#luocsutriethoc #triethoc #nigel #warburton
LƯỢC SỬ TRIẾT HỌC
Tác giả: Nigel Warburton
Đơn vị phát hành | NXB: Nhã Nam | NXB Thế giới
Người dịch: Cao Việt
—————–
Chậc, vốn là tôi có nguyên tắc không viết review cho ba thể loại: chính trị, tôn giáo, triết học. Lý do đơn giản là: không muốn bêu xấu. Cơ mà, bạn tôi có người ngó thấy giá sách tôi có quyển này rồi hỏi “đọc hay không?”. Tôi trả lời bạn xong, ngứa tay ngứa miệng nên tiện viết bài này luôn. Mà cũng phải tranh thủ viết xong trong tối nay nữa. Tôi không muốn khai niên bằng một bài viết về sách triết học đâu, sẽ đau não cả năm mất. Vì không đủ trình để bàn luận hay đánh giá, nên bài này thực tế chỉ là sơ lược nội dung vậy thôi.
Hỏi quyển Lược sử triết học này đọc hay không thì khó trả lời lắm. Đối với những quyển thể loại này thì thường người đọc chỉ thấy hay nếu như bắt được ý nào tâm đắc, hoặc dã, đột nhiên được khai sáng, hay biết được thêm cái gì đó hay ho mà họ chưa nghe bao giờ. Bởi vậy cái chuyện hay dở của quyển này vốn phụ thuộc vào kiến thức về triết học của người đọc rộng, hẹp, nông, sâu thế nào mà có nhận định hay, dở khác biệt nhau. Thành thử ra, tôi không (thể) trả lời câu hỏi quyển này “đọc hay không?” mà sẽ trả lời câu khác có vẻ dễ hơn: Đọc quyển này sẽ biết được cái gì? Hay, trong quyển này chứa cái gì?
Lược sử triết học, đúng như tên, là một quyển tóm tắt các quan điểm, hay trường phái triết học từ cổ chí kim. Tuy nhiên, cần phải nói rõ tác giả chỉ tóm lược về các nhà triết học phương Tây nên tuyệt nhiên sẽ không có bất cứ tên của một triết gia phương Đông hoặc học thuyết của triết gia phương Đông nào xuất hiện trong cuốn sách này. Sách tổng cộng có 40 chương, mỗi chương nhắc đến một triết gia (hoặc một nhóm triết gia) và trường phái triết học, hay quan điểm triết học tiêu biểu, nổi tiếng của các triết gia ấy. Mặc dù không hẳn được sắp xếp theo thứ tự thời gian, nhưng một cách tổng quát, có thể chia các chương thành ba nhóm chính: triết học cổ đại, trung-cận đại và hiện đại. Là một quyển sách tóm lược, không dày lắm, nên mỗi một triết gia hay một trường phái triết học thường chỉ được gói ghém trong khoảng 6 – 10 trang sách. Và có thể vì hướng đến đọc giả đại chúng, nên tác giả không hề đi sâu phân tích về bất cứ một trường phái triết học nào mà chỉ chọn ra và trình bày những học thuyết hay lý luận tiêu biểu nhất. Biết đâu nhờ quyển sách này mà bạn tìm được một trường phái triết học phù hợp với quan điểm của mình rồi tiếp tục tự đào sâu tìm hiểu thì sao?
Một câu hỏi trường kỳ thường xuyên đeo bám các triết gia là “bản chất của thực tại” và “con người ta nên sống như thế nào”. Đọc quyển sách này, bạn sẽ thường xuyên nhận được câu trả lời cho hai câu hỏi trên dựa trên lý luận của từng trường phái triết học khác nhau theo từng chương. Nhưng có vẻ như càng về sau, các triết gia càng ít bị thu hút bởi các câu hỏi mang tính chất trừu tượng như hai câu hỏi này. Cách tiếp cận triết học của các triết gia sau này thường là hướng đến một câu hỏi nào đó cụ thể hơn, thực tế hơn. Thậm chí còn có triết gia cho rằng các câu hỏi trừu tượng của các triết gia cổ đại là những câu hỏi “không đâu vào đâu” cả. Một điểm rất hay ở quyển này, theo tôi, là Nigel Warburton đã trình bày các lý luận triết học tưởng chừng cực kỳ khó hiểu theo một cách cực kỳ đơn giản và không thể dễ hiểu hơn bằng thứ ngôn từ và nhiều ví dụ rất giản dị. Có thể bạn không đồng ý với một quan điểm triết học của một triết gia nào đó, nhưng nhất định bạn sẽ hiểu được cốt lõi của trường phái triết học được trình bày trong đó là gì. Thứ đến, phải khen người chuyển ngữ bản tiếng Việt của quyển này đã làm tốt một điều: câu chữ dịch thuật gọn gàng và sáng nghĩa – một yếu tố cực kỳ cần thiết với thể loại sách này.
