Tựa: Mùa hè của quỷ thai
Tác giả: Kyogoku Natsuhiko
NXB | Nhà phát hành: NXB Hồng Đức | IPM
Dịch giả: Hồng Ngọc
#muahecuaquythai #kyogokunatsuhiko #ipm #trinhtham
“Xin gửi tới bạn, người đang cầm quyển sách này lời chúc phúc tốt đẹp nhất của hoa hồng và thập tự”.
Đây là câu đầu sách mà tác giả dành tặng cho người đọc chúng ta. Đây cũng là tên của văn phòng thám tử của một trong những nhân vật có vai trò cũng khá to lớn tham gia vào câu chuyện này – Văn phòng thám tử Thập Tự Hoa Hồng. Ở trang sách đó, dịch giả có giải thích về hình ảnh này như sau:
“Là một biểu tượng của một tổ chức ở Châu Âu, thập tự đại diện cho thể xác, hoa hồng đại diện cho tinh thần, kết hợp lại mang nhiều ý nghĩa, trong đó có ý nghĩa tôn vinh linh trí sáng suốt. Lời chúc phúc của tác giả đầu sách, có lẽ là cầu chúc bạn đọc có tâm trí sáng suốt, sáng suốt trong khi đọc sách này, hoặc đọc xong vẫn linh trí sáng suốt.”
Thật là một lời chúc phúc ý nghĩa lắm thay mà cũng có phần ngạo mạn lắm thay. Tôi đã nghĩ thế khi đọc lời giải thích về hoa hồng thập tự và giả thiết của dịch giả, bởi nói thế chả khác nào nói quyển truyện này gây lú cho người đọc à? Tác giả thực sự tự tin vào khả năng gây lú của mình như vậy? Ờm, sau khi đọc xong thì… cảm giác của tôi thế nào thôi không nên nhắc tới, chỉ là khi viết review cho quyển sách này, tôi cũng chúc cho bạn đọc nào đã hoặc sắp cầm quyển này trên tay có một linh trí sáng suốt kể cả trước và sau khi đọc sách!
Nói thế thôi chứ quyển này cũng không gây lú lắm đâu, nó hoàn toàn không hề khó hiểu. Điểm duy nhất có khả năng khiến bạn cảm thấy bản thân mình cần phải giữ linh trí sáng suốt trong suốt quá trình đọc truyện đó chính là sự đan cài quá nhiều kiến giải cá nhân của tác giả về các chủ đề thần bí, tôn giáo, và phương thức hoạt động của bộ não con người, kể cả ý thức và hạ ý thức, mà với kiến thức của khoa học hiện đại, ta cũng chỉ có thể nửa tin nửa ngờ. Có nhiều việc phần lớn khả năng là không giống tác giả nói nhưng ở một khía cạnh khác ta lại không phủ nhận được. Thế là đôi khi ta đâm ra hoang mang, không biết nên phủ định tác giả hay nghi ngờ tác giả hay nghi ngờ chính bản thân mình.
Câu chuyện này được đặt vấn đề bằng một bí ẩn có thể nói là tâm linh huyền bí, về một người phụ nữ mang thai đã hơn hai mươi tháng mà còn chưa lâm bồn và truyền thuyết về dòng họ gia đình kia đã bị nguyền rủa bởi vì nuôi quỷ, nhưng như chính tác giả, mượn lời nhân vật Kyogokudo đã nói,
“trên đời này không có cái gì là kì lạ cả”,
“trên đời này chỉ tồn tại những thứ cần tồn tại, chỉ xảy ra những chuyện nên xảy ra. Con người luôn lý giải sự việc trong một phạm trù thường thức hoặc kinh nghiệm vô cùng hạn hẹp của bản thân, nhưng lại tưởng lầm mình đã thấu tỏ toàn bộ vũ trụ. Vậy nên khi có một sự việc nằm ngoài phạm vi thường thức hay kinh nghiệm đó, người ta bắt đầu tru tréo, xếp vào dạng kì lạ, dạng không tưởng. Kẻ chưa bao giờ suy nghĩ xem mình thật ra là gì, mình đã trải qua những gì thì làm sao có thể thấu suốt mọi chuyện trên đời này.”
