”
Không biết là ai đã nhịn không được khe khẽ kêu lên.
Tên hung thủ ngước mắt trừng trừng nhìn đám người, lập tức xung quanh không còn tiếng gió.
Khốn nạn! Kinh Nam nghiến răng, muốn xông lên phía trước nhưng bị hai đại thúc một trái một phải sống chết cản lại.
“Ôi!” Động tĩnh bên này hấp dẫn sự chú ý của tên thủ lĩnh, hắn bước mấy bước qua, đứng trước mặt Kinh Nam, hỏi, “Nhóc con, trông bộ dạng ngươi ra chiều tức tối lắm hả?”
Một đại thúc liên tục xua tay, giải thích: “Đại nhân hiểu lầm rồi, chỉ là thằng bán cá, vốn không phải người nơi này.”
Một đại thúc khác cũng giải thích thay nó: “Đúng vậy đúng vậy, thằng ngốc này ngày thường đã trông như thế rồi, nhìn ai cũng thấy như có thâm thù đại hận.”
“Đúng vậy đúng vậy, não không thông minh lắm, ai cũng biết vậy.”
Mọi người liên tục nói giúp cho nó nhưng tên thủ lĩnh vẫn cười như không cười, chẳng ai biết rốt cuộc hắn có nghe lọt tai không. Tất cả mọi người đều toát hết mồ hôi lạnh thay Kinh Nam, riêng mỗi Kinh Nam vẫn hai mắt tóe lửa phẫn nộ nhìn hắn, không nhúc nhích gì.
“Hay, hay lắm!” Người đó bất chợt bật cười, “Xem dáng vẻ như sói con của ngươi, nếu thành thuộc hạ của ta, họa may không chừng trở thành bảo đao đấy.”
Mọi người nghe thế đều âm thầm kêu thôi chết, nếu gã này kéo cả thằng nhóc này tòng quân, một đứa bé trẻ người non dạ như này…
“Thường Tín tướng quân!” Bên ngoài đám đông có người cưỡi một con ngựa cao to chạy đến, lớn tiếng nói, “Thạch Đầu tướng quân truyền tin tới.”
“Chuyện gì?” Tên tướng quân tên Thường Tín ngoái đầu, bực mình hỏi.
“Đại tướng quân có lệnh, yêu cầu ngài lập tức rút binh về Cối Kê.”
Thường Tín hung hăng lẩm bẩm: “Mới tự do được có mấy ngày lại triệu về nữa rồi. Nhất định là tên Phạm Lãi đáng chết đó.” Hiển nhiên Thường Tín chẳng có chút hứng thú, lại nhìn Kinh Nam, giơ tay vỗ lên mặt nó: “Nhóc con, tự liệu thân mình, đừng lo bao đồng nữa.”
Hắn nói xong thì liền dẫn người đi. Kinh Nam hung hăng chùi mặt, chùi sạch mấy hạt cơm nhớp nháp, trên hạt cơm đó còn lưu dấu máu tươi.
“Đằng nào cũng đi rồi, đằng nào cũng đi rồi. Nhóc con, lần tới ngàn vạn lần đừng manh động như này nữa nhé!”
“Đúng vậy, ai bảo chúng ta đều là kẻ đáng thương chứ? Thôi vậy.”
“Thôi vậy?” Kinh Nam ngoái đầu, không sao tin nổi.
Một đám người vây quanh khuyên nhủ: “Không thôi thì làm được gì?”
“Chúng ta đánh có lại chúng không?”
“Mấy tên kia là lính Việt, đừng nói là chúng ta, ngay cả lính Sở cũng không phải đối thủ của bọn chúng!”
“Đúng vậy! Mới mấy ngày trước chúng lại đánh nhau với đám lính Sở một trận, cách chỗ này chẳng bao xa! Quân Sở đại bại, thậm chí có rất nhiều lính Sở phản bội trốn thẳng sang bên lính Việt.”
“Thảo nào quân Việt lại kiêu căng như vậy, nói không chừng cái trấn nhỏ biên giới của Ngô-Sở-Việt chúng ta sau này chắc về tay Việt hết!”
Tranh luận của đám người này từ chỗ sống chết của bản thân cuối cùng thăng cấp lên thành chư hầu tranh bá. Tranh luận càng lúc càng hăng, duy chỉ có Kinh Nam ngoái đầu nhìn chằm chằm hai mẹ con ngã trong vũng máu.
“Khụ khụ.” Một đại thúc nhìn theo ánh mắt nó, ho khan hai tiếng, nói, “Nhóc con, yên tâm đi, bọn tôi là hàng xóm với thím Trịnh nhiều năm như vậy, nhất định an táng hai mẹ con họ đàng hoàng.”
Ai nấy đều gật đầu lia lịa nói phải, một người phụ nữ trong số đó còn tràn đầy thương xót nói: “So với sống mà đau khổ thế này, chi bằng chết đi cũng có thể xem như một loại giải thoát.”
Đám người cứ bàn tán mãi không ngừng, Kinh Nam dạt bọn họ ra rồi chạy mấy. Những tiếng bàn luận xôn xao đó càng khiến người ta khó chịu hơn cả tiếng gào khóc của thím Trịnh ban nãy. So với sống mà đau khổ thế này, chi bằng chết đi cũng có thể xem như một loại giải thoát.
Kinh Nam chạy một mạch đến chân núi phía Bắc, câu nói của người phụ nữ đó vẫn vang vọng không thôi.
“Hừ!” Kinh Nam căm phẫn vứt lưới cá xuống đất, mắng chửi dồn dập không ra hơi, “Sống đau khổ thì phải chết sao? Đạo lý rắm chó gì vậy?”
Đau khổ từ đâu mà có, là bẩm sinh đã có hay sao? Là từ trên trời giáng xuống sao?
Con gái mất, con trai chết, là do ai hại chứ?!
Tại sao không thể phản kháng, tại sao cứ mặc cho người ta hà hiếp, sao cứ phải nhẫn nhục chịu đựng? Sao không thể có thù báo thù, có oán báo oán? Kinh Nam tức đến lồng ngực phập phồng lên xuống, nếu vừa rồi nó không nuốt giận vào lòng, nếu hai vị đại thúc kia không cản nó, nếu nó cố chấp xông lên…
Nó có thể làm gì?
Vốn dĩ đã giận đến lồng ngực sắp nứt cả ra mà bất chợt như bóng xì hơi, ủ rũ ngã ngồi xuống đất.
Nếu nó cố chấp xông lên, chẳng ngoài có thêm một cái xác nữa nằm trước cửa nhà thím Trịnh.
Thế nên, có ‘nếu như’ thêm nữa cũng chẳng được tích sự gì, trừ khi…
Nó có bản lĩnh.
“Cầu sinh trong loạn thế, mỗi bước đều gian nan, nếu cậu không có bản lĩnh, chỉ có thể mặc cho người đời hà hiếp, sống hôm nay không biết ngày mai.”
Đúng như lời Phạm Lãi nói.
Phạm Lãi, Phạm Lãi! Lại là Phạm Lãi!
Kinh Nam càng thêm cáu kỉnh gãi đầu, cái tên lừa đảo nói không giữ lời!
Kinh Nam khom người nhặt lưới cá lên, phủi sạch bụi đất, cẩn thận thu lưới vác lên trên lưng.
Phụ thân chết rồi, ranh con đi mất, nhà cũng cháy trụi rồi.
Chỉ có tấm lưới cá rách nát này bị vứt bên bờ sông.
Là vật duy nhất phụ thân để lại cho nó.
Dẫu sao thì vẫn phải sống.
Một tháng sau, tất cả về lại như lúc ban đầu.
