[REVIEW] LẠNH LÙNG – NHẤT LINH

By

·

15–23 phút

Tựa: Lạnh lùng

(thuộc tủ sách Danh tác văn học Việt Nam/Việt Nam danh tác)

Tác giả: Nhất Linh

Nhà phát hành | Nhà xuất bản: Nhà sách Minh Thắng | NXB Văn học

(in theo bản in của NXB Đời Nay, Hà Nội, 1940)

—

Viết tiếp lời tiền nhân…

Trước khi vào đề phải làm rõ: Lạnh lùng là truyện thuộc tủ sách Danh tác văn học Việt Nam, hoặc tủ sách Việt Nam danh tác. Cơ mà tủ sách này có vẻ là kiểu “danh mục” do một bên phát hành tuyển lại, chọn ra chứ không “chính thống” lắm, nên nếu bạn nào đọc truyện thuộc tủ sách này mà tự hỏi lý do tại sao nó được gọi là “danh tác” thì… không cần thiết lắm đâu.

Bài này bảo là viết tiếp lời tiền nhân vì có thể coi như nó là tiếp lời nhận xét về Lạnh lùng của Trương Chính trong tác phẩm Dưới mắt tôi của ông, mà bài đó Trương Chính viết lại cũng có một phần như tranh luận với Trương Tửu. Trương Chính và Trương Tửu là hai nhà phê bình thời tiền chiến mà theo những gì ít ỏi tôi đọc được về hai ông thì cả hai đều có ngòi bút sắc sảo và phê bình không nể mặt ai. Cá nhân tôi tự biết mình không phải cái đinh gì nếu so với hai cụ, chẳng qua chỉ muốn tạo ra một dòng chảy của những góc nhìn nối tiếp nhau giữa các thế hệ và như thế thì khó tránh nhắc đến hai cụ trong bài này nên mới có phần lớn giọng rứa thôi.

Kể ra thì nội dung của Lạnh lùng khá đơn giản và viết về một vấn đề nổi cộm thời đó – cái thời buổi giao thoa giữa xã hội cũ và mới, giữa xã hội nặng nề nào lễ giáo, nào hủ tục, nào một người vì mọi người và một tư tưởng “tân thời” hơn lấy con người là trung tâm, con người được tự do theo đuổi hạnh phúc của riêng mình mà không phải hi sinh vì bất cứ người nào đem giáo điều, hiếu đễ ra mà ràng buộc họ. Nhung – nhân vật chính của truyện – đã phải ở góa khi tuổi đời còn rất trẻ, nàng cũng có những khao khát yêu thương rất bình thường như bao người con gái khác nhưng chỉ vì giữ lại tiếng thơm cho gia đình mình, tiếng thơm cho gia đình chồng và tiếng thơm cho chính bản thân mình mà phải sống cuộc đời nàng cho là “giả dối” khi nàng yêu Nghĩa – một ông giáo dạy tư ở nhà chồng nàng mà chỉ dám lén lút vụng trộm chứ không dám công khai đến với nhau.

Nhung đã sống trong sự giằng xé của việc sống một cách giả dối dể giữ tiếng tăm hay sống thật với chính mình và vứt luôn cái danh dự hão huyền ấy đi và cuối cùng nàng chọn sống giả dối để giữ được cái danh thơm cho mình, cho nhà mẹ và cho nhà chồng.

“Thà rằng để mọi người biết cái tiếng xấu của mình còn hơn là xấu thật mà đánh lừa người ta.”

Ở cuối truyện, “Nhung thấy hiện ra rõ ràng trước mắt bốn chữ: Tiết hạnh khả phong.”

“Cùng với hai hàm răng long, mái tóc bạc, cái phần thưởng quý hóa ấy sẽ đến để kết liễu đời nàng, đời một người đàn bà góa trẻ, ở vậy thờ chồng, giữ được vẹn toàn tiếng thơm.”

Nàng sống cho cái tiếng thơm đó, chết cho cái tiếng thơm đó, suốt đời bị cái gông xiềng lễ giáo, danh dự siết chặt lấy cổ nàng, đeo đẳng đến ngột ngạt, làm nàng như nghẹt thở mà nàng không dám dứt ra.

