[REVIEW] – PHÙ SINH LỤC KÝ – THẨM PHỤC

CategorIes:

,

By

·

13–20 phút

Sách: PHÙ SINH LỤC KÝ

Tác giả: Thẩm Phục

Đơn vị phát hành : NXB: Tao Đàn | NXB Hội Nhà Văn

Người dịch: Châu Hải Đường

#phusinhlucky #thamphuc #taodan #tanvan #covan

———-

Tôi quyết định mua quyển này vào thời điểm Facebook đang rần rần chuyện Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng nước ta được dịch và xuất bản bên Trung Quốc, đồng thời nhận được kha khá lời khen (mặc dù ngó số lượt đánh giá thì thấy nó cũng chẳng nhiều nhặng gì). Cả hai tác phẩm này có một điểm chung, đó là đều có trích đoạn được đưa vào sách giáo khoa cho học sinh tham khảo. Số Đỏ được đưa vào sách giáo khoa Việt Nam như đại diện cho lối văn tả thực (và châm biếm), lấy chất liệu từ thực tế, phản ánh đời sống xã hội ở một thời điểm cụ thể, còn Phù Sinh Lục Ký thì được đưa vào chương trình sách giáo khoa Trung Quốc như một điển phạm cổ văn, để học sinh Trung Quốc biết cổ văn là gì. Nước bạn đã dịch và đọc tác phẩm sách giáo khoa nước mình thì tôi cũng đọc thử tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa nước bạn cho có cái gọi là có qua có lại.

Phù Sinh Lục Ký thuộc thể tản văn, nên cách viết của tác giả khá là bình dị. Sáu ký trong tác phẩm này không đi theo trình tự thời gian mà đi theo chủ đề, lần lượt kể về mối duyên vợ chồng giữa tác giác và Vân nương (Vui Khuê Phòng – ký 1), thú vui của tác giả lúc rảnh rỗi (Thú Nhàn Tình – ký 2), các bi kịch trong đời mà tác giả gặp phải (Sầu Trắc Trở – ký 3), các nơi mà tác giả đã từng thăm thú (Khoái Lãng Du – ký 4), một lần tác giả theo sứ đoàn đến Lưu Cầu (Trải Trung Sơn – ký 5), và đời sống dưỡng sinh của tác giả (Nhàn Dưỡng Sinh – ký 6). Nghe nói trong ấn bản đầu tiên của Phù Sinh Lục Ký đã bị khuyết mất hai ký 5, 6. Và dù sau này xuất hiện túc bản thì hai ký được bổ sung cũng bị cho là ngụy tác. Chuyện ngụy tác thì bàn sau. Thực ra tôi cũng ưng các ký đầu hơn là hai ký cuối, nhưng không phủ nhận hai ký cuối viết cũng khá hay, chẳng qua là đọc xong bốn ký đầu rồi lại đọc tới hai ký cuối, sẽ có cảm giác có gì đó không khớp lắm.

Trong cổ văn Trung Quốc nhìn chung, một đặc điểm thường thấy và “làm nên” cái chất cổ văn rất đặc trưng cho các tác phẩm này, chính là việc dùng nhiều biền ngẫu, thành ngữ hoặc điển tích. Quả thực, biền trong này rất nhiều, tích cũng không ít. Cổ nhân có thói quen dùng tích để khái quát hay kết luận sự vật, sự việc, nên đọc cổ văn thông thường sẽ biết thêm được lắm tích, hoặc dã phải vắt túi kha khá tích mới đọc hiểu được.

Các đoạn trích được đưa vào sách giáo khoa thuộc ký 2 – Thú Nhàn Tình. Phải nói Thẩm Phục đúng là người có thú vui tao nhã. Khi còn nhỏ thì giam muỗi vào màn, thổi khói rồi tự tưởng tượng thành cảnh bạch hạc thanh vân; ra sân trông cỏ tưởng rừng, trông đá tưởng núi, xem khe đất là khe suối, nhìn sâu kiến tưởng như thú rừng, mặc cho thần trí ngao du. Khi lớn thì lại thích trồng hoa cảnh. Trong ký này viết khá nhiều về cách cắm hoa và thưởng thức.