Với Kinh Nam mà nói, nó chỉ xem như mình chưa từng gặp qua con người có tên Phạm Lãi ấy.
Ngoại trừ nó không còn ra chợ bán cá, ngoại trừ một trăm tiền còn nguyên niêm phong trong lều tranh. Mọi thứ khác đều không có gì khác biệt.
Phạm Lãi dạy nó cách bán cá, nó cũng chưa bao giờ dùng lại lần nào. Dẫu sao cũng nói với các hương thân đó là lần cuối cùng nó bán cá, cho dù Phạm Lãi nói mà không giữ lời với nó nhưng nó cũng không thể nuốt lời bội tín với các hương thân.
Còn một trăm tiền mà Phạm Lãi dạy nó cách kiếm về, nó cũng chưa từng đụng tới. Đó là tiền cược, cho dù trận đánh cược đó không còn tồn tại vì Phạm Lãi thất tín, nhưng nó đã hứa với Phạm Lãi nên bất luận kết quả như nào, nó cũng phải cầm đến cho người ta.
Những gì Kinh Nam đã nói, Kinh Nam sẽ tự mình nhớ cho thật kĩ. Chỉ là, không biết người khác phải chăng vẫn nhớ mãi hay không.
Về phần Phạm Lãi, rốt cuộc đã đi đâu rồi? Tại không sao từ mà biệt? Có phải vì muốn dẫn nó đi không? Không muốn thì không muốn chứ, tại sao không thể tới nói với nó một lời? Lẽ nào sợ nó cắn chặt không buông đòi người ấy đưa mình đi ư?
Hừ! Buồn cười quá! Bớt mơ mộng hão huyền đi!
Mỗi lần nghĩ thế, Kinh Nam vừa đem Phạm Lãi ra mắng từ đầu tới đuôi vừa không khỏi đưa mắt nhìn lên núi Bắc. Tròn một tháng trôi qua, thời tiết ngày một lạnh hơn. Trên con đường núi dẫn lên núi bắc trước mặt vẫn không một bóng người.
Sáng sớm hôm nay, Kinh Nam kéo lưới đánh cá vào bờ, nó đứng yên ở một góc bờ sông nhìn tấm lưới đánh cá trên tay, tấm lưới đã rách biết bao nhiêu là chỗ. Nó cũng từng học theo cha vá chỗ này chỗ kia mấy lần nhưng dẫu sao vẫn không vá được. Kinh Nam bĩu môi, gắng sức quăng lưới xuống sông rồi lẳng lặng đợi, đợi xem con cá nhỏ nào xấu số thế, vậy mà cũng bị nó tóm được. Nó thở dài, bụng nghĩ nó đứng trên bờ quăng lưới đánh cá, tóm không được con nào mới phải, liên quan gì đến cá hay lưới đâu?
Ngồi một lúc bên bờ sông, gió đông lành lạnh thổi đến vù vù, Kinh Nam co ro ôm chặt lấy mình, cầm một vật ra săm soi trước mắt.
Trâm đuôi phượng.
Báu vật ranh con kia nâng niu yêu quý nhất, sau khi cả làng bị giết thì được cắm trên mộ phần của phụ thân.
Bảy ngày sau khi cả làng chết sạch nó mới chạy về làng Vĩnh An, dân làng đã chết cả rồi, làng cũng bị thiêu trụi. Cho dù đã qua đến tận bảy ngày nhưng vẫn còn đồ vật ở nơi nào đó còn chưa bị cháy sạch, chốc chốc vẫn bốc lên mấy luồng khói đen.
Mà dưới cây khế đó đã chẳng còn ranh con, chẳng còn phụ thân nữa; chỉ còn lại một nấm mồ, trên mộ cắm một chiếc trâm đuôi phượng.
Phụ thân chết, là do ranh con bé nhỏ mai táng. Sau khi mai táng phụ thân, ranh con bèn để lại vật quý giá nhất của mình ở nơi ấy. Toàn bộ suy đoán của Kinh Nam đều dừng ở chỗ này. Sau đó nữa đã xảy ra chuyện gì, ranh con đã đi đâu, nó không sao biết được.
Mấy tháng nay, có rất nhiều lần Kinh Nam dằn không được suy nghĩ, nếu đã không đợi được ranh con quay lại, vậy thì nó đi tìm. Nhưng nơi xa xôi nhất mà nó từng đi qua chính là phố chợ ở phía kia núi Bắc. Trời cao đất rộng, biển người mênh mông, nếu muốn tìm lại phải đến nơi đâu mà tìm? Thế nên, ngày đó sau khi Phạm Lãi xuất hiện, nó cũng từng nghĩ, nếu như có thể theo Phạm Lãi đi lại bốn phương, có khi có thể tìm được ranh con.
Phạm Lãi… Phạm Lãi!
Kinh Nam phiền não đứng dậy, thu lưới, nhưng hễ đã nghĩ đến người đó là lòng nó lại ngập tràn lửa giận. Cá cũng không muốn bắt, dẫu sao cũng có đem bán được đâu, đủ ăn là được rồi, bắt nhiều có để làm gì chứ?
Dọn dẹp thỏa đáng rồi, vừa mới xoay người thì cái người khiến nó hận đến mức muốn lập tức chửi cho một trận cứ thế mà xuất hiện trước mặt nó không có chút báo hiệu nào.
Một chủ một tớ đứng trước ngôi nhà tranh rách nát. Một người chấp tay sau lưng, một người vẫy tay rất nhiệt tình, cất cao giọng hô: “Tiểu huynh đệ! Tiểu huynh đệ!” Hệt như một tháng trước hai người mới gặp lần đầu.
Nhưng mà, thật sự có thể xem tất cả như buổi đầu gặp gỡ, thật sự xem như chưa từng xảy ra chuyện gì ư?
Kinh Nam vứt ngay lưới cá xuống đất, chân như đạp gió lao thẳng một đường.
“Mấy người lại tới đây làm gì?” Kinh Nam dừng lại trước mặt Phạm Lãi, phẫn nộ nhìn y.
Khổng Gia cười khì khì trả lời: “Đương nhiên là tới tìm cậu rồi.”
Cái bộ dạng hí ha hí hửng đó khiến Kinh Nam càng thêm bốc hỏa. Rốt cuộc bọn họ có biết là người lỡ hẹn trước là họ hay không? Rốt cuộc có biết những ngày qua nó phải sống thế nào không? Không nói một lời mà biến mất, không chút báo hiệu nào đã xuất hiện, tưởng nó là cái gì? Dù là khỉ trên núi cũng không thể đem ra đùa cợt vậy chứ?!
“Mời về cho.” Kinh Nam không khách sáo nói, “Nơi này không hoan nghênh mấy người!”
“Không hoan nghênh?” Phạm Lãi cười hết sức ngây thơ vô tội, quét mắt nhìn về hướng nó vừa chạy một mạch tới đây, “Ta thấy cậu chạy băng băng tới đây gấp gáp như vậy còn tưởng đâu cậu hiềm ta đến muộn chứ.”
“Được.” Kinh Nam hận đến nghiến răng nghiến lợi, “Để tôi đánh cho ông chạy, ông sẽ biết tôi…”
“Khổng Gia, cậu qua đây, xem hai người ai thân thủ tốt hơn.”
Khổng Gia cười hì hì chấp thuận, bước lên hai bước, đứng thẳng trước mặt Kinh Nam. Khổng Gia cao hơn Kinh Nam một cái đầu, cúi đầu nhìn nó.
“Ông!” Kinh Nam tức đến suýt chút thổ huyết, cơn thịnh nộ ngược lại làm nó bình tĩnh hơn nhiều. Nó đẩy liền Khổng Gia ra, lạnh lùng nói, “Tránh xa tôi ra. Tôi không dây dưa với mấy người nói không giữ lời đâu.”
