Sách: Truyền Kỳ Tân Phả
Tác giả: Hồng Hà Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm
Dịch và chú thích: Ngô Lập Chi, Trần Văn Giáp
Hiệu đính và giới thiệu: Hoàng Hữu Yên
NPH/NXB: Nhã Nam / NXB Văn Học
—
Mặc dù nhìn tên Hồng Hà Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm thì chắc hẳn ai cũng biết đây là truyện Việt, hơn nữa còn là vào niên đại xa xưa… À cũng không xa lắm, vào thế kỷ thứ XVIII, thời vua Lê chúa Trịnh, nhưng tại sao ở đây lại có phần dịch thì cần làm rõ bản gốc được viết bằng tiếng Hán (để phân biệt với dịch từ tiếng Nôm). Theo lời giới thiệu đầu sách thì vốn Truyền Kỳ Tân Phả có sáu truyện, nhưng chỉ có bốn truyện được dịch là: Hải khẩu linh từ (Đền thiêng ở cửa bể), Vân Cát thần nữ, An Ấp liệt nữ và Bích Câu kỳ ngộ. Hai truyện Long Hổ Đấu Kỳ và Tùng bách thuyết thoại dù không được dịch nhưng cũng được tóm tắt nội dung trong phần giới thiệu.
Hai trong bốn truyện được dịch, có truyện về bà chúa Liễu Hạnh (Vân Cát thần nữ) và nàng tiên Giáng Kiều (Bích Câu Kỳ Ngộ) là có thể tìm được phiên bản ngắn gọn hơn trong Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện của Phan Kế Bính (được NXB Kim Đồng xuất bản). Xét về niên đại thì Truyền Kỳ Tân Phả có sớm hơn, nhưng Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện lại được giới thiệu là tập hợp các câu truyện lưu truyền trong dân gian và không thấy cụ Phan chú thích hai tích này là do ai sáng tác. Tôi tài thô học thiển lại chưa tìm thêm nguồn khảo cứu nên không chắc được là Đoàn Thị Điểm phóng tác lại từ truyền thuyết dân gian hay tự mình sáng tác, nhưng nhìn chung nếu đọc qua cả hai phiên bản sẽ thấy đại khái nội dung truyện và tình tiết giống nhau, chỉ khác ở chỗ cách kể của nữ sĩ họ Đoàn đúng thật là phong cách kể truyện vì có trình tự lớp lang, tình tiết nối tiếp liên hồi bằng tiểu tiết và đối thoại giữa các nhân vật, còn phiên bản của Phan Kế Bính thực ra giống kiểu liệt kê ý chính. Nhưng túm lại, nếu ai thích tìm hiểu kiểu chỉ cần biết đại khái tình tiết thì đọc phiên bản của cụ Phan mà ai thích đọc kiểu tình tiết truyện kể đàng hoàng thì đọc nữ sĩ họ Đoàn.
Đoàn Thị Điểm hẳn là khá quen thuộc với thế hệ ngày này vì bản dịch Chinh Phụ Ngâm quá ư xuất sắc của bà, thế nên ban đầu tôi khá kỳ vọng quyển này sẽ cho tôi đọc những áng văn thơ xuất sắc không kém gì Chinh Phụ Ngâm. Nhưng vì kỳ vọng quá nên đâm ra tôi hơi thất vọng nhẹ vì thơ văn trong này đúng nhiều, nhiều đến nổi giống như cụ Hoàng Hữu Yên viết trong lời giới thiệu là “các truyện kể nói chung nặng nề. Tác giả nhiều khi nhẹ về kể chuyện, nặng về phô trương kiến thức”, mà vấn đề ở chỗ phô trương nhiều chứ không thực sự ấn tượng. Kể cả dịch giả còn phải chú thích là đã lược bớt bài thơ này thơ nọ trong văn bản gốc bởi vì ý tứ vẫn thế không có gì mới hơn những thứ đã trình bày đằng trước. Và cũng không có bài nào thực sự hay về nội dung, ý cảnh, bút pháp để tôi có cảm giác muốn học thuộc hay muốn đọc đi đọc lại cả. Chưa kể ngoài Bích Câu Kỳ Ngộ do cụ Trần Văn Giáp là có dịch thơ ra thì ba truyện còn lại do cụ Ngô Lập Chi dịch thì đa phần chỉ có dịch nghĩa chứ không dịch thơ, nên cũng thấy bớt hay phần nào. Cơ mà, ai thích thử thách bản thân đem bản gốc ra so rồi dịch lại toàn bộ những bài thơ chưa được dịch trong này có khi lại công đức vô lượng vì nếu dịch hay, không chừng lại giúp nhân rộng độ phổ biến của thơ văn nữ sĩ đến người đời nay, để hậu sinh được một phen hoài cổ.