“Hoa cắm bình, số bông nên lẻ, không nên chẵn. Mỗi bình cắm một loại hoa, chứ không cắm hai thứ. Miệng bình chọn loại to rộng, không dùng loại bình hẹp miệng. Miệng bình lớn thì mới có thể khiến hoa vươn ra thoải mái không bị gò bó. Từ năm, bảy bông, cho tới ba, bốn chục bông, tất phải thành khóm trên miệng bình mà cùng nở rộ. Làm sao cho hoa không được tản mát, cũng không được chen chúc rối loạn, không được dựa vào miệng bình là đẹp, thế gọi là “Cắm giữ phải chặt” vậy. Có bông vươn cao đứng thẳng, có bông bay múa xiên nghiêng, hoa phải cái cao cái thấp, bông nhụy đan xen, tránh mắc lỗi để chồng chất đống như bát đĩa. Lá thì không được rối loạn, cành không được cứng nhắc. Nếu dùng kim để ghim, thì phải che giấu, kim dài thà là bẻ ngắn chứ không được để lộ từng mũi, từng mũi kim ra ngoài cành hoa, thế gọi là “Miệng bình phải thanh” vậy.

[…]

“Hoặc dày hoặc thưa, hoặc ra hoặc vào, tất cả đều ở tâm tinh tế, sao cho đạt họa ý là hay.”

[…]

“Điểm xuyết hoa, đá trong bồn, cảnh nhỏ có thể vẽ tranh, cảnh lớn có thể nhập thần. Pha một ấm trà thơm, tinh thần có thể đắm chìm vào đó được, thì bồn cảnh ấy mới đáng để thưởng ngoạn ở chốn u trai vậy.”

[…]

“Phàm viên đình lầu gác, phòng ốc hành lang, xếp đá làm núi, trồng hoa tạo dáng, lại phải trong lớn thấy nhỏ, trong nhỏ thấy lớn, trong hư có thực, trong thực có hư, hoặc ẩn hoặc lộ, hoặc nông hoặc sâu. […] Trong lớn thấy nhỏ là ở nơi tản mạn thoáng rộng thì trồng thứ trúc lớn nhanh, ken giống mai mau rậm, để làm bình phong ngăn ra. Trong nhỏ thấy lớn là tường ở trong sân nhỏ thì nên tạo hình lồi lõm, lấy màu lục mà trang trí, bắt dây leo bò vào, xếp đá tảng, khắc chữ làm bia đề cảnh, mở cửa sổ ra như trông vách núi, ắt có cảm giác cao vọi vô cùng. Trong hư có thực là ví như hoặc nơi hết non dứt suối, lại ngoặt ra một chỗ sáng sủa rộng rãi, hoặc nơi đặt tủ trong hiên gác, mở ra lại thông sang biệt viện. Trong thực có hư là: ví như làm cửa ở chỗ sân không thông đi đâu được, rối lấy trúc thạch mà ẩn che đi, tưởng như có (cửa) mà thật là không có. Hay, đặt lan can thấp trên đầu giường, tựa như trên đó có đài trông trăng, mà thực thì không có vậy.”

Có vẻ không riêng gì Việt Nam, tiêu chuẩn chọn đoạn trích tác phẩm vào sách giáo khoa của Trung Quốc cũng coi trọng giá trị nghệ thuật và nội dung mà đoạn trích, tác phẩm đó truyền tải. Bởi thế không lạ gì khi Thú Nhàn Tình được chọn đưa vào sách giáo khoa. Không những cách viết là mẫu mực cho thể loại cổ văn, mà nội dung còn khắc họa và thú vui của trí thức đương thời, song song đó còn bồi dưỡng luôn được cảm nhận của học sinh về phương diện thẩm mỹ. Trong khi đó phần Vui Khuê Phòng thì quá thiên về ái tình, sầu trắc trở lại có phần bi thảm. Khoái Lãng Du cũng khắc họa núi sông rất đẹp, nhưng nếu so ra thì Thú Nhàn Tình có giá trị mỹ cảm hơn.