Kinh Nam nói xong thì quay về ngồi ngẩn ra trước túp lều tranh, cúi đầu ủ rũ. Khổng Gia bước tới giải thích: “Tiểu huynh đệ, lần trước đại nhân nhà tôi vì chuyện…” Nhưng Phạm Lãi đã ngắt lời y, cười hỏi: “Sao nào? Ra phố chợ tìm ta mà không gặp được nên mới giận như này đúng không?”
Kinh Nam không ngẩng đầu lên: “Ông đừng ép tôi đánh ông. Cho dù tôi đánh không lại hai ông, bị hai ông đánh chết, tôi cũng phải cho mấy ông nếm mùi đau khổ.”
“Có khí phách.” Phạm Lãi nói, “Cậu giận như này cũng không ngoài lý do ta đã cho cậu một tia hi vọng nhưng lại dập tắt hi vọng đó mà thôi.”
Kinh Nam bấy giờ mới ngước mắt lên nhìn Phạm Lãi. Phải, y nói không sai chút nào. Một tháng nay, Kinh Nam phẫn nộ, phiền muộn, không biết làm sao, vừa hận vừa giận Phạm Lãi vừa không sao quên được, nó cũng không rõ rốt cuộc là vì lý do gì. Nhưng câu này của Phạm Lãi đích xác đã thực sự như găm vào tim nó. Toàn bộ phẫn nộ của nó đều chỉ vì một tia hi vọng, vốn không nên có, nhưng lại vô cớ sinh ra, lại vô duyên tắt ngấm.
Phạm Lãi lại nói: “Trận đánh cược hôm trước, kết quả như nào?”
“Kết quả?” Trào phúng dâng đầy đôi mắt của Kinh Nam. “Kết quả là ông không từ mà biệt.”
Phạm Lãi thừ người, lại cười nói: “Không phải không từ mà biệt, chẳng phải đã để lại một trăm tiền cho cậu rồi à.”
“Một trăm tiền? Không kiếm được.” Kinh Nam trợn mắt, “Tưởng đâu mình đúng.”
Phạm Lãi trỏ vào chiếc bình gốm trong túp lều tranh: “Vậy sao? Chứ đó là gì?”
Kinh Nam bối rối, mới nói: “Cần gì ông lo?”
Phạm Lãi thò người qua, lấy chiếc bình gốm kia lên lắc lắc, một loạt tiếng xủng xoảng vang lên. “Ừ, chỉ dư không thiếu.”
Kinh Nam tỏ vẻ bất cần nói: “Cầm đi đi, vốn là của ông mà. Cầm rồi cút mau.”
Khổng Gia không nén nổi hiếu kỳ: “Nếu cậu đã có trăm tiền rồi, sao lại không dùng tới vậy? Nom cuộc sống sao vẫn càng lúc càng nghèo thế này? Nhìn cái nồi bể này đi, rỉ cả nước rồi, nếu mà nấu một nồi canh, e là vào đến miệng cũng chỉ còn thừa có nửa.”
Kinh Nam hừ nhẹ rồi nhìn Phạm Lãi: “Trăm tiền đó một xu tôi cũng không đụng tới, nếu đã là chủ ý của ông thì coi như là của ông, tôi không cần.”
Phạm Lãi chầm chậm gật đầu, đặt cái bình gốm đó về lại túp lều tranh, quan sát tình cảnh đáng thương này. “Chỉ có trăm tiền, chẳng là gì với ta cả. Chỉ là, nếu cậu có được trăm tiền này thì chiếu theo giao ước hôm đó, tất nhiên là ta thắng.”
“Vốn dĩ là vậy.” Kinh Nam quét cho một ánh mắt sắc lẹm qua, “Nhưng nói không giữ lời, còn bàn thắng thua gì nữa?”
“Thằng nhãi con này!” Khổng Gian không tài nào nhịn nổi nữa, một tay chống nạnh đứng lên, “Nếu không phải đại nhân nhà ta kịp thời chạy về đây, phương viên trăm dặm quanh đây của các người đã chìm trong chiến hỏa, biến thành bình địa rồi!”
Kinh Nam nhìn về thôn Vĩnh An ở xa xa, không chút dao động. “Thôn đó đã là thế rồi, còn chưa phải bình địa ư?”
“Cậu…”
“Được.” Phạm Lãi ngắt lời hai người, đến trước mặt Kinh Nam, “Trận đánh cược trước đó là ta thất hứa, không kể thắng thua nữa. Vậy cậu có dám đánh cược một trận khác với ta không?”
“Còn cược?!” Lần này Kinh Nam hoàn toàn bốc hỏa, đứng vụt lên giận dữ nói, “Ông có thôi đi chưa? Phạm đại nhân, ông tài giỏi, còn tôi chẳng qua chỉ là một thằng nhóc quê mùa, mỗi ngày chỉ biết chạy ăn từng bữa, có gì thú vị đáng nói đâu, càng không rảnh hoạt náo mua vui cho ông được. Nếu ông rảnh rỗi không có chuyện gì làm muốn tìm trò tiêu khiển, phiền ông tìm người khác đi, đừng phiền tôi nữa!”
Kinh Nam lải nhải không ngừng bên túp lều tranh rách nát, nhưng Phạm Lãi cười cực kỳ hứng thú. Thằng nhóc lạnh tanh này, có thể khiến nó nói một lèo nhiều câu như vậy, sao có thể nói là không thú vị chứ?
Kinh Nam giận bừng bừng nói hết một mạch, Phạm Lãi nhướng mày bỏ ngoài tai cơn giận dữ của nó. “Lần này, chúng ta cược lớn hơn đi.”
“Không cược không cược!” Kinh Nam mất kiên nhẫn xua tay, “Mau đi mau đi, cầm theo trăm tiền của ông đi đi. Tôi nghèo sắp chết rồi, không có cái gì quý giá hơn trăm tiền đó đâu, không chơi với ông được.”
“Ta thấy là có đó.”
“Cái gì?”
Kinh Nam khó hiểu. Ngay cả Khổng Gia cũng đưa ánh mắt nghi hoặc nhìn sang. Thằng nhóc này nghèo đến nổi, nói ai nghèo thì cũng là nghèo bốn vách nhà tranh, chứ thằng nhóc này nghèo đến nổi bốn vách nhà còn chả có. Không đúng, là nghèo đến nỗi chẳng có nhà mới phải. Kể cả trăm tiền thảm hại đó còn là nhờ Phạm Lãi dạy nó kiếm về, trừ cái đó ra, làm gì còn thứ có tí ti giá trị gì chứ?
Phạm Lãi hất cằm, Kinh Nam theo ánh mắt y cúi đầu, nhìn thấy một vật khác đeo bên eo mình bèn lập tức lùi về sau hai bước, nắm chặt nó trong tay, kiên định nói: “Cái này không được.”
Phạm Lãi cười hài lòng: “Cậu xem, cậu trả lại trăm tiền cho ta mà chẳng chớp mắt lấy một lần. Nhưng món đồ kia lại vô cùng khác biệt, cả nhìn cũng không cho ai nhìn lấy một cái. Lẽ nào không chứng minh nó còn quý giá hơn cả trăm tiền ư?”
“Cái này…” Kinh Nam cúi đầu lẩm bẩm, “Cái này, không đáng giá.”
Đây là chiếc trâm nó chính tay khắc cho ranh con, chẳng qua chỉ là một cành lê tiện tay bẻ được trên núi. Tay nghề của nó cũng thô thiển vô cùng, vốn dĩ không đáng một xu. Nhưng mà, cả thôn Vĩnh An đã cháy thành tro bụi, chiếc trâm gỗ này chính là vật duy nhất có mối liên hệ với nó và ranh con.
