Sách: HUYỀN THUẬT VÀ CÁC ĐẠO SĨ TÂY TẠNG
Tác giả: Alexandra David-Neel
Đơn vị phát hành | NXB: FIRST NEWS | NXB Thế Giới
Người dịch: Nguyên Phong
#review #tamlinh #tongiao #huyenthuatcacdaositaytang #alexandra #davidneel
————–
Đúng như tên sách, nội dung quyển này chủ yếu nói về các huyền thuật và đạo sĩ ở Tây Tạng. Nói như vậy tức là nội dung sách không chỉ đề cập đến những vấn đề liên quan đến Phật giáo Tây Tạng (hay Mật Tông) mà còn mở rộng ra về các “thần thông” và huyền thuật được thực hiện bởi các pháp sư, đạo sĩ.
Tác giả (Alexandra David-Neel) là một phụ nữ người Pháp. Bà đã trải qua mười hai năm sống ở Tây Tạng để tìm hiểu và ghi lại các câu chuyện hoặc trải nghiệm cá nhân của bà liên quan đến huyền thuật ở xứ này. Qua nội dung sách, có thể thấy tác giả chỉ được điểm đạo với một người duy nhất là Gomchen Lachen sau khi vượt qua được thử thách “nhập thất tĩnh tu ba năm” của vị Gomchen này. Câu chuyện này thực ra đã được ghi nhận ở một quyển sách khác là Đường Mây Qua Xứ Tuyết của Lạt Ma Gonvida. Theo nhận định của Lạt Ma Gonvinda, có lẽ Gomchen Lachen quyết định truyền đạo cho một người da trắng như Alexandra David-Neel là vì muốn “mượn tay” bà truyền lại những “di sản”, “khai mở cho thế giới để người khác nhìn thấy kho tàng tâm linh được cất giấu ở Tây Tạng”. Và sự thật chứng minh bà đã làm được điều này bởi nhờ những quyển sách được biên soạn một cách công phu, tỉ mỉ của bà mà thế giới biết đến Tây Tạng một cách đúng đắn và chính xác. Còn về những vị Lạt Ma hay học giả khác được đề cập trong sách Huyền thuật và các đạo sĩ Tây Tạng dường chỉ là những người bà từng tiếp xúc trên cuộc hành trình, bà gặp gỡ và trao đổi học thuật với họ, nhận được một vài câu trả lời cho những vấn đề mà bà thắc mắc. Theo tôi thấy, thực ra những câu trả lời này cũng chỉ tương đối khái quát chứ không hề quá sâu xa, thuộc phạm vi “mật truyền” hay không thể tiết lộ cho người khác. Ví dụ như, trong sách có một chi tiết bà kể muốn được học thần thông lửa tam muội nhưng bị từ chối. Và có vì thấy bà năn nỉ mãi quá phiền phức, một vị trưởng lão đã truyền cho bà một bài chú ngắn. Kết quả mà bà thu nhận được sau khi trì tụng bài chú này trên một đỉnh núi là “cảm giác nóng ran”, không bị cảm lạnh sau khi ngồi tĩnh tọa ngoài trời suốt đêm, chứ thực tế bà không hề được truyền dạy một thứ pháp môn mật truyền như lửa tam muội. Hoặc có một đoạn khác bà kể khi bà muốn đến quan sát một vị pháp sư lập đàn tràng trừ yêu nhưng đã bị các học trò của ông này ngăn cản không cho quan sát vì những pháp môn này là mật truyền. Qua đây có thể thấy, những gì Alexandra David-Neel ghi nhận trong sách có một mức độ khả tín nhất định vì những thứ thuộc mật truyền, bà không được tiếp xúc đến thì bà ghi nhận một cách trung thực sự thật như thế, và những gì bà ghi chép được chỉ là những việc trao đổi học thuật lẫn nhau bình thường, mang tính cách truyền đạt cho thế giới bên ngoài hiểu biết thêm về Tây Tạng trong phạm vi cho phép.