Tuy nhiên, phần hay nhất trong Phù Sinh Lục Ký, theo tôi, có lẽ là mối duyên vợ chồng giữa Thẩm Phục và Vân nương. Các lời tựa, lời bạt của các vị tiền nhân in sau sách cũng chủ yếu là cảm khái mối tình sâu sắc nhưng “ngày vui được chẳng tày gang” này. Xin nhớ cho thời Thẩm Phục sống là thời phong kiến nên không có chuyện chung thủy một vợ một chồng, thậm chí tác giả còn viết về một chuyến đi thăm thuyền hoa và kết duyên với kỹ nữ một cách rất chi là tự nhiên bình thường nữa. Bản thân Vân cũng từng muốn tìm thiếp cho chồng và cuối cùng lại vì việc ấy không thành mà uất ức sinh bệnh – một phần nguyên nhân dẫn đến cái chết của Vân sau này. Bỏ qua việc đó, duyên vợ chồng giữa Thẩm Phục và Vân nương thực sự là mối duyên gắn bó sống chết có nhau, có phúc cùng hưởng có họa cùng chịu, không bao giờ chia lìa cho tới tận khi Vân mất.

Vân là con cậu của Thẩm Phục, có thể nói hai người là chị em họ, biết nhau từ bé. Kể về lần gặp gỡ đầu tiên, tác giả viết:

“Năm tôi mười ba, theo mẹ về quê, hai đứa bé chúng tôi không tị hiềm gì, được thấy văn chương của nhau, tuy khen ngợi tài tứ dung nhan, mà trộm lo mình chẳng dày phúc trạch, nhưng trong lòng tôi luôn thương nhớ khôn nguôi.”

Từ đó xin mẹ đính ước. Tình cảm của tiền nhân có phần kín đáo, nên dù đã đính ước với nhau nhưng vẫn sợ người trêu ghẹo, về sau những lần Thẩm Phục đến chơi thì Vân lại lẫn tránh, cho đến tận đêm tân hôn. Đúng là cũng khá lâu rồi tôi mới thấy xuất hiện lại những thành ngữ như “cử án tề mi” hay “tương kính như tân” để miêu tả mối quan hệ giữa vợ chồng. Truyện lấy bối cảnh phong kiến thời nay gần như đã không còn miêu tả mối quan hệ vợ chồng như vậy nữa. Nhưng mối quan hệ khi mới cưới của Thẩm Phục và Vân thì đúng là phải hai thành ngữ này mới miêu tả chính xác được.

“Ở trong gia đình, có khi gặp nhau nơi ngõ hẹp, chốn buồng không, tất cũng cầm tay nhau hỏi: “Mình đi đâu thế?” mà trong lòng thấp thỏm sợ người ngoài trông thấy. Thực thì chuyện cùng đi cùng ngồi, lúc đầu còn tránh người, lâu rồi mới thấy không còn để ý nữa.”

Tuy ngoài mặt có phần kính cẩn khách sáo, nhưng tình cảm đôi bên rất thắm thiết nồng nàn. Kết hôn được một tháng thì Thẩm Phục phải trở về chỗ thầy thụ nghiệp. Vừa sum hợp đã phải chia tay, khó tránh bồi hồi quyến luyến. Cái cách mà tác giả dùng để diễn đạt tâm trạng quyến luyến đó cũng là kiểu bịn rịn kín đáo thường thấy của cổ nhân.

“Buổi ấy chính mùa đào mận tranh nhau khoe sắc, thế mà tôi chỉ thấy hốt hoảng như chim rừng lạc bầy, trời đất tối sầm một sắc!”

[…]

“Lên thuyền về rồi, càng thấy một khắc tựa năm. Kịp tới nhà, qua chỗ mẹ tôi vấn an xong, liền vội vào buồng, Vân đứng lên đón, cầm tay chửa nói nên lời, mà cả hai hồn phách phiêu diêu như hóa thành mây thành khói,…”