Cách viết của tác giả đôi khi còn khá là khôi hài, nên thực tế quyển Lược sử triết học này cũng không khó nuốt lắm. Chẳng hạn, để giới thiệu về Socrates, tác giả đã nói thế này:
“Khoảng 2.400 năm trước ở Athens, có một người đàn ông đã phải nhận án tử vì tội đặt ra quá nhiều câu hỏi.”
Hiển nhiên Socrates không bị khép tội chết vì đặt câu hỏi quá nhiều, nhưng việc đặt ra quá nhiều câu hỏi dường như chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến một lượng lớn người đồng tình khép tội chết cho ông.
Hay khi nói về ông tổ của phái Hoài nghi luận (Scepticism) – Pyrrho, ta có những dòng miêu tả hết sức đặc sắc thế này:
“Bạn có thể tưởng rằng bạn biết tất cả mọi thứ […] Nhưng những nhà triết học hoài nghi chắc sẽ không đồng tình với điều đó […] Scorates từng khẳng định điều duy nhất mà ông biết là ông chẳng biết gì cả. Đó cũng là một tâm thế hoài nghi. Ấy vậy mà Pyrrho còn đi xa hơn thế rất nhiều. Và có lẽ rằng, ông đã đi hơi quá xa […]
Hẳn thời gian tại thế của Pyrrho sẽ bị rút ngắn hơn thực tế rất nhiều nếu như ông không có những người bạn tốt bảo vệ. Một nhà triết học hoài nghi cực đoan sẽ luôn cần tới những người ít hoài nghi hơn ở bên cạnh hỗ trợ, nếu không họ phải rất may mắn, mới có thể sống lâu.”
Và để giới thiệu về Charles Darwin, Nigel Warburton đã bắt đầu viết bằng cuộc tranh luận về học thuyết của Darwin giữa Samuel Wilberforce và Thomas Henry Huxley. Trước khi đáp lại câu hỏi châm biếm “Gia đình bên đằng ông hay bên đằng bà của ông có họ hàng với loài khỉ vậy?” của Samuel, Thomas đã lẩm bẩm một câu “Cảm ơn Chúa đã để hắn rơi vào tay con”. Tôi dám khẳng định cho dù Thomas có lầm bầm cái câu đó trong miệng thì cũng chẳng có tên hiếu sự nào đi ghi lại câu đó vào lịch sử và hiển nhiên Nigel không thể biết được Thomas đã lầm bầm cái gì.
Tôi lấy những ví dụ trên chỉ nhằm nói với bạn, tác giả viết quyển này không khô khan lắm đâu, đôi khi ổng còn chêm vào vài nhận định cá nhân hết sức khôi hài mua vui cho đọc giả nữa.
Còn trên quan điểm cá nhân, thứ khiến tôi cảm thấy thú vị về quyển sách này chính là sự giao thoa tư tưởng giữa triết học Đông và Tây. Mặc dù tất cả các triết lý trong quyển sách này đều là của các tác giả phương Tây, nhưng thỉnh thoảng bạn sẽ thấy có nhiều điểm tương đồng với các trường phái triết học phương Đông, đặc biệt là các quan điểm triết học cổ đại.
Chẳng hạn, trường phái hoài nghi luận của Pyrrho cho rằng :
“Chúng ta không thể biết được thế giới thực ra là gì – điều đó nằm ngoài khả năng của chúng ta. Chẳng một ai biết được bản chất tối hậu của thực tại. Những tri thức đó đơn giản nằm ngoài khả năng hiểu biết của con người”.
Điều này khá tương đồng với quan điểm vũ trụ không có bắt đầu, không có kết thúc, là thứ mà trí của con người không thể biết tới, không thể nghĩ bàn của Trang Tử.
Hay quan điểm: “Vì không thể biết chắc một điều gì, ta nên để lửng với mọi đánh giá, suy xét và sống một cuộc đời cởi mở với mọi luồng ý kiến […] Sự bất hạnh bắt nguồn từ việc sở cầu bất đắc.” thì rất gần với khái niệm “vô thường” của Phật giáo và quan điểm của Phật giáo về nỗi khổ của đời người.
