[REVIEW] – NGỌC LÊ HỒN – TỪ CHẨM Á

By

·

15–22 phút

#review #ngontinh #tinhcam #ngoclehon #duoihoa #tuchama #nhuongtong

NGỌC LÊ HỒN

Tác giả: Từ Chẩm Á

Đơn vị phát hành | NXB: Tao Đàn | NXB Văn học

Người dịch: Nhượng Tống (15 chương đầu), Dương Minh (15 chương cuối)

———————————–

NGÔN TÌNH MỘT TRĂM NĂM TRƯỚC?

Là một cuốn tiểu thuyết tình cảm viết (hay xuất bản?) năm 1912, tức là hơn 100 năm trước rồi, nên có lẽ không có lạ gì khi bây giờ chả có mấy ai đọc nữa. Tìm khắp cõi mạng, ngoài bài mà Nham Hoa viết cho Ngọc Lê Hồn làm lời tựa in hẳn vào sách, một bài trên báo Thanh Niên chỉ tạm gọi là giới thiệu mà Ngọc Lê Hồn chỉ được nhắc tới hết sức sơ sài và một vài bình luận ngắn rải rác, chả có thêm bài nào bình luận Ngọc Lê Hồn một cách đàng hoàng. Mà cho dù tính thêm mấy cái bình luận ngắn và cái bài giới thiệu của báo Thanh Niên thì chắc bài tôi viết đây cũng còn nằm trong 10 bài bình luận duy nhất hiện nay có thể tìm được cho quyển tiểu thuyết này. Hẳn cũng nên thấy vinh dự?

Nguyên nhân tôi đọc Ngọc Lê Hồn cũng chẳng phải vì tò mò tiểu thuyết ngôn tình trăm năm trước ra sao. Ví như bây giờ mà bảo tôi đọc lại Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài hay Hứa Tiên – Bạch Tố Trinh thì thôi, tôi xin kiếu. Cái duyên đưa đẩy tôi đến với Ngọc Lê Hồn, thực ra chính là người dịch của nó – Nhượng Tống. Từ hồi đọc Hội Chân Ký do Nhượng Tống dịch (chỉ khoảng vài nghìn chữ), tôi ưng hết sức ưng cái kiểu dùng từ, nào “hẹn nguyệt chưa tròn, hồn hoa đã dứt”, nào “chút tình thơ ngây, tự cầm không vững”, nào “nghĩa nặng tình sâu”, “giấy vắn tình dài”, “tấc dạ yếu thơ, mong những trọn đời nương tựa” cho đến bài thơ chỉ vỏn vẹn hai chục chữ “Rẻ rúng thôi đành phận / Van lơn nhớ buổi đầu / Xin đem tình ý trước / Thương lấy kẻ về sau.” Văn chương dịch thuật, có cần đẹp đến vậy không? Trong số những người dịch bây giờ, không thiếu người tôi thấy họ dịch hay và dùng chữ đẹp, nhưng đến mức vừa đọc vào đã bị chấn động thì phải tới khi đọc Nhượng Tống, tôi mới kinh qua cảm giác này. Vậy nên tôi sưu tầm hầu hết các bản dịch sách Hán văn của Nhượng Tống mà ngày nay có thể tìm được, và Ngọc Lê Hồn nằm trong số đó. Thực tế, Nhượng Tống dịch Ngọc Lê hồn chỉ mới được một nửa thì đã không thể dịch tiếp, hình như nguyên nhân là… phải đi tù Côn Đảo. Nửa sau do Dương Minh dịch vẫn hay, nhưng có thể là do thiên kiến nên tôi vẫn thấy văn chương không hay bằng nửa đầu của Nhượng Tống.