Về nội dung sách, tôi nhận thấy các câu chuyện, sự kiện được nhắc đến trong đây có vẻ như không được sắp xếp theo một bố cục có chủ đích nhằm nhấn mạnh hay truyền tải thông điệp mà tác giả muốn người đọc đón nhận. Ví như chương 1, chương 2, có vẻ như các câu chuyện về huyền thuật được sắp xếp theo thứ tự thời gian ghi nhận của bản thân tác giả. Đan xen vào đó là những lời dạy của các vị Lạt Ma mà tác giả đã gặp và thọ giáo trong cuộc hành trình. Vì được nối tiếp bởi những câu chuyện, sự kiện không mấy có liên quan đến nhau nên có cảm giác nội dung hai chương này khá rời rạc. Chương 3 – Huyền thuật và ma thuật, chương 4 – Các vị tổ Mật Tông, chương 5 – Các bộ môn huyền thuật khác thì có chủ đề cụ thể hơn nên cũng được viết cụ thể và chặt chẽ hơn. Vì những lý do này, cá nhân tôi thấy quyển này giống như một quyển bút ký ghi lại các sự kiện, câu chuyện mà bản thân tác giả muốn ghi lại vào sách và phổ biến nó hơn là một cuốn sách thực sự – có mục tiêu và thông điệp cụ thể muốn truyền tải tới người đọc. Hiển nhiên, thông qua cách ghi chép về những sự kiện huyền bí và những cuộc “phỏng vấn”, “hỏi đáp” với cách pháp sư hay danh sư Tây Tạng, quyển sách này cho người đọc biết và hiểu thêm về các quan điểm của Mật Tông hay “cuộc đời”, “bên kia cửa tử”. Những triết lý này có thể có ích hoặc không, tùy thuộc đánh giá của từng người nên ở đây không bàn thêm. Còn về các huyền thuật, tác giả chỉ trình bày và ghi lại những gì bà chứng kiến, nghe kể, hoặc trải qua – đó là một sự ghi nhận rất đơn thuần chứ không hề có khuynh hướng chứng minh những huyền thuật này là có thật. Tin hay không là ở nơi mỗi người.
Nếu là người đã đọc qua một số sách cùng chủ đề Minh Triết Phương Đông do Nguyên Phong dịch hoặc phóng tác thì sẽ thấy những nội dung trong này thực ra cũng không có gì quá bất ngờ hay mới lạ. Có chăng, bạn sẽ được tác giả trình bày và diễn giải một cách rõ ràng hơn về những huyền thuật ở Tây Tạng mà những quyển sách khác chỉ được nhắc đến hết sức sơ sài. Ví dụ, nếu các quyển sách khác chung chủ đề chỉ đề cập đến việc một số người có thể sử dụng khinh công để di chuyển rất nhanh, hoặc một số người có thể chịu đựng được nhiệt độ giá lạnh âm vài chục độ dù trên người chỉ mặc một chiếc áo mỏng, hay có một chuyện “kỳ quặc” hơn là thầy – trò có thể giao tiếp với nhau qua suy nghĩ dù cách xa cả nghìn cây số, thì trong quyển sách này, tác giả sẽ trình bày một cách cụ thể hơn về phương pháp “luyện” và thực hành các huyền thuật này. Hiển nhiên, những gì được ghi chép trong đây chỉ là ghi chép, nghĩa là tác giả hỏi và nhận được các câu trả lời từ những người được cho là đã luyện thành công các môn này. Giới hạn trong những gì họ có thể trả lời, những việc ghi chép trong này cũng đủ cho người đọc hiểu được quá trình mà những người thực hành phương pháp này phải trải qua và họ đã trải qua như thế nào, còn việc người đọc thực hành theo tất nhiên là không thể. Nhưng dù chỉ giới hạn cụ thể bao nhiêu chi tiết, bạn đọc cũng sẽ có một khái niệm hay cách nhìn tương đối khái quát về các bộ môn huyền thuật này chứ không phải chỉ ghi nhận có những sự việc thần kỳ như thế xảy ra.