Vưng, khi mọi thắc mắc được tháo gỡ ta sẽ thấy đằng sau những thứ thoạt nghe thì thần bí tâm linh chứ thực ra bình thường như cân đường hộp sữa, chẳng có gì ma quái ở đây hết, chỉ có bản thân con người thích thêu dệt nên những thứ ma quái đó mà thôi. Thứ duy nhất có thể cho là không hợp với kiến thức khoa học ngày nay chính là năng lực của anh thám tử Enokizu – một người sau tai nạn khiến thị lực suy giảm thì có khả năng nhìn thấy được ký ức của người khác. Năng lực này đảm bảo không hề khoa học chút nào! Còn lại thì bằng như rất chi là khoa học và thực tế. Với tiền đề được mở đầu rất tâm linh ma mị nên tác giả Kyogoku có dịp phô ra rất nhiều kiến thức thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình, từ thông tin những loài yêu ma quỷ quái trong truyền thuyết của Nhật Bản được ghi chép trong những bản thảo, sách truyện cổ xưa, cho đến kiến thức tôn giảo về Phật giáo, Ấn Giáo lẫn Âm Dương Đạo cùng với kiến giải riêng của tác giả về một số vấn đề trong đó, vậy nên, quyển sách này đã không còn là một quyển trinh thám khám phá và giải mã bí ẩn như bình thường mà biến thành một quyển sách truyền đạt tri thức và chính kiến riêng của tác giả, với nội dung vụ án làm nền. À vâng, tác giả là một Âm Dương Sư đó! Ban đầu tôi mua quyển này cũng vì nghe nhà phát hành giới thiệu tác giả của nó – Kyogoku Natsuhiko là một Âm Dương Sư. Còn gì tuyệt vời hơn nghe người có chuyên môn giải thích về chuyên môn của mình thông qua một hình thức hấp dẫn và dễ tiếp cận hơn như là sách truyện chứ, đây mới là lý do tôi hốt quyển này dù chưa nghe ai nói nội dung hay dở ra sao. Kết quả không hề làm tôi thất vọng.
Nói về bút pháp, tác giả thực sự đã rất thành công trong việc xây dựng không khí truyện đầy ma mị. Đọc quyển này, chưa biết có lụm lặt được gì sâu xa không chứ đầu tiên là lụm được 1 lô 1 lốc tựa sách các thể loại cổ văn đến quái lực loạn thần, nào là Nhàn tản vẽ trăm loại nhạc khí, nào là Họa đồ bách quỷ dạ hành, nào là Kim tích họa đồ tục bách quỷ v.v…. Nội dung phần mở đầu trước khi trình bày vụ án của tác giả còn trình diện khá nhiều tên yêu ma quỷ quái (như Daidarabotchi, cô hoạch điểu, quỷ thai…) đi kèm với mô tả của nó, ngoài mục đích gieo vào đầu người đọc thứ không khí ma mị, bí ẩn, có lẽ còn muốn gây cảm giác tò mò hoặc sợ hãi nữa. Bạn đọc có thực sự có những cảm giác này không thì tôi không chắc, nhưng tôi đã thực sự bị khơi gợi trí tò mò về những thứ này và đặt kỳ vọng vào nhiều thứ hay ho hơn ở phía sau, bởi thế có nhiều chi tiết thực sự khá thừa nếu chỉ quan tâm đến mạch truyện chính nhưng không hề làm tôi cảm thấy khó chịu tẹo nào.
Thực tế, Kyogokudo – người mà tôi đồ rằng là hiện thân của chính tác giả – là một người luôn ưu tiên giải thích mọi bí ẩn một cách lý trí và khoa học, mặc dù gã có thân phận là thần chủ của một ngôi đền thần và cực kỳ am hiểu về tâm linh, tôn giáo. Bởi thế mà nền chuyện mặc dù bí ẩn nhưng lúc nào cũng sẽ được đưa về các kiến giải và thường thức hết sức thực tế. Sự đan cài giữa một thứ có tính tâm linh huyền bí, mang đến cảm giác cái này không phải quái lực loạn thần thì xảy ra thế méo nào được và những lời giải thích khoa học mang đến cảm giác “ồ hóa ra chỉ là lầm lẫn thôi” chính là chìa khóa tạo ra cái cảm giác nửa tin tưởng nửa nghi ngờ, nếu không đủ sáng suốt, tôi đồ rằng rất nhiều lúc bạn đọc sẽ muốn phát điên vì xung đột hệ thống niềm tin lý lẽ, thực – ảo, khoa học – tâm linh tôn giáo. Và mặc dù Kyogokudo luôn đóng vai trò giải thích mọi thứ thực tế nhất có thể thì khi xuất hiện một chi tiết khó hiểu nào đó, tác giả vẫn sẽ đưa vào một thông tin ma quái giúp người đọc liên hệ thứ quái lực loạn thần đó với hiện tượng vừa xảy ra. Và khi ấy, ta lại đứng giữa ranh giới chọn tin vào lý trí giải thích mọi thứ bằng các quy tắc vật lý của thế giới hay đặt cửa vào một niềm tin mà mình không tài nào lý giải nổi. Nó vừa khiến câu chuyện trở nên thú vị và khơi gợi trí tò mò của người đọc, vừa khiến người đọc cảm thấy hoang mang lắm lắm, nên lời chúc bạn luôn giữ được linh trí sáng suốt hoàn toàn không thừa.