Nhân lúc Kinh Nam xuất thần, Phạm Lãi hỏi: “Chủ nhân của chiếc trâm này có phải người cậu đang đợi không?”
Kinh Nam không đáp, chỉ nắm chặt chiếc trâm giấu ra sau người, như sợ bị ai đó cướp đi.
Phạm Lãi nhìn khắp bốn bề, lại hỏi: “Cậu với người đó, hẹn gặp nhau dưới cái cây đại thụ này đúng không?”
Kinh Nam vẫn không đáp lời.
“Cậu không muốn theo ta ra đi, là vì lời hứa đó.”
Kinh Nam lại cúi đầu ủ rũ. Bốn tháng rồi. Bất kể nó không cho ai bên cạnh nói nửa câu bi quan suy đoán nhưng tự nó cũng nhịn không được nghĩ, ranh con thật sự có còn quay về nữa chăng? Hoặc là, con bé còn sống chăng?
Phạm Lãi như nhìn thấu tâm can thằng bé, cười nhạt: “Yên tâm, cô bé nhất định còn sống.”
“Thật sao?” Kinh Nam cuối cùng cũng nghiêm túc trả lời Phạm Lãi, “Sao ông biết được?”
Phạm Lãi cười hỏi: “Cậu không tin ta?”
Tin à? Kinh Nam tự hỏi. Người mà vừa rồi nó còn đang mắng thầm trong bụng là không giữ chữ tín, bây giờ đứng trước mặt nó hỏi “Cậu tin ta không”, vậy mà nó lại không có cách nào phủ định ngay được. Bốn tháng nay, lúc nào nó cũng một mình chờ đợi, trên phố chợ những người biết chút ít chuyện thôn Vĩnh An gặp phải cũng đều khuyên nó “đừng về nữa, mau đi chỗ khác mưu sinh đi”. Nhưng xưa nay chưa từng có ai cười dịu dàng với nó, kiên định nói với nó “cô bé còn sống” như Phạm Lãi đây. Như thể trước mặt một người chết đuối bỗng đâu xuất hiện một thanh gỗ nổi, ai còn bận tâm đến cái ‘tin hay không tin’, ai còn bận lòng thanh gỗ kia là thật hay giả.
Kinh Nam vừa kích động vừa tủi thân, còn chưa kịp đáp lời đã nghe Phạm Lãi nói: “Nhưng ước hẹn của hai người, e rằng không có cách nào thực hiện đâu. Cậu không bao giờ chờ được cô bé ở dưới cái cây này.”
“Cái gì?” Kinh Nam khó hiểu.
Phạm Lãi nói: “Đây chính là ván cược hôm nay ta muốn đánh với cậu. Ta cược, sau tối ngày hôm nay, cậu sẽ không có cách nào đợi cô bé ấy dưới táng cây này nữa.”
Kinh Nam trợn trừng mắt, nghiêng đầu nghĩ ngợi rồi mới nói: “Ý ông là muốn trói tôi lại mang đi à?”
Phạm Lãi nhịn không được bật cười: “Ta đang đánh cược, không phải đánh cướp.”
Kinh Nam vừa nghe Phạm Lãi nói đánh cược thì lại lùi về sau hai bước: “Cây trâm này không cho ông được.”
Phạm Lãi bất lực lắc đầu: “Chiếc trâm này với ta mà nói không đáng một đồng, ta không có hứng. Cái ta muốn, chưa bao giờ thay đổi. Nếu ta thắng, cậu đi với ta. Nếu ta thua, cậu cứ mặc sức yêu cầu, ra sao tùy cậu. Thế nào?”
Khổng Gia ghé tới hạ giọng hỏi đại nhân nhà mình rốt cuộc đang có tính toán gì nhưng Phạm Lãi chỉ càng quả quyết mà nhìn Kinh Nam, điệu bộ cực kỳ khiêu khích: “Sao nào, dám cược hay không?”
Cuối cùng, Kinh Nam hừ một tiếng: “Chịu hay không thôi mà. Chứ làm gì có dám hay không dám.”
Hai canh giờ sau.
Trên sườn núi Bắc Sơn có ba người cao cao thấp thấp đang ngồi. Tin hay không tin, chịu hay không chịu, dám hay không dám đều không quan trọng. Kết quả là, cuối cùng Kinh Nam vẫn ngồi ở đây với hai chủ tớ nọ, dõi mắt nhìn thôn Vĩnh An từ trên cao. Phạm Lãi nói, ván cược lần này không cần tới ba ngày, chỉ mấy canh giờ là có thể thấy kết quả.
Từ sau khi thôn Vĩnh An bị đồ sát, Kinh Nam chưa từng tỉ mỉ quan sát nó thế này. Ngày đó nó mau chóng chạy về dưới cây khế, thấy phụ thân đã được mai táng còn ranh con thì không biết đi đâu, bèn gấp gáp chạy về thôn Vĩnh An. Nó tỉ mỉ lật tìm mỗi một ngóc ngách, kiểm tra mỗi một thi thể cháy sém, tròn trĩnh một ngày một đêm. Mãi đến khi chắc chắn ranh con không có trong số này, nó mới thở hồn hển ngã ngồi ra đất. Từ đó về sau, Kinh Nam chưa bao giờ về nữa, ngày nào nếu không trèo qua Bắc sơn đến phố chợ bán cá thì cũng hớt hải chạy về cho kịp, chưa từng liếc mắt nhìn ngôi làng đổ nát này. Không dám nhìn, cũng không nỡ nhìn.
Nhưng mà, thời gian đã trôi qua lâu như vậy rồi, dường như tất cả đều trở nên tĩnh lặng. Hôm nay nhìn lại, ngôi làng hoang phế đó đã không còn bốc từng trận khói đen, cũng không còn ngẫu nhiên truyền ra tiếng nứt vỡ đổ sập ầm ầm nữa, thậm chí ngay cả màu sắc cháy xém cũng nhạt đi ít nhiều. Mọi thứ đều không nặng nề như lúc ban đầu nữa, âm thanh, mùi vị, màu sắc, thậm chí… cả cảm xúc nữa.
Ban đầu nó lòng như lửa đốt đau xé tâm can, mà sự gột rửa của thời gian đã biến bi kịch đó thành nỗi đau sâu kín đè nén tận đáy lòng không muốn nhắc lại nữa, những đau đớn khóc than bất lực ban đầu đều biến thành chán chường lạnh lẽo cả rồi.
Chỉ cần còn sống, mọi thứ đều có thể thay đổi.
Kinh Nam xoay đầu nhìn Phạm Lãi, dưới đám mây âm u, trên thôn làng hoang phế, người đó đều thản nhiên như thường. Chẳng qua mới chỉ gặp mấy lần mà lúc nào Phạm Lãi cũng an định và ung dung như thế. Phần lớn thời gian y đều cười, nụ cười không nhẹ nhàng cũng không hời hợt. Nụ cười của y rất chín chắn, mà đằng sau vẻ chín chắn đó, chính là tự tin. Từ nhỏ đến lớn, Kinh Nam chưa từng gặp qua người tự tin nhường này như Phạm Lãi. Mỗi một câu y nói đều dịu dàng mà chắc nịch, cho dù là chuyện còn chưa xảy đến nhưng khi nói ra cũng phảng phất như một sự thật chắc chắn đã xảy ra.