Khi phê bình, Trương Chính nói đây là một mũi tên độc bắn thẳng vào “Khổng giáo”, vì cho người đọc thấy cái sự áp bức con người của luân lý, cái sự giả dối của đạo đức, cái sự hão huyền của danh dự được tôn vinh trong xã hội cũ đồng thời tạo động lực khuyến khích con người sống tự do theo nguyện vọng của mình và gây dựng gia đình một cách chính đáng – đây là một việc làm nhân đạo. Tôi từng viết một bài lấy đúng bốn chữ “Tiết hạnh khả phong” ra bàn với nhiều trích dẫn dài thườn thượt chỉ để chứng tỏ đạo của cụ Khổng không hề cấm gái góa lấy chồng, việc đòi phụ nữ phải thủ tiết thờ chồng có vẻ như là một sản phẩm của người đời sau, khi Tống nho, Hán nho phục hưng lại triết lý của đạo Khổng nhưng lại diễn giải nó theo cách của mình; và trong xã hội phu quyền phụ quyền, cánh mày râu vì muốn đàn áp phái nữ và đòi hỏi họ sự phục tùng tuyệt đối mà hoặc diễn giải, hoặc bôi thêm nhiều thứ giáo điều nhân danh luân lý đạo đức, dẫn sai-hiểu sai lời tiền nhân hòng mượn tiếng tiền nhân đẩy nó lên thành chuẩn mực luân lý mới, gây ra nhiều điều bất công với phái nữ trong xã hội cũ. Nước ta “ngàn năm Bắc thuộc”, hẳn cũng chịu chung số phận bị áp đặt lễ giáo “phong kiến” tương tự Trung Quốc. Nhượng Tống – người cùng thời với Trương Chính, Trương Tửu – từng bình trong một truyện nội dung tương tự trong bản dịch của ông rằng “Luân lý Á Đông không cấm gái góa lấy chồng”. Nghĩa là không phải ai cũng có cái hiểu lầm về tiết hạnh áp đặt lên đầu phụ nữ và kể cả những người cùng thời với nhau cũng đã có những nhận định khác nhau. Tôi không phủ nhận cái khắc nghiệt của xã hội cũ mà các cụ nhà ta buổi giao thời – bao gồm cả Nhất Linh qua hai truyện ngắn Lạnh lùng và Đoạn tuyệt – nêu ra nhưng khi đã lên án, kết án thì nên đúng người, đúng việc. Cứ đổ hết những lễ giáo hà khắc, cay nghiệt cho Khổng tử hay Khổng giáo thì đúng oan.

Trương Chính bất đồng quan điểm với Trương Tửu khi Trương Tửu cho rằng Lạnh lùng chủ trương đề cao phát triển xác thịt và cần phải bị lên án, các bậc phụ huynh nên cấm con đọc Lạnh lùng để khỏi bị sự phóng đãng quyến rũ, thay vào đó Trương Chính cho rằng những tình tiết về cái tình yêu tự do và “giải phóng” bản thân của nàng là cần thiết thể hiện Nhung đã “giác ngộ” khi nhận ra đàn bà bị ép phải trở nên khốn nạn như thế chỉ vì giữ được cái tiếng thơm. Nhằm mục đích thể hiện nỗi đau, sự dằn xé và làm người đọc đồng cảm với nhân vật, từ đó thay đổi tư tưởng và dám bứt phá bản thân khỏi gông cùm xiềng xích của lễ giáo phong kiến thì đó là sự thành công của Nhất Linh, cũng là sự nhân đạo của Nhất Linh. Về điểm này thì tôi hoàn toàn đồng ý với cụ Trương Chính.

Bản thân đề tài của Lạnh lùng và giá trị, ý nghĩa, tính cấp thiết của thời đại cần cho ra đời một tác phẩm như vậy thiết nghĩ không cần phải bàn nhiều vì nó vốn từng được bàn quá nhiều. Phần sau này tôi chỉ muốn bàn thêm về bút lực của Nhất Linh.

Tác phẩm đầu tiên tôi đọc của Nhất Linh lại là quyển tiểu thuyết cuối cùng trong sự nghiệp của ông – Bướm Trắng. Và phải đến khi đọc các tiểu thuyết trước đó, mới hiểu tại sao Bướm Trắng gây ra một làn sóng tranh luận dữ dội giữa việc nó là bước tiến hay là bước lùi trong sự nghiệp văn chương của Nhất Linh. Người cho rằng đó là bước tiến thì bảo đây là tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam khai thác khía cạnh tâm lý nhân vật một cách có chiều sâu và bóc tách lớp lang, còn người cho rằng là bước lùi thì đơn giản là… thấy văn nó dở hơn. Bảo là đến khi đọc những quyển trước của Nhất Linh mới hiểu lý do có cuộc tranh luận này vì quả thật đọc xong sẽ thấy văn phong giữa Bướm Trắng với những quyển trước của Nhất Linh khác nhau nhiều lắm. Nhất Linh – với tư cách là người sáng lập Tự Lực Văn Đoàn và là cây bút chính, việc Nhất Linh viết văn hay chắc là chuyện không phải bàn. Qua Lạnh Lùng thì cái tài hoa của Nhất Linh, không phải nằm ở chỗ văn chương bay bổng hay con chữ đẹp đẽ gì – thứ mà tôi hoàn toàn không thấy ở Nhất Linh, cái tài của Nhất Linh không ở hình thức lộ liễu vốn có khả năng đẩy người viết sa vào tình trạng rỗng tuếch đó – mà nằm ở chỗ dùng những tiểu tiết rất nhỏ để diễn đạt hiện trạng một cách rất tinh tế.