Trở lại Ngọc Lê Hồn. Tác giả của nó, tức Từ Chẩm Á được tôn xưng thành “tị tổ” của tiểu thuyết ngôn tình thời nay, có riêng cả một “môn phái” với tên gọi Uyên Ương Hồ Điệp (hay còn gọi tắt là phái ‘Uyên hồ’) mà hai bộ tiểu thuyết “Ngọc Lê Hồn” và “Tuyết Hồng Lệ Sử” có thể coi là bảo vật trấn phái (theo lời tựa của Nham Hoa). Về lý do tại sao lại xem Từ Chẩm Á là tị tổ của tiểu thuyết ngôn tình thì tôi không chắc, nhưng có lẽ không ngoài nguyên nhân Từ Chẩm Á là người tiên phong cho trào lưu viết tiểu thuyết xoáy sâu vào yếu tố tình cảm đầm đìa nước mắt, được các nhà văn sau đó học theo. Thời đó thì tiểu thuyết loại này ở Việt Nam ta được gọi là tiểu thuyết diễm tình. Ngay trên Wikipedia tiếng Trung hiện nay vẫn chú thích Ngọc Lê Hồn là tiểu thuyết diễm tình, trong khi Baike thì chú thích loại văn ngôn ‘ai tình’, tức tiểu thuyết bi tình mà ngày nay ta gọi đó là ‘truyện ngược’. Hiển nhiên thì cái “ngược” của Ngọc Lê Hồn làm sao quằn quại, tình tiết làm sao lắt léo bằng tiểu thuyết “ngược tâm, ngược thân” bây giờ. Có điều, ảnh hưởng của tiểu thuyết diễm tình nói chung hay tiểu thuyết của Từ Chẩm Á nói riêng đến người đọc nước ta một trăm năm trước có thể ngờ là khá lớn. Khi người hiện đại chúng ta cầm cuốn Ngọc Lê Hồn trên tay, vừa đọc ta vừa tặc lưỡi “Chuyện có thế này mà cũng khổ thế cơ à?”, “Ơ sao thích tự mua dây buộc mình quá thể?”, “Ơ truyện có thế này mà thế hệ trước mình khóc ngất thật cơ à?”, thì chưa biết chừng thế hệ trăm năm sau cầm mấy cuốn truyện ngược khiến thế hệ ta khóc lên khóc xuống bây giờ đây cũng có cùng một thắc mắc giống như chúng ta đọc Ngọc Lê Hồn vậy. Dẫu sao thì, sự bi đát trong Ngọc Lê Hồn nói riêng và tiểu thuyết Từ Chẩm Á nói chung đã từng ‘vinh dự’ được đổ cho cái tội danh làm hàng loạt phụ nữ thời ấy tự sát, mặc dù ta biết nguyên nhân chắc chắn rằng chả ai tự sát vì tiểu thuyết cả.

Bản thân Ngọc Lê Hồn là một câu chuyện tình có nội dung cực kỳ đơn giản, tình tiết chẳng có mấy. Chẳng có cao trào, chẳng có nút thắt, chẳng có buộc dây gỡ rối chi. Đem nó đi so với những tiểu thuyết có tình tiết phức tạp lắt léo trái ngang thời hiện đại thì nó thua xa lắm. Nhưng người đương thời say mê nó, hẳn là vì họ đồng cảm được cái khổ do hoàn cảnh là một, cái thân bất do kỷ bị trói buộc trong vòng lễ giáo của nhân vật sao thật giống với mình là hai, và ba là: văn chương rất đẹp. Câu chuyện kể về một thư sinh tên Mộng Hà vốn dòng anh tuấn, giỏi tài văn chương, nhân duyên đưa đẩy thế nào mà lại gặp một cô gái đương tuổi xuân xanh nhưng tiếc thay là gái góa. Hai người mến tài nhau mà kết thành tri kỷ, về sau tình cảm càng lúc càng nồng mà chẳng thể đến được với nhau cũng bởi cách ngăn hai từ : tiết hạnh. Mà thực ra không nhờ lời bình của Nhượng Tống thì tôi không biết luân lý Á Đông hoàn toàn không nghiêm cấm gái góa lấy chồng, nên thứ thực sự ngăn cản Mộng Hà và Lê Ảnh đến với nhau là miệng đời, là cái danh hão ‘tiết hạnh khả phong’. Thứ tiết hạnh đó như cái khóa vàng, tròng lên cổ người phụ nữ phong kiến, dẫn đến biết bao câu chuyện thương tâm. Cách đơn giản nhất để giải thoát là tháo cái khóa đó ra. Tiếc thay khóa đó là khóa vàng, nên người ta thà ngậm ngùi đau đớn chứ dứt khoát không chịu tháo. Cái khổ của Lê nương, hóa ra là bởi việc vừa muốn giữ tròn cái danh hão ‘tòng nhất chi chung’ vừa muốn được ấm nồng hương lửa.