Trong mắt Kinh Nam, y chính là một câu đố. Tại sao lúc nào y cũng trấn định ung dung như vậy, tại sao y có thể tự tin như vậy, tại sao y có thể liệu việc như thần, lại tại sao lúc nào cũng có thể nhẹ nhàng chẳng chút tốn công mà nhìn thấu được tâm tư người khác? Trước khi gặp Phạm Lãi, Kinh Nam tự hỏi mình cũng đã gặp qua không ít người; người của thôn Vĩnh An, người trên phố chợ. Những người này trong mắt Kinh Nam, bất luận là giàu nghèo quý tiện đều giống hệt như nhau – Là người bình thường. Sống đời bình thường, cuộc sống bình thường, tướng mạo bình thường, nói năng bình thường. Sống hết những ngày bình thường hết mực, sống trọn cuộc đời rất đỗi bình thường.
Nhưng Phạm Lãi khác, sự xuất hiện của Phạm Lãi đã khiến Kinh Nam hiểu ra rằng, trên đời này không phải bất cứ ai cũng bình thường như vậy. Hóa ra còn có một người thế này, khiến mình vừa nhìn một cái liền biết y khác hẳn mọi người.
“Nhìn gì vậy?” Phạm Lãi cảm nhận được ánh mắt của Kinh Nam, không xoay đầu lại mà hỏi, “Có gì muốn hỏi ta à?”
Kinh Nam xấu hổ xoay đầu đi, khẩu thị tâm phi nói: “Có gì đáng hỏi? Tôi chẳng muốn hỏi gì cả.”
“Vậy sao?” Phạm Lãi cười nói, “Những thứ cậu muốn biết, e rằng không ít nhỉ? Ít nhất là cậu muốn biết, tại sao cá này phải bán càng đắt đỏ, điều kiện càng gắt gao mới bán được nhiều.”
“Tại sao?” Kinh Nam xoay đầu hỏi, đúng lúc bắt gặp ánh mắt như trong dự liệu của Phạm Lãi, chỉ đành hậm hực lườm y.
Phạm Lãi cũng không để ý, giải thích: “Bởi vì bình thường cậu bán cá, chẳng qua chỉ là bán cá mà thôi.”
Kinh Nam hết sức hiếu kỳ nhưng khi nói ra miệng lại biến thành: “Hôm đó tôi bán cũng là cá mà, có phải rùa đâu.”
“Phụt ~” Khổng Gia vẫn ở một bên nghe thình lình nhịn không được bật cười.
Phạm Lãi lắc lắc đầu, nói: “Có điều, khi cậu nâng cao giá lên, tăng thêm yêu cầu, cá của cậu đã không còn là cá bình thường nữa.”
“Chứ nó là gì?” Kinh Nam không khỏi truy hỏi.
“Là quyền lợi.” Phạm Lãi nói, “Những giới hạn mà cậu đặt ra khiến cho số cá mà họ có thể mua biến thành quyền lợi chỉ một số ít người mới có. Cá cũng được, tôm cũng được, rùa cũng được. Con người bỏ qua mọi thứ rất dễ, nhưng bỏ qua quyền lợi thì rất khó.”
“Quyền lợi…” Kinh Nam nghiền ngẫm thật kĩ, nghe mà không hiểu rõ lắm.
Phạm Lãi nhẹ nhàng vỗ đầu Kinh Nam, an ủi nó: “Cậu còn nhỏ, không hiểu cũng không sao. Đạo làm ăn, thứ đem ra mua bán tuyệt đối không phải kim tiền.”
Kinh Nam đã không còn chống cự Phạm Lãi nữa, thậm chí còn không chú ý động tác y vỗ đầu mình mà tiếp tục truy hỏi: “Không phải kim tiền, vậy đó là gì?”
“Là lòng người.”
“Lòng người…”
“Không hiểu?” Phạm Lãi cười nói, “Bái ta làm thầy, ta sẽ dạy cậu nhiều hơn.”
Kinh Nam bướng bỉnh ngoẹo dầu qua: “Ai thèm bái người không giữ chữ tín làm thầy.”
Phạm Lãi nhún nhún vai: “Cũng được, ta cũng không nhận người giận hờn mù quáng làm trò.”
“Hừ.” Kinh Nam không phục hỏi, “Ông biết cách làm ăn như vậy, há chẳng phải có rất nhiều tiền ư?”
“Hả?” Lần này đến phiên Phạm Lãi bị nó hỏi cho đứng hình.
Khổng Gia ghé người qua, nắm lấy vai thằng bé, trịnh trọng nghiêm trang lắc đầu cảm thán: “Là hết sức nhiều tiền mới đúng.”
Kinh Nam thừ người, lại hỏi: “Ông có nhiều kim ngân châu báu lắm sao?”
Khổng Gia trả lời: “Là hết sức nhiều kim ngân châu báu.”
“Vậy ông có binh khí lợi hại không?”
Kinh Nam hỏi thế này ngược lại nằm ngoài dự liệu của Khổng Gia. Phạm Lãi hỏi: “Như thế nào mới tính là binh khí lợi hại?”
Kinh Nam bĩu môi: “Tôi cũng không biết. Binh hoang mã loạn này, tóm lại thấy ai cầm binh khí thì có thể diễu võ giương oai. Vạn vật đều có quý tiện, hiển nhiên binh khí cũng phải có.”
“Vậy cũng đúng.” Phạm Lãi chầm chậm gật đầu, “Cậu có hứng thú với binh khí à?”
Kinh Nam gật đầu: “Nhưng tôi không hiểu.”
Phạm Lãi ngẩng đầu nhìn trời nói: “Cũng được, dù sao sắc trời cũng còn sớm, để ta nói với cậu. Cậu có biết, khu vực khác nhau sẽ có các loại binh khí thượng hạng khác nhau không?”
“Khu vực khác nhau?”
“Đúng vậy. Binh khí cực phẩm đương kim thiên hạ không ngoài đao của nước Trịnh, rìu của nước Tống, tước của nước Lỗ, kiếm của Ngô Việt. Không phải ở những nơi đó, không thể có được khí thiên của đất trời nơi đó, thế thì không thể đăng phong tạo cực. Cái đó chính là cái gọi là địa khí.”
“Kiếm của Ngô Việt.” Kinh Nam hỏi: “Bảo kiếm của Ngô Việt lợi hại lắm ư?”
“Luận về đúc kiếm, trên đời không ai có thể đứng cao hơn Ngô Việt.” Phạm Lãi trả lời, “Kiếm của Ngô Việt có thể vang danh thiên hạ là bởi có hai vị kỳ tài đúc kiếm.”
Khổng Gia nghiêm túc nói: “Âu Dã Tử, Can Tương?”
“Chính nó.” Phạm Lãi nói, “Ngô có Can Tương, Việt có Âu Dã Tử, thế nhân đều biết, hai người này cái thế vô song, thành tâm cảm động đất trời, mà thiên hạ xưa nay chưa từng có. Âu Dã Tử từng rèn ra năm thanh bảo kiếm, ba trong số đó là trường kiếm, hai là đoản kiếm, một thanh tên Trạm Lô, thanh thứ hai là Thuần Quân, thanh thứ ba là Thắng Tà, thanh thứ tư tên Ngư Tàng, thanh thứ năm tên Cự Khuyết.”
Kinh Nam nghe đến say mê, ngồi thẳng người dậy, hỏi: “Năm thanh bảo kiếm này lợi hại lắm à?”