Phần tôi thích nhất trong quyển sách này là phần về các vị Tổ Mật Tông. Phần này kể về các vị tổ Tilopa, Naropa, Marpa, Milarepa. Câu chuyện về mỗi một vị Tổ này đều là những tấm gương, mang khá nhiều thông điệp có ý nghĩa cho những người tu hành đời sau học hỏi. Trên con đường tu hành, mỗi vị này đều trải qua rất nhiều gian nan cực nhọc, trải qua những thử thách phi thường mà người bình thường cho là “phi lý”. Thế mới thấy, “con đường tắt” Mật tông này mặc dù giúp người tu hành tiến nhanh hơn trên con đường giải thoát, nhưng chỉ có rất ít người có tố chất đặc biệt, nghị lực và kiên nhẫn bất phàm mới có thể theo được. Lý do tại sao những người thầy Mật tông chỉ “mật truyền” và thu nhận rất ít đệ tử, vì người thầy sẽ là người theo sát sao quá trình học tập của học trò, chỉ dẫn họ từng chút một và giúp đỡ họ vượt qua những nguy nan trong quá trình học. Điều này khác hẳn với con đường học theo từ chương, kinh sách, “chậm mà chắc”, vốn không có nhiều nguy hiểm, chỉ cần kiên trì thì nhất định thành công, vấn đề duy nhất chỉ là con đường này quá dài không phải ai cũng kiên nhẫn theo được.
Mặc dù là một quyển sách ghi nhận về huyền thuật, nhưng tác giả ghi nhận các vị Lạt Ma, các bậc trưởng lão chứng đắc hoàn toàn không hề coi trọng thần thông hay huyền thuật. Đối với họ, thần thông chứng đắc trong quá trình tu hành chỉ là một kết quả tự nhiên và không có gì đáng để tự hào. Để có được thần thông, người tu hành phải trải qua một quá trình cực kỳ gian khổ đòi hỏi nghị lực hết sức phi thường. Với một người tu hành chỉ để cầu thần thông, gian khổ mà họ phải trải qua, kiên trì mà họ phải có được vượt xa thứ mà họ muốn có được là những “thần thông” kia. Thần thông, vốn chỉ là những phương tiện hỗ trợ người tu hành trên con đường đi đến mục tiêu cuối cùng là được giải thoát, không phải là thứ để khoe khoang hay thỏa mãn bản ngã. Điều này được truyền đạt một cách rất hiệu quả và ấn tượng qua câu chuyện của Karma Dorjee trong phần về các danh sư Tây Tạng.
Quan điểm này được thể hiện đơn giản, chuẩn xác qua câu chuyện Đức Phật và các đệ tử sang sông. Một vị đạo sĩ có khả năng phi hành đạp trên mặt nước để sang sông đã nói với Đức Phật rằng ông tốn hai mươi lăm năm để tu được công phu này. Và Đức Phật nói “Tại sao người ta lại phí công sức hai mươi lăm năm để làm cái việc mà một người bình thường chỉ cần bỏ hai xu ra cũng qua được bên kia sông?” Chuyện này có ý nói: thần thông chỉ là phương tiện. Nếu như mục đích chỉ là qua được bên kia sông thì bỏ hai xu đi đò nhanh và hiệu quả gấp nhiều lần việc bỏ mấy chục năm ra luyện thành thứ tuyệt kỹ đạp nước qua sông – vốn chỉ có một tác dụng là làm tăng cái ngã mạn chứ không được tích sự gì.
Thế nên, cho dù nội dung quyển sách này là về huyền thuật, nhưng là một học giả về Phật giáo, tác giả vừa trình bày một cách kĩ lưỡng về huyền thuật Tây Tạng, vừa đan xen những câu chuyện mang tính chất “khuyên răn”, “cải chính” suy nghĩ của người đọc về huyền thuật, để những câu chuyện về huyền thuật chỉ đơn giản là ghi chép một cách khách quan, không hề khuyến khích người đọc tin hay mong cầu tu tập được, thậm chí một vài trường hợp còn mang tính chất “cảnh báo” nguy hiểm của các phương pháp này.
Nói thế thôi chứ quyển này có thể hợp với những người có niềm tin tôn giáo hơn, giúp củng cố hoặc khái quát những khái niệm hoặc hình dung mà bản thân vẫn mù mờ. Còn người đã không tin ngay từ đầu thì khi đọc thấy những thứ viết quá mức sơ lược và khái quát, khéo lại càng cảm thấy khó tin, thậm chí là phi lý, thiếu cơ sở lý luận, hoàn toàn không thuyết phục được họ ấy chứ.
– 27/03/2022 –