Ví dụ đoạn này, Nhung cảm tưởng như Nghĩa thích mình mà lại vô phương xác nhận, nên từng cử chỉ đều nhằm nghe ngóng, rồi lại muốn mình thật xinh đẹp trước mặt người ta nhưng cũng không thể để mọi người chú ý. Hai người nói chuyện như nói cho người ngoài nghe nhưng chủ đích là nói cho nhau nghe. Cái cảm giác yêu thầm lén lút đó, cả người ngoài đọc vào mà còn rạo rực.

“Chiều mát, nàng ra đứng tựa cửa hóng gió, mải cúi mặt ngắm mấy chậu lan. Lúc ngửng lên, Nhung thấy ông giáo đứng ở hiên bên kia đương đăm đăm nhìn mình. Nhung không sao quên được vẻ hai con mắt ông giáo nhìn nàng lúc đó, tuy ở góa đã lâu, chung quanh lúc nào cũng có người săn đón mà không lần nào nàng thấy mình cảm động một cách mãnh liệt như thế.”

“Hòa nghe buồng bên nói chuyện ông giáo chưa về nên bảo Nhung:

– Ông Nghĩa chưa về, nhưng không biết nhà tôi có mời các ông ấy ăn cơm trước hay không? Ông Nghĩa về ăn cơm sau cũng được.

Nhung thẫn thờ đáp:

– Họ đương ăn bên ấy. Đợi làm gì?

Thấy mọi người nói đến Nghĩa một cách coi thường, nàng cũng cố làm ra như vậy. Vừa lúc đó, Nghĩa đi ngang qua ngoài hiên. Hòa vui vẻ nói:

– Kìa! Ông Nghĩa đã về. Vừa nói đến ông ấy xong…

Câu nói tự nhiên của Hòa như diễn hộ Nhung cái mừng thấy Nghĩa về. Nàng thì nàng không thể nào thốt ra được một câu như thế. Nghĩa quay đầu lại và tình cờ nhìn ngay vào chỗ Nhung ngồi.

Nhung thấy cái cảm giác lẻ loi biến đâu mất. Nhìn các chị em ngồi quanh mâm nói chuyện vui vẻ, không nghĩ gì đến ý nghĩa của một bữa cỗ giỗ.

Muốn tránh nỗi lo sợ về mai sau, Nhung đành tự lừa dối mình, chỉ nghĩ đến những phút thần tiên của hiện tại. Nàng cho rằng không bao giờ có sự thay đổi. Nàng tưởng tượng Nghĩa suốt đời ở cạnh nàng, rồi hai người cứ yêu nhau một cách kín đáo như bây giờ, mãi mãi.

Nhung gọi con lại, cúi đầu vuốt ve tóc con. Nàng nhấc mũi giầy lên ấn xuống, muốn đứng dậy đi ngay chỗ khác, nhưng vẫn ngồi yên đấy. Tuy lúc đó, Nghĩa đương nhìn bao diêm mà nàng tưởng như Nghĩa nhìn nàng. Nhung không dám cử động chân tay sợ người ta nhận rõ cái bối rối của mình, nhưng nàng cũng không muốn ngồi yên, vì càng ngồi yên Nhung càng thấy mình không có vẻ tự nhiên và càng khó giữ nổi những ngón tay nàng rung rung trên nền áo.

Trời bắt đầu lấm tấm mưa. Nhung chạy vội về nhà, một tay để lên trán che những giọt nước mưa khỏi rơi vào mặt. Đi hết rặng duối, Nhung quặt sang con đường nhỏ hẹp để về ngõ nhà, Bỗng nàng chậm bước lại vì thấy Nghĩa đứng ở cổng. Nàng đoán là Nghĩa ra đấy cốt đợi mình về để được nhìn mặt.