“Đương nhiên. Truyền thuyết nói lúc Âu Dã Tử đúc năm thanh bảo kiếm này đã phá núi Xích Cận để lấy thiếc, rút cạn suối Nhược Gia để lấy đồng, thần mưa vẩy nước, lôi công đánh trống, lấy tinh hoa của trời đất, dùng hết tài nghệ cả đời, cuối cùng mới đúc được năm thanh bảo kiếm ấy. Từ đó về sau, núi Xích Cận khép lại, suối Nhược Gia không thấy đáy, gió mưa tinh khí đất trời cũng khó mà tụ hội, năm thanh kiếm này đã trở thành tác phẩm tuyệt thế của Âu Dã Tử. Thế nhân dù có nghiêng thành mà đổi ra vàng cũng khó có được một trong số chúng.”
“Nghiêng thành đổi vàng.” Kinh Nam lẩm bẩm, “Năm thanh bảo kiếm ông vừa nói tôi chưa nghe thấy bao giờ, nhưng tôi có nghe nói thanh Thất Tinh Long Uyên của Ngũ Tư năm đó cũng là một thanh bảo kiếm tuyệt thế.”
“Thất Tinh Long Uyên?” Phạm Lãi vừa nghe thấy bốn chữ này, nụ cười càng bí hiểm sâu xa.
Kinh Nam dò hỏi: “Sao nào? Thất Tinh Long Uyên có thể xưng là tuyệt thế bảo kiếm được không?”
“Bảo kiếm thì hiển nhiên cũng xưng được, nhưng cách hai chữ ‘tuyệt thế’ còn xa lắm.” Phạm Lãi nói, “Cậu có biết, Thất Tinh Long Uyên do ai chế tạo, từ đâu mà có không?”
Kinh Nam lắc đầu: “Những người quê mùa thôn dã như chúng tôi, chẳng qua chỉ nghe được mấy lời đồn linh tinh rải rác, làm sao biết được đầu đuôi gốc ngọn ra sao?”
Khổng Gia lập tức phấn khích nói: “Cái này thì tôi biết! Tương truyền, năm xưa Sở vương triệu Phong Hồ Tử [3] đến, dùng trọng kim mời hai người Âu Dã Tử và Can Tương rèn kiếm. Hai người chung vai đấu cật, rèn ra ba thanh kiếm, một là Long Uyên, thứ đến Thái A, sau là Công Bố.”
“Khá lắm.” Phạm Lãi gật đầu, “Ba thanh kiếm đó vừa thành, nhìn dáng vẻ, Long Uyên như bước lên núi cao, nhìn xuống vực sâu; Thái A sừng sững rạng ngời, như sóng đánh dào dạt; Công Bố từ đốc kiếm hoa văn được khắc, theo sống kiếm hoa văn kéo dài, như chuỗi ngọc liên miên, như dòng nước chảy mãi.”
Kinh Nam hỏi: “Nếu đã là vậy, Thất Tinh Long Uyên cũng có thể xem như bảo kiếm tuyệt thế chứ. Không phải ông nói, năm thanh bảo kiếm mà một mình Âu Dã Tử đúc ra đã có giá trị liên thành rồi à? Vậy thì Long Uyên, Thái A và Công Bố là do Âu Dã Tử và Can Tương hợp tác chế tạo, theo lý phải càng đáng giá hơn mới đúng chứ?”
Phạm Lãi khẽ than: “Ba thanh bảo kiếm này đương nhiên cũng là tinh phẩm. Chỉ là, với Thất Tinh Long Uyên mà nói, lời đồn liên quan đến nó đã che giấu giá trị vốn có của thanh bảo kiếm này.”
Khổng Gia hỏi: “Đại nhân, ngài muốn nói tới lời đồn ai có được Thất Tinh Long Uyên sẽ lấy được bảo vật truyền quốc của Sở vương ư?”
Kinh Nam hỏi: “Bảo vật truyền quốc là gì?”
Khổng Gia cười đắc ý: “Uổng cho cậu là người nước Sở, vậy mà cũng không biết? Người đời đồn đại lúc Sở vương chế tạo kiếm này đã để lại một phần báu vật truyền quốc mà bí mật của bảo tàng đó chính là được giấu trong Thất Tinh Long Uyên, giao cho lịch đại trung thần nước Sở bảo quản. Thế nên năm xưa khi Ngũ Tư thoát Sở, Sở vương đã lệnh phải thề chết truy sát, thứ Sở vương muốn không phải là chính Ngũ Tư mà là thanh kiếm trong tay y đó.” Khổng Gia nói đến đây liền bất đắc dĩ thở dài, “Có điều, từ đó về sau, cho dù người trong thiên hạ đều đổ xô tranh giành Thất Tinh Long Uyên nhưng rốt cuộc nó đang ở nơi nào, nói cho cùng vẫn là một câu đố.”
Kinh Nam hỏi: “Không ai biết Thất Tinh Long Uyên ở đâu ư?”
Khổng Gia lắc đầu: “Mọi người nói một kiểu, không kết luận được.”
Kinh Nam lại hỏi: “Trong Thất Tinh Long Uyên, thật sự có bảo tàng?”
Phạm Lãi cười cười: “Truyền thuyết dẫu sao vẫn chỉ là truyền thuyết, ai nói cho rõ được nguồn gốc bên trong? Nhưng đằng sau truyền thuyết đó là dã tâm của thế lực các phương thì rõ như ban ngày.”
“Dã tâm…”
Kinh Nam vẫn muốn truy hỏi, Khổng Gia lại nói: “Tiểu huynh đệ, nếu cậu đã có hứng thú với bảo kiếm như vậy, cậu nên biết thần binh có một không hai chân chính đương thời mới phải chứ.”
Kinh Nam nghẹn đầy một bụng nghi vấn nhưng cũng vô phương tiếp tục miễn cưỡng truy hỏi, chỉ đành nói: “Ba thanh bảo kiếm vừa rồi các ông nói, lẽ nào không phải thần binh không gì sánh được?”
“Bảo kiếm là bảo kiếm, thần binh là thần binh.” Khổng Gia cố tình ra vẻ thần bí, “Nói đến vua của bảo kiếm đương thời, duy chỉ có Can Tương Mạc Tà [4] thôi. Hai thanh kiếm này là do Can Tương và vợ mình Mạc Tà hợp lực đúc nên, sau khi đúc thành, bèn được đặt theo tên hai người. Hai kiếm đó một âm một dương, dương là Can Tương, âm là Mạc Tà. Dương khắc hoa văn mai rùa, Âm kết cấu không đối xứng.” Khổng Gia thấy Kinh Nam nghe rất nghiêm túc bèn cố ý nói: “Cậu phải biết, vì sao nói Can Tương mạc Tà mới là thần binh chân chính không gì sánh được trên đời? Bởi vì, hai thanh kiếm này… Là dùng người sống luyện ra!”
Khổng Gia nói đến đây thình lình đẩy Kinh Nam một cái toan dọa nó sợ giật mình. Không ngờ rằng Kinh Nam chỉ đờ đẫn ngẩng đầu, thấy hành động ấu trĩ của Khổng Gia liền nói một câu: “Nhạt nhẽo.”
Khổng Gia bối rối cười khan hai tiếng, Phạm Lãi cũng bất lực trợn mắt nhìn y, nói: “Đúng là nhạt nhẽo. Nhưng lúc rèn Can Tương Mạc Tà, đích thực đã cho người sống vào lò mới rèn được.”
Phạm Lãi nói chuyện lúc nào cũng có vẻ đáng tin hơn Khổng Gia rất nhiều. Kinh Nam chau mày hỏi: “Rèn kiếm thôi mà, thành bại khó nói, hà tất phải lấy người sống mà rèn? Bọn họ bắt người khác bỏ vào lò lửa à? Khó tránh quá nhẫn tâm.”