Cả hai vợ chồng đều yêu thích thi từ ca phú nên thường xuyên trao đổi, cùng nhau đọc sách luận cổ, phẩm nguyệt bình hoa. Được khi rảnh rỗi hóng mát trông trăng, cùng nhau đối ẩm. Hai người còn khắc câu “Nguyện sinh sinh thế thế vi phu phụ”, người giữ ấn nổi, người giữ ấn chìm, dùng để viết thư khi qua lại với nhau. Vợ chồng, tìm được người hợp ý mình đã khó, tìm được người hiểu mình càng khó, người đó lại có chung sở thích, cùng mình chia sẻ mọi niềm vui thích trong đời, lại càng hiếm có khó tìm. Nhưng qua lời kể của tác giả, thực sự thấy ông đã tìm được một người tuyệt vời như thế. Bởi vậy khi Vân chết, tác giả mới cảm khái “những đôi vợ chồng trên thế gian, cố nhiên không được coi nhau như kẻ cừu thù, nhưng cũng chớ nên hết mực yêu thương nhau quá đỗi.”, rồi kết bằng câu ngạn ngữ “ân ái phu thê chẳng rốt cùng”.

Vân bị cha chồng hiểu nhầm rồi đuổi đi, hai vợ chồng đều phải dọn ra ngoài. Trong thời điểm cơ cực nhất trong đời, Thẩm Phục mở một gian hàng thư họa mà tiền kiếm được ba ngày chẳng đủ dùng một bữa, Vân dù bệnh nặng vẫn không dám thuốc thang, lại nhận thêu kinh Phật, ra sức làm xong trong thời gian ngắn khiến bệnh càng thêm nặng. “Người bạc mệnh, Phật cũng chẳng thế phát tâm từ bi mà cứu!”. Câu này đọc xong tự nhiên thấy thương cho cả hai người. Vân bệnh nặng, hai vợ chồng dìu dắt nhau đến nhà người quen, bỏ lại hai đứa con nhỏ. Sau khi đến nơi chẳng bao lâu thì Vân qua đời. Có thể nói, ngoài tấm chân tình của người tri kỷ, hoạn nạn không lìa xa nhau, cuộc sống của Thẩm Phục và Vân không hề được hạnh phúc mỹ mãn. Cái viễn cảnh “tìm đất dựng nhà, mua chục mẫu vườn rau, bảo ban tì bộc trồng rau dưa lấy tiền củi gạo, chồng vẽ tranh, vợ thêu thùa, mặc áo vải, ăn cơm rau, mà trọn đời vui thú” không bao giờ đến được. Lời bạt cuối sách của Vương Thao có ví việc này như bị “tạo vật đố kỵ”, nhẽ đúng như thế thật.

Nói đến vấn đề ngụy tác, tình trạng này không hiếm trong cổ văn. Ví dụ như Nam Hoa Kinh của Trang Tử cũng có vài thiên được cho là ngụy tác mà Lâm Tây Trọng (người sưu tầm bản Trung) và Nhượng Tống (người dịch bản Việt) đã có nhiều phân tích trong phần bình luận để chứng minh những thiên đó không phải do Trang Tử viết. Ở đây, trên tiền đề đã có nhiều học giả cho rằng hai ký 5, 6 trong túc bản là ngụy tác, tài thô học thiển như tôi cũng muốn bắt chước cụ Lâm và cụ Tống làm chuyện tương tự: Thử chỉ ra vấn đề nào trong hai thiên 5, 6 của túc bản không khớp với 4 ký chính bản, có thể trở thành nghi điểm cho thấy hai kỳ sau là ngụy tác. Đây chỉ là việc làm cho vui nên cũng không ngại khoe dốt tí.

