[REVIEW] ĐOẠN TUYỆT – NHẤT LINH

By

·

16–23 phút

Tựa: Đoạn tuyệt

(thuộc tủ sách Danh tác văn học Việt Nam/Việt Nam danh tác)

Tác giả: Nhất Linh

Nhà phát hành | Nhà xuất bản: Nhà sách Minh Thắng | NXB Văn học

—

(Lại) Tiếp lời tiền nhân…

Trương Chính trong Dưới mắt tôi cho rằng Nhất Linh viết Đoạn tuyệt là để kết án một chế độ cũ, dựng nên một chế độ mới hòng tái thiết một xã hội vững vàng. Có thể nói đây không những là chủ đề của quyển tiểu thuyết này mà còn là chủ đề thời đại ngày đó, đáng để được bàn sâu. Nhưng trước khi bàn đến khía cạnh đó thì phải nói về chính Đoạn tuyệt cái đã.

Nội dung của Đoạn tuyệt thực ra khá đơn giản. Chuyện kể về một cô gái “tân thời”, tức là kiểu được học ở trường Tây, theo hệ tư tưởng mới “văn minh, tiến bộ” mà bốn chữ “văn minh”, “tiến bộ” này có thể được nhắc đến theo cả hai khía cạnh là một lời khen hay một lời bóng gió chế giễu. Nàng yêu một anh chàng tên Dũng, nhưng anh này đã “bị gia đình từ mặt” cũng bởi anh có những lý tưởng vượt khỏi khuôn phép “truyền thống”. Loan và Dũng yêu nhau nhưng không dám bày tỏ, trong khi Loan được gia đình hứa gả cho một nhà giàu có – được coi là thế lực đại diện cho gông cùm xiềng xích con người của chế độ xã hội cũ. Xuyên suốt câu chuyện là sự giằng xé giữa giá trị cũ và mới từ hành động và tư tưởng của nhân vật chính là Loan và gia đình chồng cho đến dư luận chia hai luồng ý kiến ủng hộ hay bài trừ các giá trị tư tưởng mới này. Nói chung là một quyển tiểu thuyết khá là tiêu biểu về xung đột giá trị xã hội đương thời nhưng với con mắt người hiện đại thì sẽ thấy nó hơi cũ và rập khuôn. Điểm này có thể gác lại vì phải đặt nó vào bối cảnh sáng tác là trăm năm trước, dù không mang giá trị tư tưởng vượt thời gian nhưng có thể khắc họa tình hình xã hội và có giá trị lịch sử nhất định.

Đả cựu nghênh tân hay thủ cựu bài tân vốn luôn là câu hỏi nhức nhối trong buổi giao thời giữa các chế độ xã hội, khi một chỉnh thể xã hội đi đến bước cần phải chọn có tiếp tục duy trì ảnh hưởng hiện có hay loại bỏ nó và thay bằng một ảnh hưởng khác, mới hơn, nhưng chắc chắn khiến xã hội rối reng hơn bởi nó sẽ khởi đầu cho một quá trình xung đột. Xung đột này không những được thể hiện xuyên suốt Đoạn tuyệt bởi những nhân vật đại diện cho các “phe phái” khác nhau, từ dàn chính đến dàn phụ mà có vẻ như còn gây ra cuộc hỗn chiến ngoài đời thật mà theo Trương Chính viết là câu chuyện bị phản đối bởi “mấy nhà đạo đức cổ, không hiểu những nguyện vọng; những nhu cầu mới của những người mới và không chịu nhìn nhận sự tiến bộ của nhân loại”. Hiển nhiên, Nhất Linh và Trương Chính thuộc trường phái ủng hộ đả cựu nghênh tân, tức là ủng hộ cái tôi cá nhân và phá bỏ những nề nếp xã hội hiện có – xem gia đình là căn bản của xã hội – trong khi phe thủ cựu bài tân thì cho rằng đây là tư tưởng của những cái đầu “lãng mạn trái mùa, non nớt, cạn cùng mà đòi cách mệnh những tập tục cổ truyền”, là nguyên nhân dẫn đến các “cuộc xung đột tai hại trong gia đình An Nam”.