Thú thật là, tôi không cảm nổi cái tình của hai nhân vật chính. Nó giống như bạn nghe tin có hai người vì ngày nào cũng ‘chat messenger’ với nhau mà đem lòng yêu nhau, sau vì không còn nhắn messenger được với nhau mà ngậm ngùi kẻ chết trước, người chết sau vậy đó. Nói thế là bởi vì, tình cảm Mộng Hà dành cho Lê Ảnh nảy sinh thì có vẻ thơ mộng đẹp đẽ nhưng phát triển lại khó hiểu vô cùng với người hiện đại chúng ta. Mộng Hà này vốn là giống đa tình, thấy hoa lê rụng tả tơi trong vườn mà cũng sinh tâm đau xót, đang thầm nghĩ chẳng biết có ai cùng một bụng yêu hoa với mình không thì ngay đêm đó gặp được Lê Ảnh đứng trước nơi anh ta chôn hoa mà khóc thương hoa. Thấy nàng cũng cùng một giống phong lưu như mình, đồng bệnh tương lân, ắt người tri kỷ. Từ đó là sinh lòng ái mộ. Mộng Hà dạy học cho con của Lê Ảnh là Bằng Lang, thế là hai người thư từ qua lại thông qua đứa con Bằng Lang này. Tất cả những tình cảm mặn nồng đôi bên dành cho nhau thế nào đều được viết cả trong mấy lá thư. Nhưng tình cảm nồng nàn chỉ vì mấy lá thư tình thế này thì, khó cảm, khó cảm quá! Về sau, Lê Ảnh vì không muốn Mộng Hà giữ lời thề cô độc cả đời mà ép duyên em chồng mình là Quân Thiến cho Mộng Hà, lại vì áy náy xấu hổ mà đau buồn thành bệnh rồi chết. Quân Thiến vốn không yêu Mộng Hà, Mộng Hà cũng không yêu Quân Thiến, thế mà vì cái toan tính cốt để mình được yên lòng của Lê Ảnh mà hại cả một khách qua đường vô duyên là Quân Thiến – sau khi biết Lê Ảnh chết vì mình thì cũng đau buồn mà chết theo.

Nhượng Tống bảo sở dĩ ổng dịch truyện này vì trên đời lắm kẻ vừa đáng giận vừa đáng thương như Mộng Hà – Lê Ảnh vậy. Riêng tôi thì thấy, với góc nhìn người hiện đại thì đôi này đáng giận chứ chẳng đáng thương. Cái đáng giận nhất truyện này hẳn là thứ danh hão như gông xiềng tròng lên cổ người phụ nữ, khiến cuộc đời cả ba nhân vật đều dở dang và cuối cùng đều ôm sầu mà chết. Nếu Từ Chẩm Á muốn mượn việc này để lên tiếng bài xích và kêu gọi tháo gỡ thứ gông xiềng này thì phải nói là cực kỳ thích hợp với thời đại đó, và ta cũng không bất ngờ khi câu truyện lấy được biết bao nước mắt của chị em phụ nữ thời ấy như vậy. Có điều, thứ gông xiềng này đến thời đại chúng ta thì nó đã bị tháo gỡ sạch sẽ rồi. Thành thử ra, cái đáng giận nhất, cái lấy được nhiều nước mắt nhất này lại không đánh động tâm lý của người đọc thời nay được nữa. Thứ đến phải nói, tôi càng giận cái sự ích kỷ của Lê Ảnh và Mộng Hà không những tự làm khổ mình mà còn làm khổ luôn Quân Thiến. Ai đời giữa danh giá và tình yêu lại muốn vẹn cả đôi đường? Ai đời vì để báo đáp tình lang, để mình đỡ ăn năn mà ép duyên em chồng? Ai đời chị Lê cho rằng Mộng Hà là trang thanh niên tài tuấn thế gian khó gặp, chị ưng thì thế nào em Thiến cũng sẽ ưng? Chị chết phần chị do lụy tình, còn em Thiến tự nhiên cũng vì cái lụy tình này của chị mà chết. Thứ này hẳn là thứ người ta gọi là “vẽ hổ không thành lại thành ra vẽ chó”.