“Là Mạc Tà.” Phạm Lãi nói, “Tương truyền lúc rèn Can Tương và Mạc Tà đã dùng tinh hoa của năm núi, khí thiêng của lục hợp, ngắm trời soi đất, âm dương cùng rọi, nhưng vẫn không nung chảy được tinh khí của vàng. Can Tương suy nghĩ trăm bề không hiểu, Mạc Tà liền nói: “Thần vật hóa thành, ắt phải dùng người mới được. Cái gọi là tinh khí của dương là thần, tinh khí của âm là linh, chuyến này rèn kiếm không thành, ắt phải dùng linh khí phụ trợ.’ Thế là, Mạc Tà cắt tóc tỉa móng, tung mình vào lò lửa. Ba trăm đồng nam đồng nữ thổi lò thêm củi, tinh túy hoàng kim tan chảy mới thành công đúc thành bảo kiếm.”
Nung chảy máu thịt rèn kiếm. Kinh Nam nghe mà sởn da gà, vô cùng chấn động, hỏi: “Vậy hai thanh bảo kiếm đó bây giờ ở đâu?”
Phạm Lãi chậm rãi lắc đầu, “Không biết. Truyền thuyết nói Can Tương Mạc Tà vừa luyện xong, Can Tương xưng Mạc Tà là thiên hạ đệ nhất thần binh, sau đó đem dâng cho Ngô vương. Ngô vương hết sức coi trọng, giữ gìn rất kĩ, người ngoài hoàn toàn không biết được giấu ở nơi nào. Về phần kiếm Can Tương do chính tay Can Tương đeo bên mình làm vật tùy thân, sau khi ông ta chết, kiếm Can Tương chẳng biết lưu lạc nơi nào.”
Phạm Lãi nói đến đây thì có phần thổn thức khó giấu. Kinh Nam cúi đầu, bụng nghĩ bảo kiếm mà phải trả giá bằng mạng sống, cuối cùng lại không thể truyền lại trăm đời mà lại không biết nơi chốn quay về như vậy, thực tiếc lắm thay.
Đương lúc hai người mạnh ai nấy trầm tư mặc tưởng, Khổng Gia vỗ đầu Kinh Nam hỏi: “Nhóc con này, hỏi nhiều chuyện về bảo kiếm thế làm gì? Nhóc biết kiếm pháp chăng? Nói cứ như mình kiếm thuật siêu quần vậy.”
Kinh Nam bực dọc đẩy Khổng Gia ra: “Là đại nhân nhà ông nói muốn truyền bản lĩnh cho tôi, tôi mới tiện miệng hỏi vậy thôi? Còn nữa, hai người nói thần bí huyền hoặc vậy, ai biết đâu là thật đâu là giả chứ?”
“Ha ha, thằng nhóc này…”
Phạm Lãi chen giữa hai người: “Được rồi, thời gian cũng sắp tới, trận đánh cược của chúng ta sắp có kết quả rồi.”
Theo ánh mắt của Phạm Lãi, Kinh Nam bấy giờ mới phát hiện trong lúc hai người nói chuyện, không biết trời đã đen kịt từ lúc nào. Ban ngày mà sắc trời âm u tăm tối, mây trên đỉnh đầu đè nặng khiến người ta không tài nào thở nổi.
Khổng Gia hỏi: “Đại nhân, chúng ta ngồi ở sườn núi đã lâu lắm rồi, rốt cuộc là đợi cái gì ạ?”
Phạm Lãi không đáp. Kinh Nam xem như đã rõ, con người Phạm Lãi này chỉ nói điều mà mình muốn nói, hoàn toàn không cần biết người ta muốn nghe cái gì. Kinh Nam hỏi: “Rồi, ông điểm qua bao nhiêu bảo kiếm như vậy, ông có binh khí nào lợi hại không?”
Phạm Lãi nghe thế liền nhìn nó bằng ánh mắt thâm sâu, tự tin cười nói: “Cuộc đời này của ta, thứ giỏi dùng nhất, không phải là binh khí.”
Từ đó, ba người không nói chuyện phiếm nữa, tất thảy lặng im như thường. Đừng nói Khổng Gia muốn biết bọn họ đang đợi cái gì mà ngay cả Kinh Nam cũng sắp mất kiên nhẫn không kìm chế được. Trận đánh cược kỳ kỳ quái quái này của Phạm Lãi rốt cuộc là nhắm tới cái gì?
Phỏng chừng sắp đến nửa đêm, chợt có cuồng phong thổi tới, gió từ Bắc Sơn thổi về phía mặt sông, đến sườn núi thì cuồn cuộn từng vòng, tạo thành một trận cát bay đá lượn. Kinh Nam mở mắt không nổi nữa bèn giơ tay che mặt, lúc mở mắt ra lần nữa, đất trời một mảnh sáng trưng, dù rằng chỉ trong một sát na mà y hệt ban ngày. Sơn cốc, xóm làng, mặt sông, mọi thứ trước mắt lóe qua không sót thứ nào.
Ầm ầm ~
Đỉnh trời truyền tới một trận sấm dồn.
Kinh Nam không khỏi so đầu rụt cổ, ngồi trên lưng chừng núi, tiếng sấm cứ như ngang ngược giáng xuống đỉnh đầu.
Sét đánh rồi.
Mùa đông giá rét, không ngờ lại có sét.
Dư âm của tiếng sét còn vang vọng trên núi, một ánh chớp khác lại thình lình xuất hiện, liên tiếp đánh ra hai ba cơn sét, đến khi ánh chớp thứ tư lóe lên rất gần bọn họ, Kinh Nam mới thấy hết sức rõ ràng ~ Những đường sáng bạc nối đuôi tụ hợp giữa đất trời, mà trên đường sáng ấy lại chẻ ra thành mấy nhánh. Bây giờ, đường sáng kia đã biến thành những hình thù khó đoán nối đất trời thành một dải liền nhau, song…
Một đầu kia của đường sáng ấy, nối liền với gốc đại thụ nọ.
Chớp lóe trong chớp mắt tan đi mà đêm tối trước mặt vẫn chưa quay trở lại bởi gốc cây đại thụ cao to nhất ấy đã bốc lên một ngọn lửa phừng phừng, như một bó đuốc khổng lồ, sừng sững bên bờ sông.
Kinh Nam lập tức đứng lên, trợn mắt nhìn gốc cây cháy hừng hực ấy. Gốc cây đó, chính là gốc cây bên cạnh túp lều tranh của nó! Kinh Nam bất chấp tất cả ba chân bốn cẳng chạy xuống núi, vừa chạy vừa gào thét gì đó, nhưng tiếng la hét đó đã bị tiếng sét vang lên che mất, nghe cả nó cũng chẳng nghe thấy rõ ràng.
Cái cây cao bị chẻ thành hai nửa, một nửa lớn đã ầm ầm rổ xuống, nửa còn thừa lại chẳng qua chỉ cao ngang hai người, thế lửa chưa tắt, hai nửa cây đại thụ mạnh thanh nào thanh nấy cháy bừng bừng. Đến khi Kinh Nam chạy đến dưới gốc cây, thế lửa đã tràn lan từ sớm. Mấy gốc cây khế dưới cây đại thụ, thêm cả túp lều tranh của nó toàn bộ đều cháy trụi trong ngọn lửa bừng bừng.
Nhất thời Kinh Nam không biết nên phản ứng thế nào, chỉ đờ đẫn mà nhìn như vậy. Đến khi một trận mưa như trút nước rơi xuống, đến khi cơn mưa dập tắt ngọn lửa, đến khi nó chắc chắn, cây khế và túp lều tranh trước mặt toàn bộ đều giống hệt như mọi thứ ở thôn Vĩnh An, cháy thành tro bụi, không còn sinh khí. Đến khi Phạm Lãi và Khổng Gia cũng tới, Khổng Gia bước lên vỗ lên vai nó, nó vẫn hoàn toàn không có phản ứng gì.