Hai người cùng nghĩ ngay đế Ngưu Lang và Chức Nữ. Nhung đoán Nghĩa đang nhìn mình: nàng rút khăn chấm những giọt mưa đọng trên tóc, trên má rồi thong thả quay lại. Hai người lặng lẽ nhìn nhau. Nhung không hiểu sao lúc đó mình bạo dạn đến có thể nhìn vào mặt Nghĩa lâu được như vậy. Song đến khi chàng bắt đầu chớp mắt nhìn nàng, nàng cũng bắt đầu thấy thẹn, thẹn một cách lạ thường. Hai má nàng bừng nóng và quả tim nàng như ngừng đập, Nàng quay mặt đi, rồi cắm đầu bước xuống vườn mê man quên cả mưa, đi vội vã như người đi trốn.

Nhung gượng nhẹ đặt bát nước lên ban thờ và rút hương châm đốt. Mắt nàng lúc nào cũng cúi xuống, vì nàng không muốn thấy ảnh chồng trong lúc nàng biết Nghĩa đương nhìn theo ngắm nghía mình

Ngoài nhà đã lên đèn. Nhung gượng nhẹ xếp đặt mấy cái cốc chung quanh rìa bàn. Trên tay nàng, ánh đèn xanh chiếu xuống vành cốc thủy tinh trong làm lấp lánh những tia sáng. Nhung tránh sang một bên đứng lẩn trong bóng cái bình hoa đặt cạnh đèn để được tự do nhìn Nghĩa.

Thấy Nghĩa đương mải nói chuyện với Lịch, Nhung cất tiếng khen mấy bông hoa cắm trong bình: cốt ý của nàng là để Nghĩa trông đến mình.

Bình hoa vừa cất khỏi, Nghĩa thấy gian phòng bỗng rực rỡ lạ thường và trên nền bức tường mờ tối, khuôn mặt của Nhung hiện ra, diễm lệ, tươi sáng và hai con mắt đen lóng lánh nhìn chàng.

Nghĩa nhấc cốc rượu, đặt sát môi như mời thầm Nhung rồi uống một hớp nhỏ, khẽ nói:

– Uống đến đâu thấy trong người ấm áp đến đấy.

Nhung đứng dừng lại bên cạnh chỗ cắm cờ, đưa mắt nhìn vòng một lượt khắp sân chùa để tìm Nghĩa. Lúc nãy khi nàng sắm sửa ra chùa xem đúc chuông với bà Án, nàng thấy Nghĩa hấp tấp mặc áo đi trước. Không thấy Nghĩa đâu, Nhung lách đám đông người xuống nhà trai: nàng khó chịu không được thấy mặt Nghĩa trong khi biết Nghĩa đương đứng ở một góc nào đó nhìn theo mình, không bỏ sót một cử chỉ.

Biết vậy, Nhung càng thấy ngượng mỗi khi đi đứng ở chỗ nào vắng người, nàng tìm đám đông len lách để cho dáng điệu được dễ tự nhiên.

Nhung bước lên thềm và vừa lúc đó nàng trông thấy Nghĩa đứng ở cạnh gốc một cây ngâu, trên con đường đi sang đền Mẫu. Nàng ngừng lại nhìn Nghĩa một lúc lâu như cố tỏ cho chàng biết rằng nàng có ý tìm mãi bây giờ mới được thấy mặt.

Từng cử chỉ nhỏ nhặt của Nhung đối với Nghĩa hay Nghĩa đối với Nhung khi mối tình vừa chớm nở trong lòng, vừa muốn gặp lại không muốn gặp, vừa muốn người ta biết lại không muốn người ta biết được mô tả, vừa e ấp bẽn lẽn ngại ngùng vừa có cái rạo rực của một mầm tình ấp ủ chờ đúng lúc cháy lên mạnh mẽ. Phải là người tinh tế mới nhạy bén với ý nghĩa của từng cử chỉ nhỏ nhặt mới truyền đến cho người đọc cái cảm giác yêu đương vừa mãnh liệt vừa tinh tế hệt như hai nhân vật trong truyện thế này đây.

Và mặc dù tôi đồng ý với cụ Trương Chính rằng, khi để Nhung “ăn nằm” với Nghĩa trước khi cưới xin đàng hoàng đã khiến cái danh thơm mà Nhung được hưởng sau đó trở thành mỉa mai chua chát. Song song đó, tôi cho rằng Trương Chính đã dùng một cái đầu rất lạnh để phán ra câu nếu không chống lại được cái luân lý lễ giáo mà Nhung bị áp đặt thì việc nàng phải đoạn tuyệt với Nghĩa là cái giá mà Nhung phải trả cho sự thiếu quyết đoán của mình – một cách nhìn mà chính tôi cũng thường dùng khi xét đến những trường hợp băn khoăn đứng giữa ngã ba đường của người khác, tôi cũng là người cho rằng quyết định nào cũng có cái giá của nó mà bản thân mình bắt buộc phải chịu sau khi suy nghĩ thấu đáo. Nhìn chung làm người không thể cái gì cũng muốn được. Tương tự với Trương Chính, tôi cũng cho rằng cái mỉa mai chua chát này có tác dụng thức tỉnh người đọc đả phá luân lý xã hội cũ rích không cho con người được sống thật với mình. Nhưng bên cạnh đó, cái tôi đề cao hơn ở cách xây dựng tình tiết này chính là lời nhắc nhở con người phải biết tự hổ thẹn.