Tuy nhiên, như tôi nói bên trên thì câu chuyện đan cài quá nhiều kiến thức và lý giải của bản thân vào truyện chính là có đôi khi những thứ được cài vào đó không hề liên quan đến mạch truyện chính luôn. Đây có thể xem là nhược điểm trí mạng của truyện này. Nếu ai cầm sách và thấy thích thú với kiến giải của tác giả thì sẽ thấy rất phấn khích và hứng thú, như tôi. Còn nếu không thì lắm khi bạn sẽ thấy sách này bị loãng, có những thứ không biết đưa vào để làm gì, vì có liên quan đến vụ án đâu. Ví dụ nhé, tôi khá thích kiến giải của tác giả về vai trò của tâm linh, tôn giáo, ma quái nhằm san bằng sự mâu thuẫn giữa nhận thức về thế giới khách quan bên ngoài và yêu cầu hay khao khát của nội tại bên trong. Để giải thích nguồn gốc và vai trò của cái gọi là “quỷ thai”, tác giả nói thế này:
Quỷ thai, là “một mâu thuẫn vừa gớm ghiếc vừa bế tắc, sinh ra từ sự sai khác giữa bản năng làm mẹ của người và bản năng làm mẹ của động vật. Nói cách khác là cảm giác ghê tởm bẩm sinh.”
Và giải thích thêm về bản năng làm mẹ của động vật bằng ví dụ sau:
“Một con khỉ cái già mang theo hai đứa con, gặp phải bão lớn trượt chân và bị dòng lũ cuốn trôi. Hai con nó, một đứa còn nhỏ chưa biết bơi, một đứa đã lớn biết bơi rồi. Dòng nước chảy xiết, thậm chí khỉ trưởng thành còn có cơ gặp nguy hiểm.”
“Nếu là khỉ mẹ, ông sẽ chọn cứu đứa nào trong hai con của mình?”
“Nhưng sự thật là, khỉ mẹ không chút do dự đi cứu con lớn. Vì lẽ gì? Vì khỉ mẹ không còn khả năng sinh sản. Con nhỏ còn khá lâu mới đến tuổi sinh nở. Để bảo tồn nòi giống thì phương án tối ưu là cứu con lớn. Đây chính là bản năng làm mẹ của động vật. Cho dù liều mạng cứu con nhỏ, cũng không đảm bảo được rằng cả nó và mình sẽ sống sót. Trong khi đó, cứu con lớn thì tỉ lệ sống sót sẽ cao hơn. Tình cảm cá nhân không thể chiến thắng mệnh lệnh của gien di truyền. Mà không, khỉ mẹ vốn dĩ không nhận thức được cái gọi là tình cảm như con người nữa kia. Sinh vật đều thế cả. Nhưng con người thì khác. Bảo tồn nòi giống không còn là mục đích duy nhất của họ. Có thể gọi là văn hóa, lý trí, nhân tính hay gì tùy thích, nhưng nói chung, là kẻ đứng trên vạn vật, loài người đã sáng tạo ra một giá trị quan mới. Nếu phương hướng tương đồng thì không có gì để nói. Nhưng khi các giá trị quan chênh lệch, con người sẽ thấy hoang mang. Thần linh ma quỷ xuất hiện chính là để san bằng sự chênh lệch đó.”
“Ý nghĩa của sinh tồn nằm ở chính hành vi sinh tồn”
Nói một cách khác, bản năng làm mẹ của động vật đề cao việc duy trì nòi giống, miễn là duy trì được nòi giống thì các vấn đề thuộc phạm trù tình cảm khác hoàn toàn có thể bỏ qua. Nhưng thế giới quan của con người thì không thế, nên quỷ thai hình thành, có lẽ nhằm thể hiện sự mất mát đau đớn của người mẹ mất con, nếu hành xử như động vật, người mẹ sẽ thấy ghê tởm chính mình.