Phạm Lãi chỉ lẳng lặng đứng bên cạnh nó, không nói một lời.
Bất thình lình, Kinh Nam bỗng dưng xoay người xông lên túm chặt lấy vạt áo của Phạm Lãi, chất vấn: “Là ông! Ông đã sớm biết đêm nay có sấm sét, sấm sét sẽ đánh trúng cái cây này, thế nên mới cược một ván không đầu không đuôi đó với tôi! Nói cái gì mà tôi không thể nào đợi được người dưới gốc cây này, là vì ông đã biết từ đầu, cái cây này nhất định bị thiêu trụi, đúng không?”
Phạm Lãi từ tốn gật đầu.
“Vậy tại sao ông không nói tôi biết từ đầu?” Hai mắt Kinh Nam đỏ ngầu, “Ông có biết cái cây này, mảnh rừng này, túp lều tranh này, với tôi mà nói có ý nghĩa gì không?!”
“Nói cậu biết để làm gì?” Lần này, Phạm Lãi thu lại nụ cười, nghiêm túc hỏi, “Nếu ta nói cậu biết, cậu có thể làm gì?”
Kinh Nam bị hỏi cho giật mình. Nó không làm gì được. Thậm chí, nếu Phạm Lãi không đến đây, không đưa nó lên sườn núi ngồi ngơ ngác, có khi nó cũng bị sét đánh chết, cháy ra tro rồi.
Ba người đứng nguyên chỗ cũ trầm mặc hồi lâu, Kinh Nam nói: “Ván cược này ông thắng, tôi đi theo ông.”
Phạm Lãi chẳng có chút biểu cảm gì, dường như mọi thứ đều nằm trong dự liệu.
Kinh Nam tìm một khúc gỗ, lật tìm cái bình gốm trong túp lều đổ nát đã cháy trụi, cái bình ấy đã bị đốt ra đen xì, còn tỏa ra mấy luồng khói trắng. “Tôi đi theo ông, nhưng nếu ông đã là người làm ăn, vậy tôi cũng muốn làm một vụ giao dịch với ông. Ông dạy tôi bản lĩnh, là muốn tôi giúp ông làm gì?”
Phạm Lãi quan sát nó bằng ánh mắt đầy thâm ý: “Cậu không muốn nợ ta?”
“Tôi không muốn nợ nần ai cả.”
“Được, giữa hai người chúng ta cứ lấy giao dịch ra mà nói, hai bên tình nguyện, không ai nợ ai.” Phạm Lãi nói, “Nhưng cậu còn nhỏ, tương lai có thể có bản lĩnh lớn chừng nào, có thể làm được những gì cho ta, ta cũng chưa chắc được.”
Kinh Nam đưa chiếc bình gốm cháy đen cho Phạm Lãi: “Thứ đáng giá duy nhất trên người tôi chỉ có mỗi thứ này, bên trong là tiền lần trước ông kiếm giúp cho, tôi trả ông. Tôi biết trăm tiền này với ông mà nói chẳng đáng là gì cả, nhưng, tôi lấy nó làm tín vật, mai này nếu có chỗ nào ông cần dùng tới tôi, cứ đem trăm tiền này tìm tôi, tôi nhất định giúp ông làm cho xong chuyện đó.”
“Được.” Phạm Lãi cầm thanh gỗ mở cái bình gốm ra, lấy ra một đồng tiền trong đó. Y lấy trụy ngọc đeo ở bên eo ra, dùng sợi chỉ cuộn mấy vòng lên văn tiền rồi thắt lại, đeo về bên eo, “Lấy trăm tiền ra thì phiền lắm. Nếu đã là tín vật thì một tiền đây đủ rồi. Ngày sau, nhất định có chỗ dùng tới.”
Phạm Lãi dắt Khổng Gia đi trước một bước, hai người đứng ở cửa núi chờ Kinh Nam. Chuyến này ra đi không biết bao giờ mới quay trở lại, thằng bé hẳn nên tế bái mộ phần cha mình một phen đàng hoàng.
Khổng Gia nhìn một văn tiền trên eo Phạm Lãi, hỏi: “Đại nhân, ngài thật sự hứa hẹn chuyện này với nó hả? Nếu ngài đã quyết định dạy nó, nuôi nó, tâm huyết bỏ ra há kim tiền có thể đo đạc được ư? Chỉ lấy một văn tiền làm hẹn, ngài không sợ sau này nó hối hận chối bay à?”
Phạm Lãi nghịch nghịch trụy ngọc đang móc thêm một văn tiền ấy: “Thằng bé này, vì một lời hứa mà chờ cả nửa năm trời ở một nơi thây chất đầy đồng. Người giữ chữ tín như vậy, ta còn nghi ngờ gì nữa?”
“Vậy cũng đúng.” Khổng Gia gãi gãi đầu, “Tôi cũng lờ mờ cảm thấy, sau này nó sẽ thành một nhân vật này nọ đó.”
Phạm Lãi cười hỏi: “Nói nghe xem.”
“Trông nó nhanh trí lắm, lại thật thà nữa, hơn nữa trông bộ dáng, nó rất có hứng thú với binh khí rồi bảo kiếm, bất luận là học văn hay học võ hẳn đều sẽ có tiền đồ.”
“Bảo kiếm?” Phạm Lãi cười cười lắc đầu, “Nó hỏi vòng vòng vo vo nhiều như vậy, thứ nó thật sự hứng thú chỉ có mỗi Thất Tinh Long Uyên mà thôi.”
“Hả?” Khổng Gia không hiểu, nhưng Kinh Nam đã tới, trơ trọi một mình, không có bất kì hành lý nào cả.
“Đi thôi.” Kinh Nam nói.
Lúc ba người đi đến sườn núi, Kinh Nam nhịn không được xoay đầu nhìn mảnh đất cháy sém dưới chân núi, nghe Khổng Gia hỏi: “Đại nhân, sao ngài biết được hôm nay có sét? Tôi lớn đến từng tuổi này nhưng mới thấy mùa đông có sét lần đầu.”
Phạm Lãi khe khẽ than rằng ~
“Sét xuân không giáng, sét đông khó tàng, chiến tranh loạn lạc nước nhà tan hoang.”
—
[1] Kinh Sở là chỉ toàn bộ vùng Hồ Bắc ngày nay và vùng phụ cận, bây giờ là huyện Hồ Bắc.
[2] Chữ “dịch” trong giao dịch và “nghĩa” trong tình nghĩa đều phát âm là /yi/ nên ban đầu Kinh Nam không hiểu.
[3] Phong Hồ Tử: Là một người chuyên đánh giá và thẩm định kiếm của nước Sở. Câu chuyện Sở vương triệu Phong Hồ Tử đến, mời Âu Dã Tử và Can Tương đúc ra ba thanh kiếm nhắc tới ở đây là chuyện có ghi trong sách cổ.
[4] Can Tương cùng với Mạc Tà là hai danh kiếm thời cổ. Lùi một chút là trong bộ Minh Giới tui đăng, truyện về Băng Huyên và trận so tài kiếm thuật trên thiên đình do kiếm Thái A làm trọng tài cũng có nhắc tới Can Tương, Mạc Tà là hai danh kiếm bị anh em Phi Long Phi Ký sử dụng mà vẫn thua về tay Băng Huyên =)). Tuyến truyện về Băng Huyên, Phi Long, Phi Ký cũng lấy bối cảnh Ngô, Việt Xuân Thu, mặc dù tác giả bảo chỉ giống nhiêu thôi chứ nhân vật, bối cảnh toàn hư cấu.