Còn về nhận xét “câu chuyện phát triển thường thiên về kể sự việc mà thiếu đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật” thì tôi cho rằng đây là đặc trưng của cổ văn, cả kể ta lẫn Tàu. Đọc một số cổ văn của Tàu mà có bản dịch hoặc vẫn được lưu giữ tới ngày nay như Liêu Trai Chí Dị, Huỳnh Song Dị Thảo, Phong Thần Diễn Nghĩa, Đông Chu Liệt Quốc, v.v… hay thậm chí cả tứ đại danh tác của Tàu tôi cũng thấy thiên về tình tiết và cách kể tự sự hơn là đào sâu vào tâm lý nhân vật. Bởi vậy Bướm trắng – quyển tiểu thuyết cuối cùng của Nhất Linh – nghe-đâu đã hứng chịu hai luồng ý kiến khác nhau, có người nói là bước tiến vượt bậc có người coi là bước lùi trong sự nghiệp viết văn của Nhất Linh, mà người coi là bước tiến thì nhấn mạnh yếu tố tâm lý nội tâm chính là điểm sáng vượt bậc của tác phẩm so với các tiểu thuyết đương thời hoặc xa xưa, nên có thể thấy thực ra người xưa viết truyện thực sự không chú trọng miêu tả nội tâm mấy. Có thể nhận ra đặc điểm này ở một số tiểu thuyết sáng tác cùng thời. Cái này có khả năng xuất phát từ văn hóa không xem trọng tính chất cá nhân của cả xã hội ta lẫn Tàu, khi mà nhu cầu tình cảm và lý tưởng cá nhân phần lớn đều bị xóa mờ bởi chủ kiến và lý tưởng tập thể. Thế nên sau đó nhân xưng “tôi” ra đời như một cách khẳng định cái tôi cá nhân tách rời với nhân xưng “ta” trong “chúng ta” mới được thế hệ trăm năm trước hưởng ứng nhiệt tình vì nhân xưng này đánh dấu thời kỳ cá nhân bắt đầu được khẳng định bản sắc. Nên nhìn chung tôi cảm thấy cái này cũng không có gì đáng chê khi phong cách thời đại nó đã là như vậy. Hơn nữa với thực trạng cổ văn nước ta chả có bao nhiêu để hậu sinh mang ra làm tài liệu khảo cứu thì sự hiện diện của Truyền Kỳ Tân Phả thực sự đáng quý với thế hệ hậu sinh như tôi.
Về nội dung thì cả bốn truyện này đều lấy nhân vật nữ làm trung tâm, ca ngợi tài hoa, đạo đức và tấm lòng chung thủy sắt son của người phụ nữ. Truyện đầu tiên – Đền thiêng ở cửa bể – giới thiệu một cung phi dù là phận gái nhưng tư tưởng cốt khi chẳng kém đấng mày râu. Truyện người liệt nữ An Ấp thì ca ngợi tình yêu mãnh liệt của người phụ nữ có chồng đi sứ và chết nơi đất khách. Chồng chết, nàng đau lòng tự tận trọn nghĩa trọn tình. Vân Cát thần nữ và Bích Câu kỳ ngộ lại ca ngợi yêu đương tự do và vai trò của người phụ nữ trong việc khích lệ đấng trượng phu dùi mài kinh sử, tu thân lập nghiệp, cũng có thể coi như thuộc về trào lưu truyền kỳ tiên phàm kết duyên vô cùng phổ biến cả ta lẫn Tàu. Như tiên chúa Liễu Hạnh khi hạ phàm lần hai nối lại duyên tình với kiếp sau của Đào sinh, khi gặp gỡ bèn kết duyên vợ chồng, còn dẫn thêm hai tích của Văn Quân và Hồng Phất:
“Kìa xem như nàng Văn Quân, nàng Hồng Phất, đời sau cũng chẳng ai chê là trái lễ mà chỉ khen là biết yêu tài. Thiếp với lang quân, trên không có cha mẹ, dưới không có thân thích, tri kỷ gặp nhau, một lời như vàng đá, còn cần gì phải mối lái!”
Tích về Trác Văn Quân Hồng Phất Nữ kết duyên đôi lứa với Tư Mã Tương Như và Lý Tịnh đại diện cho tự do yêu đương vượt khỏi lề lối phong kiến kiểu gì, có thể tìm đọc thêm để biết. Nếu so với thời đại thì có thể coi này là tư tưởng ‘cấp tiến’ khi thể hiện tư tưởng khai phóng khá mạnh trong đó tình cảm của người con gái không phải được thể hiện một cách e ấp mà tương đối trực diện và mãnh liệt, mặc dù cái kiểu yêu sống yêu chết thực ra cũng không phù hợp với xã hội thời nay – tức cái thời mà tôi đặt tay lên phím viết cái bài này – thời đại này đã chuyển sang khuynh hướng phụ nữ mạnh mẽ tự yêu lấy chính mình rồi, ờm, nên có khả năng là người thời đại chúng ta đọc cũng không có cảm giác chấn động ngỡ ngàng gì mấy. Nhưng trở lại thời đó, ý tưởng và cách thể hiện này có thể coi là vượt vòng lễ giáo với quá nhiều quy tắc trói buộc đạo đức và tư tưởng phụ nữ. Thế nên giá trị nội dung của tác phẩm, tôi cho rằng nằm ở phương diện giúp hậu sinh hiểu được tư tưởng và quan điểm của người xưa về vị thế và tư tưởng của người phụ nữ, đồng thời thấy được nỗ lực của tác giả trong chuyện cổ vũ khai phóng tư tưởng đương thời như thế nào, hơn là đánh giá cao khía cạnh truyện kể liên hồi biến chuyển, hồi hộp gây cấn. Chả có cái gì gây cấn hồi hộp mà rúng động tam can ở đây cả.