Hoặc khi đọc đến quan điểm “Chẳng ích gì khi tha thiết mong ước sở hữu một tòa nhà bề thế nếu như bạn không bao giờ đủ tiền để mua nó” của Epicurus, không biết có làm bạn có liên tưởng đến câu “Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc” của Nguyễn Công Trứ? Còn hiện tượng thức giấc giả “false awakening” mà René Descartes đề cập trong chương 11 không biết có làm bạn liên tưởng đến câu chuyện “Trang Chu mơ thấy mình hóa bướm, tỉnh dậy không biết Trang Chu mơ hóa bướm hay bướm hóa thành Trang Chu.”? Nhìn chung, một vài điểm tương đồng về quan điểm triết học giữa phương Đông và phương Tây là một trong những thứ khiến tôi thấy hứng khởi khi đọc quyển sách này.
Nhưng càng về hiện đại, các triết gia phương Tây càng quan tâm đến những thứ cụ thể hơn rất nhiều so với các câu hỏi siêu hình học. Đến chương thứ 39, câu hỏi triết học trong này đã đi đến một thứ rất gần với cuộc sống hiện đại của chúng ta “Liệu máy tính có thể tư duy được không?” Tôi không có ý kiến gì với quan điểm của Alan Turing và John Searle. Trong chương này, thứ thu hút tôi chính là:
“Nếu tâm trí của bạn quả thật là một chương trình máy tính, thì việc nó vẫn đang hoạt động trong đầu bạn, giữa một đống mô não nhão ướt, không hề đồng nghĩa với việc trong tương lai, nó lại không thể hoạt động trong một cửa hàng máy tính bóng lộn nào đó. Nếu, với sự giúp đỡ của máy tính siêu-thông minh, một lập trình viên nào đó có thể sắp đặt hàng tỷ liên kết chức năng cấu thành nên tâm trí bạn, thì có lẽ một ngày không xa, sự bất tử có thể trở thành hiện thực.”
Có vẻ như có một tập của bộ phim Black Mirror đã được xây dựng dựa trên quan điểm này. Trong tập phim đó, người sắp chết được chuyển hết toàn bộ ký ức (và có thể có phương thức tư duy) vào một hệ thống máy tính. Tâm trí họ, với toàn bộ ký ức của cuộc đời được bảo lưu, họ sẽ “sống” trong không gian ảo được xây dựng giống hệt như cuộc đời thật đó. Điều này có vẻ như, con người có thể bất tử nhờ vào việc lưu trữ và phân tích dữ liệu máy tính khi thể xác sinh học không còn tồn tại được nữa? Đây là một vấn đề rất hay. Lúc xem tập phim này mấy năm về trước, tôi chưa bao giờ cảm thấy như thế là bất tử, nhưng lại mù mờ không rõ tại sao như thế lại không phải là bất tử, cho đến khi đọc quyển sách này và có cơ hội suy nghĩ về nó thêm lần nữa. Trên quan điểm cá nhân, tôi cho rằng con người sở dĩ “sống” là vì luôn luôn biến đổi. Tâm trí và cách tư duy của chúng ta không bao giờ cố định và hoạt động một cách giống hệt nhau trong suốt cuộc đời. Nói nôm na thì, “tôi” trước khi đọc quyển sách này và “tôi” sau khi đọc quyển sách này có thể xem như hai người khác nhau. Tính cách, tình cảm, phương thức tư duy, phương thức đánh giá của mỗi người đều tùy vào trải nghiệm mà thay đổi trong suốt cuộc đời, thậm chí chỉ cần một sự kiện xảy ra trong một giờ, một phút nào đó cũng đủ khả năng làm thay đổi tâm trí của một con người. Vì lẽ đó, tâm trí của con người không thể là toàn bộ ký ức trong cuộc đời và phương thức tư duy của ta ở bất kỳ thời điểm nào cả. Nó sẽ thay đổi, nên chúng ta sống. Còn khi nó không thay đổi, sự sống ắt hẳn không còn nữa.
Sau khi đọc quyển sách này, tôi cảm thấy tương đối thấy thích trường phái Hoài nghi luận của Pyrrho và vài quan điểm của Immanuel Kant. Có lẽ trong tương lai, tôi sẽ tìm hiểu thêm về các quan điểm triết học liên quan đến hai triết gia này.
Cuối cùng, chúc bạn nào cầm trên tay quyển Lược sử triết học cũng sẽ tìm được một, hay một vài quan điểm triết học thú vị nào đó phù hợp với mình rồi tìm hiểu sâu hơn về quan điểm đó. Có lẽ, đây cũng là (một phần) nguyện vọng của Nigel Warbuton khi viết cuốn này cũng nên.