Thực ra tôi thuộc phái đồng ý gia đình là căn bản của xã hội, nhưng với góc nhìn của một người sống sau các cụ trăm năm, tôi cho rằng nên đặt ra thêm một câu hỏi nữa, ấy là: “Gia đình là gì?” hoặc “Như thế nào mới có thể được coi gia đình nào đó có góp phần tạo nên căn bản của xã hội?”. Rõ ràng, đó không thể là gia đình giống như gia đình của Loan trong Đoạn tuyệt được – từ nhà đẻ đến nhà chồng. Gia đình được cấu thành từ cá nhân và do đó nên trước tiên ta phải xét đến yếu tố quyền của cá nhân trong việc chọn gia đình cho mình. Và rõ ràng một điều là, trong xã hội cũ không ai được chọn gia đình cho mình cả. Gia đình trong xã hội cũ được chọn theo khá nhiều nguyên tắc và khá nhiều nguyên tắc trong đó có lý do hoàn toàn chính đáng. Ví dụ như lựa chọn người người có cùng nền tảng giáo dục để có cùng một lối tư duy, phương châm sống thì khả năng sống hòa hợp yên ổn nửa đời còn lại với nhau vẫn cao hơn với cái người làm ta bị tác động bởi một cơn dâng trào nội tiết tố nào đó. Cũng bởi chính lý do này mà trường hợp của Loan trong Đoạn tuyệt, khi bị ép gả cho Thân, đã không thể cấu thành nên một gia đình có thể là nền tảng của xã hội mà ta cần gìn giữ. Loan không phải được gả mà gần như bị gán nợ với giá ba nghìn bạc, hơn nữa không phải mua đứt mà là vay – số tiền mà Loan phải bán nhà để trả sau này. Điều đó có nghĩa là gia đình của Loan đã không chọn cho Loan một đối tượng môn đang hộ đối theo kiểu tương đồng về nề nếp gia phong mà chọn đối tượng nào có lợi cho mình nhất, trong khi chính nền tảng giáo dục Loan lại không phải cái nếp được truyền thừa từ gia đình mà đã tách hẳn sang một lối khác – lối sống và tư duy Tây học, bởi thế chọn đối tượng để tạo thành gia đình làm nền tảng cho xã hội theo đúng quan điểm của người xưa thì phải chọn theo kiểu rất riêng. Bởi thế có thể nói, thế lực thực sự làm sai lệch các tập tục cổ truyền ở đây chính là thế lực đang thủ cựu bài tân vì chính họ cũng không hiểu ý nghĩa và giá trị cốt lõi của những tư tưởng có từ ngàn xưa này.

Về phần Loan, Loan cũng đã thử cố gắng thay đổi bản thân để sống một cuộc đời như mẹ cha mong muốn nhưng mọi cố gắng và nỗ lực của nàng đều chỉ dẫn đến thất vọng tràn trề khi Thân – chồng nàng – vốn là một người không đáng được yêu. Thân không có những phẩm chất và lối tư duy hòa hợp được với vợ mình thì chớ, hơn nữa còn không đủ yêu thương và bao dung, nói chính xác ra thì chỉ là một đứa trẻ to xác hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình. Cho nên không thể nói quyển tiểu thuyết này đang cố tình lật đổ các giá trị truyền thống được mà nói một cách chính xác, nó đang chỉ ra các giá trị về tư tưởng mới, mang tính cá nhân hóa đã bắt đầu nhen nhóm ở thế hệ đương thời dẫn đến hậu nhân không kế thừa tư duy của thế hệ trước và chuyện cần suy nghĩ ở đây là tư tưởng mới này nên được đón nhận không và nếu có thì nên được đón nhận như thế nào? Còn về phần giá trị truyền thống khuyến khích tìm một người bạn đời phù hợp về tư tưởng với mình thì… chính xác là nó đã được giữ trọn vẹn trong Đoạn tuyệt bởi lối sống và tư duy của Loan và Dũng mới khớp với nhau.

Sở dĩ một trong những truyền thông văn hóa Á Đông là con cái vâng lời và hiếu kính với cha mẹ không những là vì đề cao hiếu thuận hay cha mẹ vốn là người có nhiều kinh nghiệm hơn thì sẽ giúp con có quá định lý trí và sáng suốt hơn mà nó còn nằm ở chỗ văn hóa Á Đông coi trọng mỗi người phải làm tròn bổn phận của mình. Cha hiền con hiếu – nghĩa là cha phải hiền thì con mới hiếu. Con có bổn phận vâng lời cha mẹ thì cha mẹ cũng phải thực hiện đúng bổn phận để xứng đáng làm cha làm mẹ. Từ đó, câu hỏi đặt ra kế tiếp là thế hệ làm cha làm mẹ trong Đoạn tuyệt đã làm tròn bổn phận và xứng đáng làm cha làm mẹ chưa? Khi yêu cầu cả hai bên đều phải làm tròn bổn phận mà có một bên nhân danh đạo đức để ràng buộc hành vi của bên còn lại mà không thực hiện đúng bổn phận của mình thì giá trị truyền thống vốn đã mục ruỗng rồi. Nói theo cách này thì Đoạn tuyệt không phải đang phá bỏ giá trị truyền thống mà là một lời nhắc nhở giá trị truyền thống cần phải được nhìn nhận lại theo một tư duy mới, cởi mở hơn, đúng đắn hơn và hợp với thời đại hơn.