Một trong những điểm tôi đánh giá cao, và cũng là mục đích của tôi khi tìm đọc cổ văn là để đắm mình trong cái lối viết cổ kính đặc trưng bằng biền ngẫu đăng đối của các cụ, song song đó là tiện thể đọc điển tích, bởi đặc trưng của cổ văn chính như Nhượng Tống nói – điển tích nhiều, tình thái ít. Các cụ ngày xưa đã quá quen với điển tích và lối viết này nên các cụ không thấy hiếm lạ, đôi khi không đánh giá cao, chứ hậu sinh như tôi thì rất thích vì ừ, nó không quen thuộc nên thú vị và thứ nữa là có thể vừa đọc vừa học, mở mang kiến thức. Đơn cử đoạn này trong Đền thiêng ở cửa bể:
“Trộm nghĩ, dời củi khỏi bếp gianh giữ cháy trước khi chữa cháy. Dùng dâu ràng cửa tổ phòng mưa trước lúc chưa mưa, vì nhân tình dễ chìm đắm vào sự yên vui, mà thế vận khó lòng giữ được luôn bình trị. Cho nên tiến lời răn hoang đãi, Cao Dao trước hết ngợi khen, ở vào đời thái bình, Giả Nghị đã tâu lời than thở.”
Hoặc đoạn:
“Nước Việt ta nước rộng, binh mạnh, há lại không san phẳng được đất Đồ Bàn, quét sạch hang lỗ của Bồng Nga để rửa cái hố đời Thiệu Khánh hay sao?”
Hoặc đoạn:
“Thiếp trộm nghĩ, rợ Hiếm Doãn ngang tàng quá lắm, từ trước quen thân, rợ Hung Nô kiệt hiệt gớm ghê, đến nay càng tệ. Vì cướp bóc là cái thói thường của man di mà dùng binh không phải bản tâm của vương giả. Nhỏ xíu kia Chiêm Thành, ở mếch nơi hải đảo. Năm xưa kéo quân vào Nhị Thủy nhòm thấy nước ta bất hòa, khi ấy tiếng trống động ngoài biển, chỉ vì lòng dân chưa ổn. Cho nên dám tung đàn ruồi nhặng để múa cỏ có khác nào giơ càng bọ ngựa ngăn bánh xe. Nhưng thánh nhân rộng lượng bao hàm không thèm cùng với chó dê so sánh, và trị đạo trước gốc sau ngọn, xin nghỉ binh cho dân chúng yên hàn, trị cái rắn dùng cái mềm, phục người xa lấy đức. Ngu Bệ múa can vũ, bảy tuần tức khắc Miêu đến chầu, Hạ Cung gẩy sắt cầm, chẵn tháng tự nhiên Hồ quy phục. Đó là thượng sách, xét đoán cho mình.”
Ờm, có mấy câu thôi mà muốn hiểu phải đọc điển tích. Và lối viết đăng đối biền ngẫu đặc trưng của cổ văn như trên chính là lối viết giúp phân biệt với văn xuôi hiện đại của ta đương thời. Viết văn mà muốn tăng tính trang trọng hoài cổ thì hiển nhiên cần học cách dùng biền, viết biền như các cụ mới ra đúng chất. Mà để học được cái chất này thì bắt buộc phải tham khảo cổ văn, ví như sách này, nên dẫu sao tôi vẫn đánh giá cao giá trị tham khảo của nó.
Mặt khác, những truyện này được viết theo lối như trong sách đây thì có thể kém phần hấp dẫn, nhưng nếu lấy làm nền tảng đem đi phóng tác, thêm mắm dặm muối, gia tăng tuyến nhân vật và tình tiết như cách viết tiểu thuyết đương thời, hoặc chuyển thể thành truyện tranh, phim ảnh, chưa hẳn không thể làm nên một tác phẩm dã sử truyền kỳ hấp dẫn, như cách nhà hàng xóm vẫn đang làm với truyền kỳ nước bạn. Tôi thấy nước mình vốn không thiếu chất liệu để làm ra tác phẩm tốt, hiềm nổi những chất liệu này vậy mà ít được đại chúng tiếp cận, hoặc ít được phổ biến rộng rãi cho đại chúng. Ấy thật là điều đáng tiếc.
Dù cá nhân tôi nhận thấy những truyện này thì không thật hấp dẫn, nhưng luôn có giá trị tham khảo nhất định trên phương diện nào đó và có tiềm năng để tạo ra những tác phẩm phái sinh xuất sắc phù hợp với thời đại, giúp người đời sau tìm về các giá trị cũ và hiểu thêm về thế hệ tiền nhân.
A Tĩnh viết –
04.09.2025