Chính truyện thì chỉ có thế, nhưng thứ bên lề bộ tiểu thuyết này mới là thứ hay ho thú vị hơn gấp chục lần. Các nghiên cứu sau này về Từ Chẩm Á đã chỉ ra một việc, đó là nguyên mẫu của nhân vật Mộng Hà và Lê Ảnh trong Ngọc Lê Hồn thực ra chính là bản thân Từ Chẩm Á và Bội Phân. Câu chuyện Ngọc Lê Hồn thực ra chính là phóng tác dựa trên câu chuyện tình có thật của tác giả. Ở đó, Bội Phân chính là Lê Ảnh ngoài đời thực, và sự thật là Bội Phân cũng đã gả em chồng mình là Thái Nhị Châu cho Từ Chẩm Á như Lê Ảnh ép duyên Quân Thiến cho Mộng Hà. Ở trong truyện, Mộng Hà và Lê Ảnh chỉ nảy sinh tình cảm chứ chưa bao giờ dám vượt vòng lễ nghĩa. Vậy nhưng thư từ trao đổi giữa Từ Chẩm Á và Bội Phân được phát hiện sau này, có thể đoán chừng quan hệ giữa hai người này thân mật hơn nhiều so với những gì được Từ Chẩm Á gán cho Mộng Hà và Lê Ảnh. Thế mới thấy Nhượng Tống có con mắt tinh tường thế nào khi nhận xét đoạn tả phòng của Lê Nương tỉ mỉ thế, hẳn là đã hỏi han cặn kẽ chứ không thể nghe ngóng sơ sài (Mà có lẽ đôi bên để cửa lén lút thăm nhau hẳn luôn). Và cái chuyện trai gái yêu nhau thì dứt khoát không thể nào chỉ qua “tinh thần luyến ái”, nghe thì có vẻ cao thượng chứ thực ra chỉ là lý thuyết (Thực tế có lẽ đôi bên cũng đã má tựa vai kề). Khi viết thành truyện, Từ Chẩm Á đã khẳng định Mộng Hà và Lê Ảnh chẳng dám nắm tay nhau, âu cũng là vừa giữ thanh danh cho Bội Phân, vừa biết rằng không thể cổ súy những thứ vượt vòng lễ giáo. Thêm nữa, Từ Chẩm Á cũng nhiều lần trách mắng Mộng Hà trong truyện đã làm khổ đời Quân Thiến, Quân Thiến bạc mệnh, Mộng Hà và Lê Ảnh có lỗi với nàng. Xem ra chính bản thân Từ Chẩm Á cũng biết ổng rất có lỗi với vợ ổng. Một điểm khác mà tôi khá tò mò là Quân Thiến trong truyện thì biết mối tình giữa Mộng Hà và Lê Ảnh, nhưng không biết Thái Nhị Châu có biết mình bị chị dâu gán duyên cho chồng vì cái tư tình bí mật của hai người này không; và số phận thực sự của Bội Phân và Nhị Châu ngoài đời thực thế nào. Thứ này không thấy tài liệu nào chép.

Cuối cùng, điểm sáng nhất quyển tiểu thuyết này, chính là văn chương.

Ngọc Lê Hồn được viết chủ yếu theo lối biền văn, sử dụng thể văn tứ lục và xen vào đó rất nhiều thi từ. Văn tứ lục, theo lời bình của Nhượng Tống, thì là loại nào niêm, nào luật, điển tích nhiều, tình thái ít, dễ sa vào tình huống “chặt chân cho vừa giày”. Cơ mà thể văn này lại gần như là đặc trưng của phái Uyên Hồ. Nó đẹp, đẹp não nùng về câu chữ và tính đối xứng câu, mà người dịch thể loại này nhất định phải là những tay dịch rất khá. Dịch tiểu thuyết phái Uyên Hồ có vẻ khá là có tính kích thích với người dịch, một kiểu thử thách để họ thử bút lực và thỏa mãn với công trình con chữ của mình. Có vẻ chính Nhượng Tống cũng không thích thể văn này lắm, nhưng bản dịch của ông vẫn giữ nguyên cái thể văn tứ lục này của bản gốc, hơn nữa dùng câu chọn chữ phải nói cực hay. Chẳng lâu trước đây tôi từng đọc được một bình luận thế này: “Có vài thứ văn chương, kể dong dài thì đúng là dong dài, nói nội dung chẳng có mấy thì quả thật chẳng có mấy, nhưng được viết theo một kiểu mà khiến người đọc cứ muốn đọc hết từng câu từng chữ không bỏ sót chữ nào.” Có lẽ chính là trường hợp văn chương của Từ Chẩm Á qua văn chuyển ngữ của Nhượng Tống. Truyện vỏn vẹn chỉ có 10 vạn chữ nhưng dù đọc một mạch, tôi cũng đọc mất mấy ngày, vì cứ phải đọc thong thả để mà thả hồn vào cái đẹp trong từng con chữ ấy.

Xin trích ra đây hai đoạn ví dụ làm bằng.

Đoạn này là đoạn tả cảnh hoa lê đương tàn ở đầu truyện:

“Ngoài song một gốc hoa lê, trong cảnh trăng tàn gió sớm, thướt tha như một cô tiên áo trắng mới chợt tỉnh giấc vàng, mà dì gió vô tình, không dưng đã sấn vào đòi mạng… Gió đưa hoa rụng tơi bời, ủ ê mặt ngọc ngắn dài hàng châu. Quanh thềm tuyết trải trắng phau; non Bồng cung Quảng chung màu điểm trang.”