Riêng Nhất Linh – tác giả của quyển tiểu thuyết này – về sau đã tự chê truyện này của mình viết thiếu chất văn bởi vì khi ấy chỉ muốn viết cái gì vượt xa hơn là một quyển tiểu thuyết hay. Điều này sẽ khá đáng bàn khi so với Bướm Trắng là thứ mà ổng cho là đậm nét tiểu thuyết hơn nhưng ít “tải đạo” hơn. Có thể thấy với tư cách là một nhà văn, Nhất Linh thực sự muốn viết một câu chuyện bằng những câu từ đẹp đẽ, bố cục lớp lang, đặc biệt là chiều sâu tâm lý nhân vật phải được xây dựng sao cho chạm được tới người đọc – một điều mà Nhất Linh đã thử và cố làm trong Bướm Trắng. Để xây dựng nên cái lớp truyền tải tư tưởng này, Nhất Linh đã chia Loan và Dũng – hai nhân vật trung tâm – ra thành hai tuyến riêng, khi Loan gắn liền với gông cùm xiềng xích của chế độ xã hội cũ lên người phụ nữ và tuyến của Loan là tuyến để thức tỉnh người phụ nữ khỏi những lễ giáo hà khắc và phải biết đấu tranh cho tự do cá nhân của mình thì Dũng gắn với những lý tưởng của thanh niên trong xã hội mới, dù đọc xong ta không biết rõ lý tưởng của Dũng là gì nhưng có thể lờ mờ liên tưởng đến các phong trào cách mạng và duy tân thời ấy, bởi thế những khung cảnh và tình tiết liên quan đến Dũng đều là cảnh núi non bao la hùng vĩ hoặc những pha hành động, những chuyến đi kịch tính và ngợp thở, gợi liên tưởng đến hùng tâm tráng chí cao rộng và tinh thần xông pha. Loan có cuộc chiến của Loan, Dũng có cuộc chiến của Dũng. Cuộc chiến của Loan diễn ra trong một gia đình trọng nam khinh nữ với các lễ giáo khắt nghiệt cần phải bị lật đổ còn cuộc chiến của Dũng là đập tan ảo cảnh về đời sống xã hội khốn cùng khi ấy. Dưới con mắt của Dũng, người dân ngày đó đã trải qua một cuộc đời bần cùng nhưng vẫn phải cố duy trì cái sự khổ sở đó của mình bởi bám chấp vào những vùng an toàn “xưa nay vẫn thế”, chẳng khác gì những lễ giáo xưa cũ bao đời nay vẫn được duy trì vì “xưa nay vẫn thế”.

Trích một đoạn về cuộc sống của người dân trong mắt Dũng như sau:

“Ngoài kia, ánh nắng vàng buổi chiều như tiếc ngày cuối cùng của một năm, còn lảng vảng trên các ngọn đồi, chòm cây lướt thướt trên những cánh đồng cỏ màu xanh già. Những thôn xóm rải rác dưới chân đồi hay bên bờ con sông trắng cong queo như bị đè nén dưới vẻ to tát của trời đất rộng rãi. Khói thổi cơm chiều ở một vài nhà gần không có sức lên cao nữa, tỏa ra thành từng đám màu lam ôm lấy các mái nhà tranh.

Tiếng người gọi nhau ở dưới đồng đưa lên khiến Dũng nghĩ đến cái đời của dân quê, cái đời lạnh lẽo, vô vị kéo dài đã máy nghìn năm. Đã mấy nghìn năm, họ sống như bám lấy mảnh đất già cõi, xưa thế nào giờ vẫn thế ấy, vui ít khổ nhiều, bao giờ cũng thảm đạm như buổi chiều đông này, không hề khao khát một cảnh đời sáng sủa hơn, mong ước một ngày mai tốt đẹp hơn ngày hôm nay.