Câu chuyện con khỉ này tiếp đó liên kết với truyền thuyết liên quan đến Ha Lê Đế Mẫu (Kishimojin) như sau:
“Kishimojin ban đầu có tên là Ha Lê Đế Mẫu, vợ của một vị thần Ấn Độ. Bà ta còn được gọi là Thanh sắc quỷ, Đại dược xoa nữ… những cái tên mà nghe cũng đủ thấy là ‘ác nữ’. Đáng kinh ngạc là ba ta có đến năm trăm người con, mà ngày nào cũng cất công đi bắt con người khác về ăn, cứ bắt rồi ăn, làm bao nhiêu người mẹ đau thương đứt ruột. Thế là Phật tổ giáng xuống, giấu đi một trong số năm trăm đứa con của bà ta là Tất Lý Dựng Già. Ha Lê Đế Mẫu tìm không thấy con thì vật vã khôn nguôi. Người ngoài nhìn vào sẽ không thấy khác biệt nhiều khi năm trăm giảm xuống còn bốn trăm chín mươi chín, nhưng với người mẹ, mất đi một đứa con thôi cũng xót xa. Ha Lê Đế Mẫu đang đau đớn phát cuồng, Phật tổ lại hiện thân, giáo hóa bà ta rằng năm trăm con chỉ thiếu một người đã thống khổ, hãy tự ngẫm xem tâm trạng của những người chỉ có một con còn bị ngươi ăn mất sẽ ra sao. Ha Lê Đế Mẫu giật mình tỉnh ngộ, cúi đầu quỳ lạy, nguyện ý quy y cửa Phật, trở thành thần bảo hộ gìn giữ Phật Pháp.”
“Thần linh Bà La Môn sang Phật giáo thành trời, thần linh Hindu thành Minh vương. Ha Lê Đế Mẫu là một ví dụ điển hình. […]. Thường thì các vị thần có cả mặt thiện lẫn mặt ác, nhờ có tính nước đôi ấy mà diệt ác nâng thiện là chuyện hết sức đơn giản…”
“Ha Lê Đế Mẫu là thần thiện ngay từ đầu, bà ta được thờ phụng ở rất nhiều nơi nhờ quyền năng bảo hộ sinh nở và giáo dưỡng con cái, và còn mang những tên gọi khác như Thiên mẫu hay Ái tử mẫu. […] Nói cách khác, tính cách của Ha Lê Đế Mẫu, cho dù trước hay sau khi gặp Phật tổ vẫn nhất quán, không hề thay đổi.”
“Theo quan điểm của Phật giáo, tình yêu là chướng ngại của giác ngộ. Phật tổ sẽ không giáo hóa tình yêu đâu. […] Lý thuyết của Phật giáo về cơ bản là phải buông bỏ ‘yêu’. Vì yêu, nói cách khác là ‘chấp niệm’. Buông bỏ tất cả chấp niệm là cách duy nhất để hoàn toàn giải thoát, là con đường đến với Như Lai. Bởi vậy những lời giáo hóa Ha Lê Đế Mẫu có lẽ nên hiểu thành ‘hãy buông bỏ chấp niệm đối với những đứa trẻ’ mới đúng. Nếu buông bỏ tất cả, quy y cửa Phật thì có thể xóa sạch nghiệp chướng, thậm chí có thể giác ngộ, như lời Shinran thì chính là người thiện còn thành Phật được, huống chi kẻ ác.”
“Tức là Phật giáo muốn phủ định nhân tính hả? Nếu thế thì con khỉ ông kể ban nãy gần như đạt đến giác ngộ rồi?”
“Đúng đấy. Vì dã thú không phân vân, chần chừ, nên ở gần con đường giác ngộ hơn. Nhưng dã thú không thể thành Phật, bởi không rũ bỏ được bản chất dã thú. Nếu vẫn nặng lòng với mạng sống thì không thể đắc đạo. Có nghĩa là, không phải Phật giáo muốn phủ định nhân tính, mà muốn vượt trên nhân tính.”