Đoạn này là một phần trích trong bức thư đầu tiên Mộng Hà gửi cho Lê Ảnh:

“Nhìn mặt trong gương thêm thẹn, ngày còn không sao chẳng gặp nhau; thấy trăng trước cửa mà buồn, duyên đã lỡ khôn đường kéo lại. Đá mòn sông cạn, bao giờ sạch nợ phong trần; đêm vắng ngày dài, luống những đau lòng luân lạc. Hoa rơi im tiếng, lần khắp cành không; trăng sáng có lòng, soi vào cảnh mộng. Non bồng gang tấc, còn chưa giáp mặt hoa đào, con tạo cơ cầu, nào chắc nối duyên hương lửa.”

Tuy nhiên, cần nói vì đây là bản dịch năm 1928 (15 chương đầu), nên có một số phiên âm và dùng từ khác với thời nay. Ví dụ, hồi ấy người ta phiên “dong quang” thay vì “dung quang”, “bạc mạnh” thay vì “bạc mệnh”, và hai chữ “dan díu” ngày xưa được dùng với nghĩa trai gái yêu đương chứ không mang nghĩa tiêu cực như cách dùng hiện nay. Điều này thì phải cảm ơn phía Tao Đàn đã chú thích thêm, chứ không thì người đọc bây giờ sẽ thấy hơi khó hiểu.

Trong truyện có rất nhiều thơ lấy từ chính thư từ thực tế giữa Từ Chẩm Á và Bội Phân. Những bài thơ này đều được dịch rất hay. Cái hay này là ở chỗ vần, điệu, niêm luật đều đúng cả, dịch giả chọn từ cũng không thể chê vào đâu. Có thể vơ tạm vài câu thơ tôi khá ưng như:

“Tình dan díu, lệ đầy vơi!

Nỗi nọ đường kia rối rối bời!

Lạnh ngắt trăng soi hồn mộng tỉnh

Buồn tênh nước chảy cánh hoa rơi.”

Hay

“Ngắm lại Thanh lăng thân bướm lẻ

Một xuân nào đậu mấy cành hoa”.

Nói là vơ tạm, vì những câu thi vị như thế có rất nhiều. Đáng tiếc ở chỗ từ dùng hay thôi chứ ý, cảnh, tình thì tôi chẳng ưng được bài nào cả.

Trên mạng có một trang đánh giá trên thang điểm, tôi thấy có người đánh giá truyện này “văn phong/ngôn ngữ” 5/5, “ứng dụng thực tiễn” 3/5. Nhân đây muốn mạo muội xen vào một câu, thực ra ứng dụng thực tiễn có thể 5/5 đấy, nếu xem ứng dụng của truyện này là để mở rộng vốn từ và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt.

P/s:

  • Văn tài của Nhượng Tống tới bực nào, trình tôi không dám vọng ngôn. Nhưng nghe nói nếu như thích văn chương của ai hoặc đọc ai thấy hợp, có thể không phải vì nó cực hay, mà vì tính cách người viết cực hợp với mình. Có lẽ thế. Qua mấy đầu sách, tôi phát hiện ra giữa tôi và ổng có một điểm tương đồng. Đó là: thích vừa dịch vừa bình (vả chăng khác nhau chỗ, Nhượng Tống bình nghiêm túc còn tôi thì thích xàm ngôn). Ví dụ như trong Nam Hoa Kinh, Nhượng Tống dịch xong lời bình của Lâm Tây Trọng thì cũng tự bàn thêm tí chút. Trong Ngọc Lê Hồn thì gặp chỗ nào muốn bình, ổng cũng bình luôn ở dạng chú thích. Không biết báo chí thời ấy thế nào, chứ trở về được thời ấy, chắc tôi kiến nghị báo đó chừa hẳn một khoảng không gian riêng dành cho lời bình, vì ổng bình nhiều lắm. [Mà nhớ lại thì đôi khi tôi cũng có tật bình luôn trên bản dịch chứ không hoàn toàn tách nó xuống comment =)))))]
  • Nhân nhắc Nam Hoa Kinh, nói thật luôn là bản Nhượng Tống dịch khó hiểu lắm. Nếu tậu Nam Hoa Kinh về để đọc hiểu thì nên mua bản dịch của Nguyễn Hiến Lê hoặc Nguyễn Duy Cần. Tôi mua bản của Nhượng Tống một chỉ là để sưu tầm, hai chỉ là để xem bình luận của ổng.

0
Các hạ muốn nói gì thì click đây!x