Chiều hôm ấy, Dũng như cảm thấy tâm hồn của đất nước, mà biểu hiện cho đất nước ấy không phải là những bậc vua chúa danh nhân, chính là đám dân hèn không tên không tuổi. Dân là nước. Yêu nước chính là yêu chung đám dân thường, nghĩ đến sự đau khổ của đám thường dân.”

Cuối cùng, xã hội này đúc kết lại trong một câu vỏn vẹn ở gần cuối truyện: Muốn thoát khổ, người ta phải nhận ra mình khổ đã. Phụ nữ cần biết mình khổ mới đấu tranh chống lại nguyên nhân gây ra đau khổ cho mình. Người dân phải biết mình khổ mới vùng lên đòi một cuộc sống mới. Mặc dù thông điệp muốn truyền tải rất hay ho nhưng chính vì phải gánh vác nhiều sứ mệnh như vậy nên có lẽ phần văn chương thực sự đã bị giảm nhiều, ít nhất là chính tác giả khi đọc lại cũng không thấy hài lòng. Văn của Nhất Linh trong Đoạn tuyệt vẫn hay, những đoạn tả cảnh cực kỳ hợp với tâm trạng và tâm cảnh của nhân vật. Sự đìu hiu lạnh lẽo của cảnh vật trong mắt Loan hay sự bao la của thiên nhiên trong mắt Dũng đều được tả rất khớp và làm nổi bật nội tâm của nhân vật. Tuy nhiên như đã nói, tôi hoàn toàn đồng ý với Nhất Linh về “lời thú tội” rằng ổng đã quá tham vọng truyền tải một cái quá lớn lao mà không phải văn học vào Đoạn tuyệt khiến nó không phải là một áng văn hay. Chính xác là vì muốn phê phán chế độ xã hội cũ mà mọi nhân vật và tình tiết, diễn biến đều được phân tách quá rạch ròi ở hai đầu chiến tuyến một cách không được tự nhiên, khiến bố cục câu chuyện hơi cứng. Một số chi tiết có thể nói là khá cực đoan về xã hội cũ. Ví dụ như vứt cả ma chay cỗ bàn, vứt cả việc thờ cúng. Thực ra nghi lễ vốn là để làm cho người sống chứ không phải người chết, người chết rồi thì thôi nhưng người sống vẫn có nhu cầu tưởng nhớ, vẫn có nhu cầu kể lại chuyện của người chết, con cái của người sống có khi vẫn cần được an ủi, việc người họ hàng xin cái lư hương của cha mẹ Loan về thờ thực tế cũng là hành động tưởng nhớ, đó là nhu cầu tinh thần chính đáng, nhưng Loan gạt phăng đi và tác giả mượn lời họ hàng đó bảo đấy là cái nếp văn minh, dù có ý chê trách mỉa mai “thôi cô văn minh tùy cô”, nhưng trong mắt tôi, làm thế thì cực đoan lắm, và không hề văn minh. Không biết Nhất Linh nếu sống đến thời nay có nghĩ khác đi không.

Tiếp đó vì để lên án những nề nếp cũ kĩ và tư duy bài trừ cái mới cực đoan mà phụ nữ trong Đoạn tuyệt ác với nhau thực sự. Hai phe được chia ra rất rõ rệt gồm những cô gái tân thời với tư duy mới, nạn nhân của chế độ cũ và các cô quen cái nếp cũ và bài trừ những dị loại tạo thành một tình huống vừa không cân sức, vừa gây phẫn nộ và một dấu hỏi về việc thực sự phụ nữ ác với nhau tới vậy sao? Đây lại là một điểm trừ về văn chương nữa vì không thể đồng cảm với bất cứ phe nào bởi không nhập tâm được vào tình huống của họ. Cảm giác cứ như thể mọi lời lẽ, ý văn được viết ra chỉ nhằm để chỉ trích và lật đổ chứ không nhầm kết nối tinh thần với người đọc của mình. Bởi thế nên so Lạnh lùng và Đoạn tuyệt thì tôi đánh giá cao văn chương tả tình của Lạnh lùng hơn vì nó tinh tế và khơi gợi đồng cảm ở người đọc khá nhiều khi không cố bám vào những tình tiết chỉ nhằm phục vụ truyền tải thông điệp cứng nhắc như Đoạn tuyệt. Sự cố ép khuôn này còn khiến Loan trở thành một cô gái rất cứng nhắc và không biết cách thích nghi với hoàn cảnh. Đặt trong bối cảnh tạo ra xung đột giữa ý chí cá nhân và xã hội để cổ vũ làm cách mạng, đả cựu nghênh tân thì được, chứ người mà không có năng lực thích nghi thì dễ chết, mà chết rồi thì chả làm gì được cả.