Chính nó! Tôi cực kỳ ấn tượng bốn chữ “vượt trên nhân tính” này. Vượt trên nhân tính, tức là vừa phải có nhân tính chứ không phải chỉ có bản chất dã thú như loài khỉ, vừa vượt ra khỏi cái nhân tính mà mình đã có. Buông bỏ chấp niệm khác với không có chấp niệm ở chỗ, chấp niệm đó từng là thứ ta khư khư giữ mãi trong lòng, khiến ta đau khổ, và cuối cùng ta chọn buông bỏ nó đi, vừa là buông tha người khác cũng vừa là buông tha chính bản thân mình. Khoảnh khắc bừng tỉnh đó, chính là giác ngộ. Và câu chuyện bi kịch của nhân vật hứng chịu lời nguyền quỷ ám trong này không khác với câu chuyện ‘buông bỏ chấp niệm’ này của Ha Lê Đế Mẫu bao nhiêu. Nói cách khác, vào giây phút kết thúc mạng sống của mình, cô đã đạt đến giác ngộ.
“Cô hoạch điểu biến thành quỷ thai.”
Riêng đánh giá và cảm ngộ về cái gọi là giác ngộ này, xin được để lại cho bạn đọc tự mình cảm nhận. Vì xét cho cùng, mỗi người vì những trải nghiệm tích lũy khác nhau mà ắt có cảm nhận và cảm ngộ khác nhau, không ai giống ai cả.
Một quan điểm khác mà tôi rất thích, được trình bày khi Kyogokugo cắt nghĩa về linh hồn theo quan điểm của các tôn giáo khác nhau:
“Quan niệm cơ bản của Phật giáo là đầu thai chuyển kiếp. Cứ hết một kiếp là người ta sẽ vào sáu cõi luân hồi để nhận kiếp mới. Nói cách khác, cho dù không thành Phật thì cũng chẳng ai rảnh rang để lang thang đây đó. Phật giáo ngay từ đầu đã không công nhận sự tồn tại của linh hồn rồi…”
“Kitô giáo thì cho rằng những người chưa làm lễ rửa tội, chết đi đều sẽ phải xuống địa ngục. Những người có đức tin sẽ được triệu lên thiên đàng. Có thiên thần, cũng có ác quỷ để làm đối trọng, duy chỉ không có chỗ cho linh hồn…”
“Tương tự trong Hồi giáo, tín đồ phải tuân theo kinh Qur’an thực hành tư tưởng của thánh A La. Mức độ thành quả sẽ quyết định nơi đến sau khi chết. Thật tình cờ, cả ba tôn giáo thuộc loại lớn nhất thế giới đều không hề chào đón những linh hồn không rõ lai lịch.
“Vì sao thế? Vì tôn giáo tồn tại là cho người sống, không phải cho người chết…”
“Xét một cách nghiêm khắc, việc theo tôn giáo và việc thừa nhận linh hồn tồn tại không thể đi đôi với nhau”
Tôn giáo là dành cho người sống, không phải cho người chết là một ý rất hay. Lý luận của tôn giáo là để thỏa mãn và xoa dịu người sống, chứ người đã chết rồi thì những lý lẽ đó có thực sự ý nghĩa với họ hay không? Như Phật giáo nói về nhân quả luân hồi để giáo hóa tín chúng hành thiện tích đức. Ngay chính giờ phút lâm chung thì nghiệp quả của một người đã theo cùng nghiệp lực của người đó lập tức chuyển sinh sang kiếp khác, đó là dòng chảy xuyên suốt của nhân quả, thứ đi luân hồi không phải là linh hồn mà là nghiệp quả. Tương tự với giáo lý của các tôn giáo khác, hầu như chỉ dùng để điều chỉnh tâm lý và hành vi của người đang sống, hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến người đã chết cả. Nên ở cuối truyện, Kyogokudo đã nói nhân vật chịu lời nguyền kia có “thành Phật hay không phải xem quyết định của người sống”, những người “kế thừa lời nguyền”, “người có liên quan đến cô ấy”.
Những kiến giải chủ quan như thế trong sách còn nhiều, và tôi nhường đó cho bạn đọc tự mình khám phá!