Trước tiên, phải nói là hai ký 5, 6 cũng được viết rất hay, tuy nhiên nếu nói đó là văn của Thẩm Phục thì có vài chỗ mà hai ký này không khớp với bốn 4 ký đầu – chắc chắn là chính bản. Ví dụ, ở ký 5 khi Thẩm Phục nhắc đến Vân thì lại nhắc là Vân nương và giới thiệu lại Vân nương là vợ mình, trong khi Vân đã được giới thiệu là vợ tác giả ngay phần đầu tiên, các phần sau tác giả chỉ nhắc “ Vân” và mặc định người đọc đều biết Vân là ai. Vì lý do này mà chuyện đột nhiên giới thiệu lại Vân ở phần 5 trở nên rất kỳ lạ. Tiếp đó, khi đọc bốn phần đầu, ta sẽ có cảm giác Thẩm Phục không phải là một người hay khoe chữ theo kiểu đến một nơi nào đó, làm một bài thơ nào đó về nơi ấy thì đều chép lại vào sách. Như trong ký 4 – Khoái Lãng Du, tác giả kể việc mình đi rất nhiều nơi và tả lại cảnh sắc của nơi ấy, nhưng tuyệt nhiên không có một câu một chữ nào là thơ tác giả đề lại để ca ngợi các cảnh sắc này, câu đối duy nhất trong ký này là câu đối được khắc sẵn ở cảnh ấy, không phải của tác giả. Nhưng đột nhiên ở đúng ký thứ 5 thì lại xuất hiện rất nhiều bài thơ mà tác giả nhận là mình sáng tác trong quá trình du hí rồi chép lại. Cái đặc trưng dùng nhiều biền văn, điển tích trong bốn ký đầu cũng khác với cách dùng biền văn, điển tích ở ký 5. Thẩm Phục sử dụng những thứ này rất tự nhiên như việc bình thường chứ không phải kiểu cố ép vào cho nó thành văn. Đơn cử là đoạn Vân giới thiệu một kỹ nữ có tướng mạo tròn trịa mũm mỉm cho Thẩm Phục và nói là thân hình thế này thì có phúc, lúc đó Thẩm Phục chỉ trả lời vợ bằng đúng một câu: “Cái họa Mã Ngôi của Ngọc Hoàn thì phúc ở đâu?” Vâng, chỗ này là dùng điển tích để trả lời đầy đặn chưa hẳn là phúc, nhưng chêm vào cực kỳ tự nhiên không thấy chút gì là gượng ép khoe khoang chữ nghĩa. Những chỗ biền ở 4 ký đầu nếu không phải tả cảnh vật sông suối thì nói lên cảm xúc tự thân, mỗi vế mỗi ý.

Ví dụ như:

“Mỗi khi gió qua sân trúc, trăng hiện song tiêu, trông cảnh nhớ người, mộng hồn điên đảo”.

“Ráng ánh cầu son, khói lồng liễu tối, vừng trăng bạc sắp nhô lên, lửa thuyền chài đầy mặt nước.”

Như tích “cái họa Mã Ngôi của Ngọc Hoàn” cũng chỉ là một tích.

Riêng cái câu: “…Thấy đấy gió thu Kim Cốc, trăng tối Ô Giang, A Phòng cung lạnh, Đồng Tước đài hoang…” dùng hẳn tới bốn tích để nói về cùng một việc “tươi khô có số, được mất khôn lường”. Chẳng phải “điển tích nhiều, tình thái ít” như cụ Nhượng Tống nói về cổ văn sao? Lại nói trong bốn tích này, tôi chỉ biết mỗi cái “A Phòng cung lạnh”, ba tích khác đều phải đi tra mới biết là nhắc đến chuyện gì. Châu Hải Đường vừa là dịch giả vừa là học giả, nên có thể bản thân anh biết quá rõ về các tích này, anh cảm thấy không cần chú thích. Nhưng thực sự với người đọc phổ thông thì mấy tích này mà không chú thì không biết tác giả muốn nói gì. E rằng cái tích quen như “họa Mã Ngôi của Ngọc Hoàn” cũng chưa hẳn tất cả mọi người đều hiểu tại sao lại chêm vào ở đoạn đó.

Cuối cùng, ở phần 3, tác giả nói mình được tặng cho một người thiếp, sau đó là những chuỗi ngày chìm vào một giấc mộng xuân khác, “từ đó rối rối bời bời, lại chẳng biết khi nào thì mộng tỉnh”. Thế nên ở phần 6, người viết nói sau khi Vân mất, mình trở nên thanh tâm quả dục, đoạn tuyệt ái dục… hình như nó sai sai.

Nhưng cho dù hai ký 5, 6 là chính tác hay ngụy tác thì cả 6 ký trong bản Phù Sinh Lục Ký được xuất bản này đều xứng đáng được cầm đọc và thưởng thức như một tản văn mang lại nhiều cảm xúc cũng như tư tưởng và thú chơi tao nhã của người xưa. Nếu Trung Quốc dùng nó để làm ví dụ cho điển phạm cổ văn cho học sinh nước bạn thì nước ta khi đọc cũng có thể xem nó như một điển phạm về phong cách cổ văn nước bạn vậy.

– A Tĩnh viết, 08/05/2022 –

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x