Phần lời tựa được đưa vào quyển này thì, thú thật, với tôi là hơi lỗi thời về mặt quan điểm, nhưng có một điểm có thể đem ra bàn là Đoạn tuyệt còn có giá trị gì trong bối cảnh thời nay? Lời tựa viết năm 1988 thì cho rằng tiểu thuyết này vẫn có ý nghĩa trong việc trở thành động lực cho những cô gái thôn quê trong xã hội cuối thế kỷ 20 tiếp tục đấu tranh vì tầm ảnh hưởng của “phong kiến” ở nơi thôn quê hãy còn mạnh mẽ và chưa được “soi sáng”. Hiển nhiên bây giờ thì không cần thiết nữa rồi, nhưng có một vấn đề được đề cập trong Đoạn tuyệt mà có lẽ đáng được nhắc đến và mang tính thời sự hơn, đó là làm nổi bật câu chuyện: Muốn thoát khổ, người ta phải nhận ra mình khổ đã. Vấn đề này có thể xem là vấn đề mang tính triết học: Nhận ra mình khổ và mong muốn thoát khổ tốt hơn hay là thà rằng không biết mình khổ để thoải mái chấp nhận cái khổ đó thì sống tốt hơn?

Loan nhận ra mình khổ vì gông cùm phong kiến và muốn thoát khổ bằng cách phê phán nó, chống lại nó. Những người mang tư tưởng tân thời không muốn thấy những cảnh đời éo le bất hạnh quanh mình nên chống lại những giá trị lỗi thời xưa cũ. Nhưng đặt một câu hỏi ngược lại như những nhân vật đã quen với cái nếp sống cũ, chấp nhận những ràng buộc vốn dĩ như nó đã là và sống bình thường yên ổn đến hết đời thì có cần ai lên tiếng nói thay họ rằng họ đang rất khổ, họ cần thoát khổ không? Nói ra có mà người ta bảo rằng mình bị điên! Không ai muốn thoát khỏi vòng an toàn của mình cả và đó là điều rất bình thường. Khi người đọc bắt đầu suy nghĩ đến việc nên gai góc ép xã hội chấp nhận những khía cạnh thuộc về cá nhân, bản chất của mình hay nên mài nhẵn cái tôi cái nhân cho vừa với yêu cầu của xã hội và sống bình yên trong cái không gian chật chội không có chỗ vẫy vùng ấy thì đấy chính là thời điểm cách mạng bắt đầu. Nếu số lượng người nghiêng về phía ép xã hội chấp nhận chính ta như một bản thể đủ đông thì cách mạng thay đổi chế độ xã hội chắc chắn diễn ra. Đến đây thì kết cục của Loan như thế nào đã không còn quan trọng nữa. Nhân vật khổ và sống trong cảnh khổ sở thê thảm nhưng người đọc nhờ đó thức tỉnh bản thân để không khổ như thế thì lại là kết đẹp, đẹp cho người đọc và kết đẹp cho xã hội. Tác giả đạt được ý đồ “cách mạng” của mình. Nhiều người đọc sách truyện cứ hòa mình vào nhân vật nên khi nhân vật có kết không đẹp cũng cảm thấy mình sống thế cũng có kết không đẹp đâu, nhưng Đoạn tuyệt có khả năng làm được một điều rằng: Nếu nhân vật có kết không đẹp thì mình phải làm sao đừng đi tới bước đường như thế, khi ấy, tiểu thuyết sẽ như được cho 1 bản nháp trình hiện cho độc giả thấy kết cục một kết cục không tốt đẹp nếu ta không chịu thay đổi, tạo thành động lực để ta sống khác đi. Làm được điều ấy là một sự thành công của tác giả.

Vài lời cuối dành cho biên tập. Sách in sai chính tả nhiều quá, chứng tỏ khâu biên tập không được kĩ lưỡng chỉn chu, nhưng với tư cách là một thanh niên gõ 100 chữ thế nào cũng sai chính tả 1 chữ, tôi cho rằng đây là quả táo nhãn lồng của mình nên chỉ dám lẳng lặng tự sửa trong đầu và than phiền lí nhí ở đây thế thôi, haizzzz.

A Tĩnh viết,

26.07.2026

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x