Cốt lõi của nền truyện xảy ra trong quyển sách này là một bi kịch của thế hệ, một niềm tin sai lầm và những hành vi sai lầm được truyền từ đời này qua đời khác, và tạo thành “lời nguyền” của gia tộc. Lời nguyền này không phải thế lực thần thánh ma quỷ nào gây ra cả, chỉ là niềm tin từ đầu đã đặt sai chỗ mà thôi. Cái mà tôi thích nhất trong câu chuyện này, chính là cảm ngộ về thứ gọi là sự thật rành rành trước mắt, người ta không nhìn thấy sự thật đó không phải bởi vì nó quá khó thấy hay quá khó hiểu, mà bởi vì người ta không chịu chấp nhận nó. Thứ này chắc được gọi là tà kiến. Nếu xem nó như một loại bệnh, thì kết cục của nó chính là người bệnh sống cả đời trong vô minh và ngu muội, không bao giờ được giải thoát. Cách mà Kyogokudo dùng để “giải trừ lời nguyền” thực tế là xé đi bức màn che mắt con người khỏi sự thật mà họ không muốn nhìn thấy chứ không có gì là phép thuật hay huyền bí cả. Như vậy ở đây, cái được gọi là lời nguyền thực chất chỉ là một sự thật mà bằng cách thần kỳ nào đó bị người ta phủ quyết, và giải nguyền chính là “rửa mắt” cho ai đó, để họ nhìn thẳng vào sự thật cho dù có đau đớn thế nào.
“Hiện thực mà chúng ta đang nhìn, đang nghe và đang cảm nhận thật ra không phải hiện thực chân chính, mà là thứ não bộ tái hiện dựa trên thông tin đã chọn lọc từ lượng thông tin thu nạp. Vì thế, những bộ phận không được chọn để tái hiện sẽ không đến được với chúng ta”
Đó lại là một lời nguyền khác!
Lời giải đáp cho câu chuyện một cô gái mang thai hai mươi tháng, một người biến mất trong phòng kín suốt gần hai năm không rõ sống chết thế nào và tại sao lời giải đáp đơn giản như vậy mà không ai nhận ra, xin nhường đó lại cho bạn đọc để không phá hỏng cái thú giải mã nghi vấn với các thể loại sách như này. Chìa khóa để giải bài toán này đã được nhắc đến đầu truyện dưới dạng hội thoại giữa “tôi” và Kyogokudo:
“Bản thân việc quan trắc gây ảnh hưởng tới đối tượng.”
“Trước khi tiến hành quan trắc, chỉ có thể nắm được xác suất.”
“Thế giới này, bao gồm cả quá khứ, được sáng tạo ra từ trước thời điểm người quan trắc tiến hành quan trắc”
Còn lại để đọc mới thấy thú vị!
Thứ duy nhất tôi muốn cảm khái đó chính là lời nguyền kia đã đem lại cho gia đình này quá nhiều đau khổ, mà cái đáng hận đáng tiếc hơn là, đáng lẽ ra sẽ không có bi kịch nào nếu nhìn nhận sự việc một cách đúng đắn hơn, hay nói khác đi chính là: chỉ cần tỉnh táo! Nhưng nếu tỉnh táo thì đã không có cái gọi là lời nguyền rồi.
Cuối cùng, một điểm sáng cần phải nhắc đến ở đây là sự cứu rỗi. Nói thật lòng thì tôi không hề ưa nhân vật “tôi” chút xíu nào, vì quá cảm tính, quá bồng bột. Có rất nhiều lần tôi ước gì có thể phi vào trong truyện để hét lên vào mặt nhân vật “tôi” một câu rằng: Ông có chịu bình tĩnh lại không? Hoặc cản “tôi” bớt làm mấy chuyện thiếu lý trí lại. Nhưng cuối cùng, như Kyogokudo đã nói, chính vì những hành động thiếu lý trí đó của “tôi” mà nhân vật hứng chịu lời nguyền tai quái kia mới được cứu rỗi. Cảm giác cuối cùng được truyền từ cô gái đó đến người đọc, chính là sự cứu rỗi, nhẹ tênh, cuối cùng cũng được giải thoát rồi. Nhập tâm vào câu chuyện này, lắm khi cảm thấy nhói lòng, bởi sự bất lực và vô tri của nhân vật, nhưng bởi vì người đọc chúng ta có “góc nhìn thần thánh”, chúng ta được cho nhiều thông tin hơn để đánh giá sự việc và có dự phán riêng của mình. Mà bởi góc nhìn thần thánh này, câu chuyện bi thương xảy ra trước mắt ta mới càng khiến ta thương cảm. Cuối cùng chỉ có thể thốt lên hai từ: “Đáng tiếc!” hoặc bốn từ “Vô cùng thương tiếc!”
– A Tĩnh viết –
06/04/2025