Thử hỏi, nếu Nhung không biết hổ thẹn, làm sao nàng thấy mỉa mai với cái danh thơm là “một người đàn bà chuyên chính thủ tiết cho chồng suốt cuộc đời, ôm tấm bảng sơn son thếp vàng với bốn chữ “Tiết hạnh khả phong” mà chết”? Nếu Nhung không biết hổ thẹn, ắt nàng sẽ lấy làm tự hào vì mình đã thực hiện được một cú lừa trót lọt cả thảy thế nhân rằng nàng là một người đàn bà đoan chính trong khi vẫn tự do tư tình với tình nhân. Là một người biết hổ thẹn, càng nghe người ta khen cái phẩm hạnh của nàng, Nhung lại càng thêm dằn vặt dày xéo. Bởi: nàng có tốt đẹp như người ta khen đâu. Và lời khen cho một hành vi giả dối không hề làm nàng thấy sung sướng mà trái lại, hành hạ lương tri nàng từng phút từng giây, nhắc nhở Nhung về phẩm hạnh “đáng khinh khi” của mình. Và khi Nhất Linh cho Nhung và Nghĩa ăn nằm với nhau mà không cho Nhung “trả cái giá” không thể đến với người yêu khi không tự phá vỡ được gông cùm luân lý nó mới đạt được tới hiệu quả để nhân vật hổ thẹn, và cũng để người đọc hổ thẹn thay cho nhân vật này – Đặc biệt là đọc giả thời đó, hẳn không ít người cũng rơi vào tình cảnh như Nhung. Khi cảm thấy hổ thẹn mà không thể thay đổi cái nhìn của xã hội và những áp đặt lên mình, người ta mới nghĩ đến chuyện phá cho tan nát cái luân lý xã hội ấy đi. Nghĩa là thực hiện hành vi thay đổi thiết chế xã hội.

Bà Án – mẹ chồng Nhung – chính là một đối trọng cho đối tượng không thấy thẹn. Bà thừa biết con dâu mình mỗi lần ra ngoài lâu là mỗi lần đi hẹn với nhân tình, nhưng sau khi bóng gió rầy la một trận làm Nhung hổ thẹn ê chề mà không làm Nhung dứt được mối tình vụng trộm với nghĩa, bà Án đã chọn cách che giấu giùm Nhung, vờ như không biết và còn tìm một việc cho Nhung lấy làm cớ để ra ngoài. Bởi bà biết, Nhung mà bị dồn vào bước đường cùng, nàng sẽ phanh phui cái sự thật vụng trộm này ra. Khi đó, không phải chỉ mình Nhung mất mặt mà bà cũng mất mặt. Thế là bà chọn cách sống giả dối, vừa đánh bóng cái tên tuổi trung trinh tiết liệt của Nhung để giữ lấy tiếng thơm cho cả gia đình mình vừa dung túng cho Nhung làm nhơ nhuốc cái danh trung trinh tiết liệt đó – Miễn là người ta không biết.

Qua đây, cái nhân văn của Nhất Linh còn nằm ở chỗ nhắc nhở người đọc phải biết tự thẹn khi phải sống một cuộc đời giả dối trong ngoài bất nhất.

Sống, là phải ngẩng cho cao đầu.

Mà muốn ngẩng cho cao đầu, không để mình gây ra hành vi nào khiến mình tự thẹn với lương tâm, thì phải can đảm đấu tranh sửa lại giá trị quan của xã hội về luân lý mới được. Đây hẳn cũng là cái mà Nhất Linh muốn làm.

So ra thì tôi thích phong cách này của Nhất Linh hơn là phong cách đào sâu tâm lý lớp lang trong Bướm Trắng, bởi tâm lý con người đôi khi thể hiện qua cách hành động chi li tiểu tiết nó lại chân thực và tinh tế hơn những diễn giải tâm lý qua đối thoại nội tâm. Đối thoại nội tâm của một người nhiều khi lùng bùng rối rắm đến nỗi nó còn giả hơn cả những hành vi trong vô thức của họ nữa.

A Tĩnh viết,

23.04.2026

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x